TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN THÀNH TỈNH BẮC NINH Bản án số: 61/2025/HS-ST Ngày: 16/4/2025 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN THÀNH, TỈNH BẮC NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Tuấn Anh
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1.Ông Nguyễn Đình Quế;
- 2.Bà Nguyễn Thị Kim Dung
Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Thập - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Thuận Thành;
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Trần Danh Tuấn - Kiểm sát viên
Ngày 16 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tuyến từ điểm cầu Trung tâm là Tòa án nhân dân thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh kết nối với điểm cầu thành phần tại Trại tạm giam – Công an tỉnh B vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 70/2025/HSST ngày 18 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 65/2025/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:
Mai Xuân H, sinh năm 1994;
Nơi cư trú: Thôn B, xã H, huyện L, tỉnh Tuyên Quang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mai Tất H1, sinh năm 1971 và Ma Thị C, sinh năm 1971; vợ: Ma Thị H2, sinh năm 2000; con: có 01 sinh năm 2021. Tiền án, tiền sự: không
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/12/2024 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. Có mặt tại phiên toà tại điểm cầu T tạm giam Công an tỉnh B.
* Người bào chữa cho bị cáo: Ông Hoàng Nhật H3 – Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh B. Có mặt
Địa chỉ: Số H đường P, phường S, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh.
* Người tham gia tố tụng khác: Cán bộ phụ trách tin học Toà án nhân dân thị xã Thuận Thành và Cán bộ Công an Trại tạm giam Công an tỉnh B.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 12 giờ ngày 18/12/2024, tại khu vực đường xuống cánh đồng Dưa thuộc địa phận khu phố N, phường G, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh, Tổ công tác Công an phường G phối hợp với Công an thị xã T, tỉnh Bắc Ninh kiểm tra, bắt quả tang Mai Xuân H có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ tại túi áo khoác ngoài bên trái bị cáo đang mặc 01 (một) túi nilon màu trắng, bên trong túi có chứa chất tinh thể màu trắng. H khai nhận đây là ma túy đá vừa mới mua được của một thanh niên không quen biết với giá 500.000 đồng để sử dụng. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong vật chứng theo quy định. Sau đó bàn giao Mai Xuân H cùng vật chứng cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T để giải quyết theo thẩm quyền.
Ngày 18/12/2024, Cơ quan CSĐT Công an thị xã T ra Quyết định trưng cầu giám định số 2079/QĐ-CSĐT trưng cầu Phòng K Công an tỉnh B giám định chất tinh thể màu trắng trong 01 (một) túi nilon màu trắng thu giữ được của Mai Xuân H.
Tại Kết luận giám định số 80/KL-KTHS ngày 18/12/2024 của Phòng K, Công an tỉnh B kết luận: Chất tinh thể màu trắng bên trong 01 (một) túi nilon màu trắng gửi giám định có khối lượng là 0,4030 gam; là ma túy; loại ma túy: Methamphetamine.
Với nội dung trên, Cáo trạng số 41/CTr-VKS-TT ngày 18/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh đã truy tố Mai Xuân H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Mai Xuân H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và khai nhận:
Bị cáo sử dụng ma túy từ đầu tháng 12/2024 đến nay, hiện đang tạm trú tại thị trấn Q, huyện M, thành phố Hà Nội. Sáng ngày 18/12/2024, thông qua mạng xã hội bị cáo đã hỏi mua ma túy đá của một thanh niên không rõ tên tuổi, địa chỉ ở đâu với số tiền 500.000 đồng. Thanh niên đó hẹn bị cáo đến khu vực trước cổng Trung tâm y tế thị xã T, tỉnh Bắc Ninh để bán ma túy cho bị cáo. Bị cáo thuê xe đi từ nơi tạm trú đến trước cổng Trung tâm y tế thị xã T, tỉnh Bắc Ninh thì gặp nam thanh niên bán ma túy, nam thanh niên bảo bị cáo đi vào khu vực đường xuống cánh đồng Dưa thuộc địa phận khu phố N, phường G, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh để giao ma túy. Bị cáo đi theo thanh niên đó vào khu vực đường trên được một đoạn thì bị cáo đưa cho nam thanh niên số tiền 500.000 đồng, nam thanh niên cầm tiền rồi đưa cho bị cáo 01 (một) túi nilon màu trắng, bên trong túi có chứa chất tinh thể màu trắng. Bị cáo cầm ma túy cất vào túi áo khoác bên ngoài phía trước bên trái đang mặc còn thanh niên đó bỏ đi đâu thì bị cáo không rõ. Khi bị cáo chuẩn bị đi về thì bị tổ công tác Công an phường G, thị xã T kiểm tra, phát hiện bắt quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng như đã nêu trên. Bị cáo thừa nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu quan điểm luận tội, giữ nguyên nội dung bản Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo. Căn cứ vào hành vi phạm tội tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi; căn cứ vào nhân thân người phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Mai Xuân H phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Mai Xuân H từ 15 tháng tù đến 21 tháng tù. Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì thư đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định có dấu đỏ niêm phong của Phòng K Công an tỉnh B;
- Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016 UBTVQH14, Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Trong phần tranh luận, Người bào chữa cho bị cáo trình bày quan điểm nhất trí với tội danh Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo như thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo là người dân tộc thiểu số nhận thức pháp luật hạn chế, sống vùng kinh tế khó khăn, vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo hưởng mức hình phạt từ 12 tháng tù đến 15 tháng tù; miễn áp dụng hình phạt bổ sung và miễn án phí cho bị cáo.
Sau khi nghe luận tội của đại diện Viện kiểm sát viên, luận cứ bào chữa của người bào chữa, bị cáo không có ý kiến tranh luận, đối đáp.
Kiểm sát viên không tham gia đối đáp, tranh luận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Trong quá trình điều tra, truy tố Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng nên các quyết định, hành vi của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
- Xem xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử thấy lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà hôm nay hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai của những người chứng kiến và vật chứng đã được thu giữ cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thấy có đủ cơ sở kết luận:
Vào khoảng 12 giờ ngày 18/12/2024, tại khu vực đường xuống cánh đồng Dưa thuộc địa phận khu phố N, phường G, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh, Mai Xuân H đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,4030 gam ma túy Methamphetamine, mục đích để sử dụng cho bản thân. Do đó, bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị xét xử bị cáo theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là hoàn toàn có căn cứ cần được chấp nhận.
- Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất gây nghiện của Nhà nước, xâm phạm đến tình hình trật tự trị an tại địa phương đồng thời là nguyên nhân làm gia tăng tệ nạn nghiện hút và các loại tội phạm khác gây dư luận bất bình trong quần chúng nhân dân. Do vậy cần phải xử lý nghiêm bị cáo bằng luật hình sự nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
- Xem xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo Hội đồng xét xử thấy bị cáo
- V nhân thân: Bị cáo không có tiền án, tiền sự.
- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân. Ngoài ra, bị cáo từng có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự, ủng hộ Quỹ đền ơn đáp nghĩa vì người nghèo của xã H, huyện L, tỉnh Tuyên Quang nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự.
Căn cứ tính chất, hành vi phạm tội và nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.
- Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là đối tượng lao động tự do, công việc bấp bênh và không có thu nhập ổn định vì vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Về vật chứng vụ án: Đối với số ma túy còn lại sau giám định được niêm phong trong 01 phong bì thư có dấu đỏ của phòng K Công an tỉnh B cần tịch thu tiêu huỷ;
- Về án phí: Xét thấy, bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng kinh tế khó khăn vì vậy căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016 của UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm án phí, lệ phí Toà án thì bị cáo thuộc trường hợp được miễn án phí vì vậy Hội đồng xét xử nhận thấy đề nghị của Kiểm sát viên và Người bào chữa có căn cứ nên cần chấp nhận miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
* Liên quan trong vụ án:
Đối với nam thanh niên bán ma túy cho bị cáo, do bị cáo không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể của nam thanh niên này. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T không có đủ căn cứ để xác minh làm rõ, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau là phù hợp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Mai Xuân H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự;
Xử phạt: M (Mười lăm) tháng tù.
Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 18/12/2024.
Căn cứ Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự; Quyết định tạm giam bị cáo Mai Xuân H 45 ngày kể từ ngày tuyên án (16/4/2025) để đảm bảo việc thi hành án.
- Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu huỷ số ma tuý còn lại sau giám định được đựng trong 01 phong bì thư dán kín, có dấu đỏ niêm phong của phòng K - Công an tỉnh B;
(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 10/4/2025 giữa Công an tỉnh B với Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Thuận Thành).
- Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự;Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14.
Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Tuấn Anh |
Bản án số 61/2025/HS-ST ngày 16/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN THÀNH, TỈNH BẮC NINH về hình sự sơ thẩm (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 61/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN THÀNH, TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Mai Xuân H Tàng trữ trái phép chất ma tuý
