Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CÁI NƯỚC

TỈNH CÀ MAU

Bản án số: 81/2025/HNGĐ-ST

Ngày 16 - 4 - 2025

“V/v tranh chấp ly hôn”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Thái Hoàng Đắc

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Mầm

Ông Nguyễn Quốc Trung

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Thanh Vũ – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cái Nước.

Ngày 16 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 133/2025/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 3 năm 2025 về tranh chấp ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 72/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 4 năm 2025 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Ông Hồ Văn T, sinh năm: 1972; Địa chỉ cư trú: Ấp C, xã P, huyện C, tỉnh Cà Mau (xin vắng mặt).
  • - Bị đơn: Bà Nguyễn Hồng T1, sinh năm: 1974; Địa chỉ cư trú: Ấp C, xã P, huyện C, tỉnh Cà Mau (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Ông Hồ Văn T trình bày tại đơn khởi kiện và Đơn yêu cầu xét xử vắng mặt ngày 02/4/2025 như sau:

Về hôn nhân: Năm 2004, ông với bà T1 chung sống với nhau 2004 đến năm 2008 ông bà mới đăng ký kết hôn tại UBND xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cãi. Bà T1 hay chửi mắn ông và gia đình ông thậm tệ. Ông và bà T1 đã ly thân hơn 02 năm nay. Ông yêu cầu ly hôn với bà T1.

Về con chung: Có 02 người con chung là Hồ Nhật H, sinh ngày 20/5/2004 (đã trưởng thành) và Hồ Thị Nhật B, sinh ngày 24/12/2008, đang sống với bà. Khi ly hôn, ông đồng ý giao cháu B cho bà T1 nuôi dưỡng, ông không đồng ý dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

Ông yêu cầu Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt.

Bị đơn bà Nguyễn Hồng T1 trình bày:

Về hôn nhân: Bà với ông Hồ Văn T chung sống với nhau 2004 đến năm 2008 ông bà mới đăng ký kết hôn tại UBND xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau. Nguyên nhân mâu thuẫn do ông T có quan hệ bất chính với người phụ nữ khác. Từ đó vợ chồng thường xuyên cự cãi, chửi xúc phạm nhau. Bà và ông T1 vẫn chung sống một nhà, không có ly thân như ông T trình bày. Ông T yêu cầu ly hôn, bà không đồng ý.

Về con chung: Có 02 người con chung là Hồ Nhật H, sinh ngày 20/5/2004 (đã trưởng thành) và Hồ Thị Nhật B, sinh ngày 24/12/2008, đang sống với bà. Khi ly hôn, bà yêu cầu nuôi cháu B, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn ông Hồ Văn T có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Căn cứ vào Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn.

[2] Về hôn nhân: Năm 2004 ông Hồ Văn T và bà Nguyễn Hồng T1 tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên hôn nhân giữa ông bà được pháp luật công nhận là hợp pháp và được bảo vệ. Xét nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng theo ông T trình bày do vợ chồng bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cãi. Bà T1 hay chửi mắn ông và gia đình ông thậm tệ. Ông và bà T1 đã ly thân hơn 02 năm nay. Ông yêu cầu ly hôn với bà T1. Bà T1 xác định nguyên nhân ly hôn do ông T1 có quan hệ bất chính với người phụ nữ khác (kèm theo tin nhắn giữa ông T với người phụ nữ khác). Từ đó vợ chồng thường xuyên cự cãi, chửi xúc phạm nhau. Bà không có lỗi nên không đồng ý ly hôn với ông T. Tại phiên tòa, bà Hồ Thị L là em ruột của ông Hồ Văn T cũng xác định ông T có quan hệ bất chính với người phụ nữ khác là có thực tế. Mặc dù bà T1 không đồng ý ly hôn nhưng ông T cương quyết ly hôn. Xét thấy tình trạng hôn nhân giữa ông T và bà T1 không thể hàn gắn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào Điều 51, 56 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của ông T được ly hôn với bà T1.

[3] Về con chung: Ông T và bà T1 có 02 người con chung là Hồ Nhật H, sinh ngày 20/5/2004 (đã trưởng thành) và Hồ Thị Nhật B, sinh ngày 24/12/2008, đang sống với bà T1. Khi ly hôn, ông T và bà T1 thỏa thuận giao cháu B cho bà T1 nuôi là phù hợp với nguyện vọng của cháu B, phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình. Ông T không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

[4] Về cấp dưỡng nuôi con, theo quy định tại khoản 2 Điều 82 của Luật hôn nhân và gia đình thì cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Tuy nhiên, bà T1 không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[5] Về tài sản chung: Ông T xác định không có nhưng bà T1 xác định vợ chồng có khoảng 10 công đất và 01 căn nhà vợ chồng hiện nay đang ở nuôi con. Tuy nhiên, bà tự thỏa thuận với ông T, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về án phí: Ông T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 143, 147, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa ông Hồ Văn T và bà Nguyễn Hồng T1.
  2. Về con chung: Giao con chung Hồ Thị Nhật B, sinh ngày 24/12/2008 cho bà Nguyễn Hồng T1 trực tiếp nuôi dưỡng, không đặt ra trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con. Ông T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Riêng cháu Hồ Nhật H, sinh ngày 20/5/2004 đã trưởng thành.
  3. Về tài sản chung: Bà T1 xác định tự thỏa thuận với ông T, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
  4. Về nợ chung: Ông T và bà T1 xác định không có.
  5. Về án phí: Ông T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Ngày 10/5/2025 ông T đã nộp tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu số 0019275 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau được chuyển thu đối trừ.

Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

“Trường hợp bản án được thi hành theo quy đinh tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (được sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Nơi nhận:

  • - Phòng KT-NV và THA
  • TAND tỉnh Cà Mau (Gửi email);
  • - VKSND huyện Cái Nước;
  • - Chi cục THADS huyện Cái Nước;
  • - UBND xã Khánh Bình Tây Bắc,
  • huyện Trần Văn Thời;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Thái Hoàng Đắc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 81/2025/HNGĐ-ST ngày 16/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC TỈNH CÀ MAU về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 81/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Năm 2004, ông Hồ Văn T với bà Nguyễn Hồng T chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Khánh Bình Tây Bắc, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cãi. Bà T hay chửi mắn ông và gia đình ông thậm tệ. Ông T và bà T đã ly thân hơn 02 năm nay. Ông T yêu cầu ly hôn với bà T.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger