Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN LÊ CHÂN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Bản án số: 61/2025/HS-ST

Ngày 16-4-2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Hậu

Các Hội thẩm nhân dân:

  • Bà Hà Thị Nga
  • Bà Phạm Thị Thanh Hiên.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thanh Thư - Thư ký Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Bùi Tuấn Ngọc - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 51/2025/TLST-HS ngày 20 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 236/2025/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 4 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Vũ Tuấn P, sinh ngày 12 tháng 9 năm 1987 tại Hải Phòng; nơi ĐKTT: Số C Đ, phường Đ (nay là phường H), quận L, Hải Phòng; nơi sinh sống: Thôn A, xã A, huyện A, Hải Phòng (nay là TDP A, phường A, quận A, Hải Phòng); nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Trọng L và bà Nguyễn Thị B; có vợ là Nguyễn Thị Thùy N và 04 con; tiền án: Bản án số 05 ngày 14/01/2014, Tòa án nhân dân quận Lê Chân xử phạt 15 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, bị cáo chưa thi hành bồi thường, chưa được xóa án tích; Bản án số 70 ngày 27/4/2017, Tòa án nhân dân quận Lê Chân xử phạt 09 năm tù về tội Cướp tài sản, ra tù ngày 27/01/2024, bị cáo chưa nộp lại số tiền phạm tội mà có, chưa được xóa án tích; tiền sự: Không; nhân thân: Bản án phúc thẩm hình sự số 148 ngày 27/11/2006, Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xử phạt 09 tháng tù về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (đã xóa án tích); bị bắt tạm giữ từ ngày 13/10/2024, tạm giam ngày 16/10/2024; có mặt.

2. Đào Công P1, sinh ngày 01 tháng 3 năm 1982 tại Hải Phòng; nơi ĐKTT: Số C L, phường L (phường L), quận N, Hải Phòng; nơi sinh sống: Thôn A, xã A, huyện A, Hải Phòng (nay là TDP A, phường A, quận A, Hải Phòng); nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đào Công L1 (đã chết) và bà Chung Ngọc Q; có vợ là Lê Thị M và 01 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Bản án số 29 ngày 18/12/2012, Toà án nhân dân quận Đồ Sơn xử phạt 39 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý (đã xoá án tích); bị bắt tạm giam ngày 27/12/2024; có mặt.

- Bị hại: Anh Cao Văn T, sinh năm 1996; nơi cư trú: Thôn I, xã N, huyện T (nay là phường P, thành phố T), thành phố Hải Phòng; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • + Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1985; nơi cư trú: Xã A, huyện T (nay là phường A, thành phố T), thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
  • + Ông Đào Văn P2, sinh năm 1969; nơi cư trú: Số B Chùa H, phường H (nay là phường T), quận L, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
  • + Anh Bùi Duy T1, sinh năm 1989; nơi cư trú: Số E Đ, quận N, Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do không có tiền ăn tiêu nên Vũ Tuấn P nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của những người rao bán tài sản trên mạng Internet. Khoảng 09 giờ 00 phút ngày 10/10/2024, qua ứng dụng Facebook, P đặt mua 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme C11 màu xanh với giá 700.000 đồng của anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1985; nơi thường trú: xã A, huyện T, Hải Phòng. Anh H thuê anh Cao Văn T, sinh năm 1996; nơi thường trú: thôn I, xã N, T, Hải Phòng (là người giao hàng) điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 15AF-215.28 mang điện thoại đi giao cho P và nhận tiền của P.

Vào khoảng 10 giờ 00 phút cùng ngày, P đã nhờ Đào Công P1 mặc áo khoác, đội mũ bảo hiểm của hãng A1 để giả làm xe ôm điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Nouvo LX (P thuê của một người không rõ lai lịch và không nhớ biển kiểm soát) chở P đến ngã tư C thuộc phường A, quận A, Hải Phòng để gặp anh T nhận điện thoại. P1 biết P nhờ mình như vậy là để giúp P giả làm xe ôm nhằm chiếm đoạt tài sản của người giao hàng và đã nhận lời, mặc dù ban đầu chưa biết cụ thể là sẽ chiếm đoạt tài sản gì. Khi gặp anh T tại ngã tư C, phường A, P giới thiệu P1 là người lái xe ôm, P là người mua điện thoại. Anh T đưa điện thoại R cho P kiểm tra.

Để anh T tin tưởng giao điện thoại, P đưa một điện thoại di động vỡ màn hình cho P1 cầm rồi giả vờ mượn xe mô tô Yamaha Nouvo LX và bảo P1 cùng với anh T đứng chờ P đi rút tiền. Khoảng 11 giờ 00 phút, P hẹn anh T đến cầu A rồi đến cầu vượt D, quận L, Hải Phòng để trả tiền mua điện thoại.

Đến khoảng 11 giờ 40 phút cùng ngày, anh T và P1 đang đợi P ở chân cầu vượt D (phía đường Q) thì P quay lại bảo anh T và P1 đi qua cầu vượt Dân Lập cùng P rút tiền. P điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Novo LX qua cầu trước (phía đường D) dừng xe đứng đợi tại chân cầu còn anh T và P1 đẩy xe của anh T. Khi anh T và P1 đẩy xe đến giữa cầu, P chạy bộ lên nói “làm gì mà cứ loay hoay mãi cái xe không đi xuống được”, P1 nghe P nói vậy liền đưa điện thoại của P đưa lúc trước cho P và đi xuống chân cầu ngồi lên xe mô tô nhãn hiệu Novo LX chờ. Anh T điều khiển xe mô tô của mình xuống dốc khoảng 1,5 mét thì xe đổ, P đi bộ đến đỡ anh T dậy và bảo để P điều khiển xe xuống dốc, anh T không nói gì. P điều khiển xe của anh T xuống chân cầu, ngoái đầu lại thấy anh T vẫn đang đi bộ xuống liền tăng ga phóng xe bỏ chạy về hướng đường D. Thấy P đã lấy được xe của anh T và nghe anh T hô “cướp...”, P1 cũng điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Novo LX bỏ chạy.

Sau khi chiếm đoạt được tài sản của anh T, P cầm cố chiếc điện thoại nhãn hiệu Realme C11 cho ông Đào Văn P2, sinh năm 1969; trú quán: số 20 Chùa H, quận L, Hải Phòng lấy 500.000 đồng. Cầm cố chiếc xe mô tô của anh T cho Bùi Duy T1, sinh năm 1989; trú quán: E Đ, quận N, Hải Phòng lấy 5.700.000 đồng. Số tiền trên, P cho P2 300.000 đồng, còn lại ăn tiêu hết.

Ngày 13/10/2024, Vũ Tuấn P bị bắt theo Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L, P đã giao nộp 01 mũ bảo hiểm màu cam, 01 áo khoác màu cam có chữ Ahamove. Ngày 27/12/2024, Đào Công P1 bị bắt theo Lệnh bắt bị can để tạm giam của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L.

Ngày 13 và 15/10/2024, Bùi Duy T1 và ông Đào Văn P2 đã giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra vật chứng của vụ án là chiếc điện thoại nhãn hiệu Realme C11 và xe mô tô biển kiểm soát 15FA-215.28.

Kết luận định giá tài sản số 108/KL-HĐĐGTS ngày 13/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận L kết luận: Giá trị của chiếc điện thoại nhãn hiệu Realme C11 là 600.000 đồng.

Kết luận định giá tài sản số 110/KL-HĐĐGTS ngày 21/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận L kết luận: Giá trị của chiếc xe mô tô mang biển kiểm soát 15AF-215.28 là 15.000.000.

Tại Cơ quan điều tra Vũ Tuấn P và Đào Công P1 khai nhận hành vi thực hiện như nêu trên. Ngoài ra Đào Công P1 khai nhận: Khi được P nhờ mặc áo khoác, đội mũ bảo hiểm của hãng A, P1 hiểu ý của P là để P1 đóng giả làm xe ôm cùng P đi chiếm đoạt tài sản, cụ thể tài sản gì thì chưa xác định. Trường hợp chẳng may bị phát hiện thì P1 sẽ nhận làm xe ôm để không bị liên quan đến hành vi phạm tội của P.

Về xử lý vật chứng: Chuyển Chi cục Thi hành án dân sự quận L 01 áo khoác và 01 mũ bảo hiểm có logo Ahamove.

Đối với xe mô tô biển kiểm soát 15AF-215.28 và chiếc điện thoại nhãn hiệu Realme C11 màu xanh, Cơ quan Cảnh sát điều tra trả lại cho anh Cao Văn T.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Cao Văn T đã nhận lại tài sản là 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Realme C11 và không yêu cầu bồi thường gì thêm. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn H đã nhận lại 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Realme C11 do anh T bàn giao lại và không có yêu cầu gì khác; anh Bùi Duy T1 tự nguyện bàn giao trả lại 01 xe mô tô biển kiểm soát 15AF-215.28 và không yêu cầu, đề nghị gì về dân sự; ông Đào Văn P2 yêu cầu bị cáo P phải trả lại 500.000 đồng là tiền cầm cố chiếc điện thoại mà bị cáo đã nhận.

Đối với ông Đào Văn P2 và anh Bùi Duy T1 khi cầm cố tài sản cho Vũ Tuấn P không biết đây là tài sản do phạm tội mà có, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L không xử lý.

Tại Bản Cáo trạng số 55/CT-VKSLC ngày 20/3/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng đã truy tố bị cáo Vũ Tuấn P về tội Cướp giật tài sản, theo quy định tại điểm i khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự; bị cáo Đào Công P1 về tội Cướp giật tài sản, theo quy định tại khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Các bị cáo Vũ Tuấn P, Đào Công P1 đã khai nhận hành vi Cướp giật tài sản như nêu trên, phù hợp với nội dung bản cáo trạng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Ngoài ra bị cáo P1 khai thêm: Lúc xuống cầu đợi P, thấy P dắt xe cho anh T và ngồi lên xe đi bị cáo hiểu là P có ý định chiếm đoạt chiếc xe máy của anh T. Khi P tăng ga phóng xe bỏ chạy, bị cáo sợ bị mọi người phát hiện bắt giữ lên phóng xe đuổi theo P để tẩu thoát. Số tiền 300.000 đồng P đưa cho bị cáo là do bị cáo cùng đi chiếm đoạt tài sản với P.

Bị hại anh Cao Văn T đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo; anh đã nhận lại tài sản là 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Realme C11, 01chiếc xe mô tô mang biển kiểm soát 15AF-215.28 và anh không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn H, ông Đào Văn P2, anh Bùi Duy T1 vắng mặt tại phiên toà đã có lời khai trong hồ sơ thể hiện nội dung như nêu trên.

Kiểm sát viên tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 (đối với bị cáo P2), điểm i khoản 2 (đối với bị cáo P) Điều 171 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58; Bộ luật Hình sự xử phạt:

Xử phạt bị cáo Vũ Tuấn P mức án từ 04 đến 05 năm tù về tội Cướp giật tài sản. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 13/10/2024.

Xử phạt bị cáo Đào Công P1 mức án từ 02 đến 03 năm tù về tội Cướp giật tài sản. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27/12/2024

Các bị cáo không có thu nhập, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị tịch thu tiêu huỷ 01 mũ bảo hiểm và 01 áo khoác có logo Ahamove là công cụ phương tiện phạm tội.

Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên toà bị cáo P và P1 thoả thuận bị cáo P chịu trách nhiệm bồi thường trả ông Đào Văn P2 500.000 đồng. Căn cứ Điều 30 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 584, Điều 585 Bộ luật Dân sự, buộc bị cáo P phải trả ông Đào Văn P2 số tiền 500.000 đồng.

Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm, dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo đồng ý với bản luận tội của kiểm sát viên và không tranh luận gì. Bị cáo nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:

[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- Về sự vắng mặt của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

[2] Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên toà nhưng đã có đầy đủ lời khai trong hồ sơ, vì vậy việc vắng mặt không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Căn cứ quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử giải quyết vụ án vắng mặt những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án.

- Về căn cứ xác định tội danh và điều luật áp dụng đối với bị cáo:

[3] Lời khai của các bị cáo Vũ Tuấn P, Đào Công P1 tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại giai đoạn điều tra, lời khai của bị hại, Kết luận định giá tài sản và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, khẳng định: Khoảng 11 giờ 40 phút ngày 10/10/2024 tại khu vực chân cầu vượt D, quận L, Hải Phòng, bị cáo Vũ Tuấn P và Đào Công P1 cùng thống nhất ý chí thực hiện hành vi tiếp cận tài sản là chiếc điện thoại di động trị giá 600.000 đồng do anh Cao Văn T được giao quản lý và chiếc xe mô tô biển kiểm soát: 15AF-215.28 trị giá 15.000.000 đồng của anh Cao Văn T, sau đó nhanh chóng tẩu thoát để chiếm đoạt những tài sản trên. Tổng trị giá tài sản các bị cáo chiếm đoạt là 15.600.000 đồng.

[4] Như vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Các bị cáo Vũ Tuấn P, Đào Công P1 đồng phạm tội "Cướp giật tài sản" theo quy định tại Điều 17; Điều 171 Bộ luật Hình sự.

[5] Về yếu tố định khung hình phạt: Đối với bị cáo Vũ Tuấn P do nhân thân có 02 tiền án chưa được xoá án tích: Bản án số 05 ngày 14/01/2014, Tòa án nhân dân quận Lê Chân xử phạt 15 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, chưa được xóa án tích; Bản án số 70 ngày 27/4/2017, Tòa án nhân dân quận Lê Chân xử phạt 09 năm tù về tội Cướp tài sản, tại bản án này đã xác định bị cáo tái phạm và đến nay chưa được xoá án tích. Vì vậy lần phạm tội này bị cáo phải chịu tình tiết định khung hình phạt "tái phạm nguy hiểm" quy định tại điểm i khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự. Đối với bị cáo Đào Công P1 đồng phạm với bị cáo Vũ Tuấn P trong việc thực hiện hành vi Cướp giật tài sản, với tổng giá trị chiếm đoạt là 15.600.000 đồng nên chỉ phải chịu tình tiết định khung hình phạt quy định tại khoản khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự.

[6] Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là đúng theo quy định của pháp luật.

- Xét tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và nhân thân của các bị cáo:

[7] Hành vi phạm tội của của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, xâm phạm đến trật tự quản hành chính của nhà nước, gây mất trật tự an toàn xã hội. Bị cáo P có 03 tiền án về tội Chiếm đoạt tài sản, trong đó 02 tiền án chưa xóa là yếu tố định khung hình phạt, 01 tiền án đã xóa án tích. Bị cáo P1 có 01 tiền án đã xoá về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Như vậy cần đánh giá cả hai bị cáo đều có nhân thân xấu, là người coi thường pháp luật.

- Xét vai trò phạm tội của các bị cáo:

[8] Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, trong vụ án bị cáo P là người khởi xướng thực hiện hành vi cướp giật tài sản, là người thực hành tích cực, trực tiếp chiếm đoạt tài sản của bị hại và hưởng lợi chủ yếu đối với tài sản chiếm đoạt được 5.900.000 đồng do đó bị cáo P có vai trò chính trong đồng phạm. Bị cáo P1 là người giúp sức, không trực tiếp chiếm đoạt tài sản mà chỉ tiếp nhận ý chí từ bị cáo P1 về mục đích chiếm đoạt tài sản, phối hợp với bị cáo P1 để tiếp cận và chiếm đoạt tài sản, hưởng lợi số tiền 300.000 đồng từ tài sản chiếm đoạt ít hơn bị cáo P, do đó vai trò của bị cáo P1 là thấp hơn bị cáo P.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

[9] Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[10] Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị hại xin nhẹ hình phạt cho cả hai bị cáo vì vậy các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

- Về quyết định hình phạt:

[11] Căn cứ vào tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, vài trò phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử nhận thấy cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù theo quy định tại Điều 38 Bộ luật Hình sự mới đủ tác dụng giáo dục, răn đe các bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung. Đối với bị cáo P ngoài yếu tố định khung hình phạt, cần ấn định mức hình phạt cao hơn bị cáo P1 do bị cáo có vai trò phạm tội cao hơn bị cáo P1. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt cũng xem xét giảm nhẹ cho các bị cáo một phần do các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

- Về hình phạt bổ sung:

[12] Các bị cáo không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

- Về xử lý vật chứng:

[13] Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu huỷ 01 áo khoác và 01 mũ bảo hiểm có logo Ahamove do đây là công cụ phương tiện phạm tội.

- Về trách nhiệm dân sự:

[14] Đối với bị hại anh Cao Văn T, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn H đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì thêm; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Bùi Duy T1 không yêu cầu Toà án giải quyết về trách nhiệm dân sư của bị cáo nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[15] Đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Đào Văn P2 yêu cầu Phong phải trả lại 500.000 đồng là tiền bị cáo đã cầm cố chiếc điện thoại. Xét ông P2 khi nhận cầm cố chiếc điện thoại không biết đây là tài sản do phạm tội mà, ôg P2 đã bàn giao trả lại chiếc điện thoại. Trong vụ án, bị cáo P và P2 đồng phạm tội nên hai bị cáo phải có trách nhiệm liên đới với việc bồi thường thiệt hại. Tuy nhiên, tại phiên toà hai bị cáo thoả thuận bị cáo P có trách nhiệm trả ông P2 500.000 đồng. Vì vậy căn cứ Điều 30 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 584, Điều 585 Bộ luật Dân sự, buộc bị cáo P phải trả lại ông P2 số tiền 500.000 đồng là tiền cầm cố chiếc điện thoại.

- Về án phí:

[16] Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

- Về quyền kháng cáo:

[17] Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 (đối với bị cáo P2), điểm i khoản 2 (đối với bị cáo P) Điều 171 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự:

Tuyên bố: Các bị cáo Vũ Tuấn P, Đào Công P1 phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Xử phạt:

Bị cáo Vũ Tuấn P 04 (bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 13/10/2024.

Bị cáo Đào Công P1 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hành hình phạt tù tính từ ngày 27/12/2024.

- Về xử lý vật chứng:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sư; căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu huỷ 01 áo khoác và 01 mũ bảo hiểm có logo Ahamove (theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/3/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H và Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân).

- Về trách nhiệm dân sự:

Căn cứ Điều 30 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 584, Điều 585 Bộ luật Dân sự: Buộc bị cáo Vũ Tuấn P phải trả lại ông Đào Công P1 số tiền 500.000 (năm trăm nghìn) đồng.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày người có đơn yêu cầu thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi đối với số tiền chưa thanh toán theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, các bị cáo Vũ Tuấn P và Đào Công P1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo Vũ Tuấn P phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo đối với bản án:

Các bị cáo Vũ Tuấn P, Đào Công P1 được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Bị hại Cao Văn T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Nguyễn Văn H, anh Bùi Duy T1, ông Đào Văn P2 được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các bị cáo;
  • - Bị hại:
  • - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan;
  • - VKSND thành phố Hải Phòng;
  • - VKSND quận Lê Chân;
  • - Chi cục THADS quận Lê Chân;
  • - Trại tạm giam Công an TP Hải Phòng;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự;
  • - Phòng PC06, PC10 Công an TP Hải Phòng;
  • - UBND phường An Đồng, quận An Dương;
  • - Công an phường An Đồng, quận An Dương;
  • - TAND TP Hải Phòng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Hậu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 61/2025/HS-ST ngày 16/04/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về hình sự sơ thẩm về tội cướp giật tài sản

  • Số bản án: 61/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Cướp giật tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vũ Tuấn Phong - Đào Công Phúc - Cướp giật tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger