Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẮC GIANG

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 61/2025/HS-ST

Ngày 01-4-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hải Yến;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Bảng - Cán bộ hưu trí; Bà Nguyễn Thị Biên - Cán bộ hưu trí.

Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Thanh Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dương Quỳnh - Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 75/2025/TLST-HS ngày 07 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2025/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo: Họ và tên:

Bùi Thế A, sinh năm 1983; Nơi thường trú: Thôn C, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình; Nơi ở hiện nay: Ki ốt số 12A4 chợ C2, tổ A, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Bố: Bùi Văn M, sinh năm 1960; Mẹ: Đào Thị T, sinh năm 1959; Gia đình có 3 chị em, bị cáo là thứ 2; Vợ: Thân Thị T1, sinh năm 1989; Có 02 con, lớn sinh năm 2016, nhỏ sinh năm 2020; Giới tính: Nam; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ từ ngày 25/12/2024 đến ngày 31/12/2024 được thay thế bằng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại. (Có mặt).

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Phan Thị N, sinh năm 1961 (Vắng mặt);
    Nơi thường trú: số nhà B, đường M, phường M, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
  2. Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1987 (Vắng mặt);
    Nơi thường trú: số nhà A, ngõ A, đường L, phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
  3. Ông Nguyễn Khắc T2, sinh năm 1965 (Vắng mặt);
    Nơi thường trú: Ngách H, ngõ D Đ, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
  1. Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1987 (Vắng mặt);
    Nơi thường trú: số nhà B đường L, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
  2. Ông Nguyễn Văn C1, sinh năm 1988 (Vắng mặt).
    Nơi thường trú: số nhà A, ngách A, ngõ D, đường L, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bùi Thế A, sinh năm 1983, trú tại Ki ốt số 12A4 chợ C2, tổ A, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang bán vé xổ số tại vỉa hè đường N, phường N, thành phố B. Ngoài bán xổ số, Thế A còn bán số lô, số đề trái phép và tự thanh toán thắng thua với người chơi. Hình thức đánh bạc và cách thức tính số tiền trúng thưởng căn cứ vào kết quả xổ số miền B được mở thưởng hàng ngày, cụ thể như sau:

  • Dạng đề đặc biệt và nhất to: So sánh tương ứng với 02 số cuối giải đặc biệt, giải nhất; nếu trúng thưởng được trả gấp 70 lần số tiền đặt cược.
  • Dạng đề hai cửa: So sánh với 02 số cuối của tất cả các giải; nếu trúng thưởng được trả gấp 70 lần số tiền đặt cược.
  • Dạng lô thường: So sánh với 02 số cuối của tất cả các giải; nếu trúng thưởng được trả 80.000 đồng/1 điểm đặt cược (01 điểm lô là 22.500 đồng).
  • Dạng lô xiên: So sánh với 02 số cuối của tất cả các giải; nếu trúng lô xiên 2, xiên 3, xiên 4 được trả tương ứng gấp 10 lần, 40 lần, 100 lần số tiền đặt cược.
  • Dạng đề 3 càng: So sánh với 03 số cuối giải đặc biệt; nếu trúng thưởng được trả gấp 400 lần số tiền đặt cược.

Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 25/12/2024, Thế A ngồi bán vé xổ số tại vỉa hè trước cửa số nhà C đường N, phường N, thành phố B. Ngoài bán vé xổ số, Thế A còn bán số lô, số đề cho khách để hưởng lợi. Thế A viết các số lô, số đề bán cho khách ra 01 tờ giấy nhỏ đưa cho khách rồi tổng hợp vào 01 tờ cáp đề tổng để theo dõi thanh toán thắng thua.

Khoảng 16 giờ cùng ngày, Phan Thị N, sinh năm 1961, trú tại số nhà B đường M, phường M, thành phố B và Nguyễn Văn C, sinh năm 1987, trú tại số nhà A, ngõ A, đường L, phường D, thành phố B đến mua các số lô, số đề. Thế Anh ghi các số lô, số đề ra tờ giấy nhỏ rồi đưa cho cho N và C giữ. Trong đó:

+ N mua các số lô 85, 48 mỗi số 20 điểm; số lô 44 là 15 điểm; số 22, 16, 58 mỗi số 10 điểm; số lô xiên ba (85, 97, 59) là 50.000 đồng; các số hai cửa: 48, 84, 14, 41, 01, 10, 16, 61 mỗi số 20.000 đồng. Tổng lượng tiền ghi trên cáp đề là 2.218.500 đồng.

+ C mua các số lô 67, 75, 95, 13, 31 mỗi số 20 điểm; các số đề nhất to: 00, 01, 02, 03, 04, 05, 06, 07, 08, 09 mỗi số 20.000 đồng; các số đề đặc biệt: 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39 mỗi số 20.000 đồng; số lô xiên 3 (95, 75, 13) là 100.000 đồng. Tổng lượng tiền ghi trên cáp là 2.800.000 đồng.

Hồi 17 giờ 10 phút cùng ngày, N và C đi đến khu vực tổ dân phố Đ, phường T, thành phố B thì bị Công an thành phố B kiểm soát. N và C mỗi người giao nộp 01 tờ cáp đề do Bùi Thế A bán vào ngày 25/12/2024.

Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, Thế A đi đến khu vực trước cửa số nhà A đường T, phường N, thành phố B thì bị tổ công tác của Công an thành phố B kiểm tra, thu giữ vật chứng liên quan đến hành vi mua bán số lô, số đề gồm:

  • Số tiền 12.500.000 đồng;
  • 02 bút mực nước màu xanh; 01 túi sách màu đen;
  • 01 tờ bảng kê xổ số lô tô trên có ghi các chữ số tự nhiên (cáp đề);
  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus;
  • 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream biển số 98C1-070.17.

Tại Cơ quan điều tra, Bùi Thế A đầu thú và khai ghi các số lô, số đề cho khách ngày 25/12/2024 trong đó có Phan Thị N, Nguyễn Văn C và những người không quen biết.

Cơ quan điều tra khám xét khẩn cấp nơi ở của Bùi Thế A tại Ki ốt 12A4, chợ C2, tổ A, phường N, thành phố B thu giữ 01 xe ô tô nhãn hiệu MG biển số 17A-252.57 đã qua sử dụng.

Căn cứ kết quả tổng hợp các số lô, số đề mà Bùi Thế A ghi trong tờ cáp đề tổng xác định lượng tiền đánh bạc ngày 25/12/2024 như sau:

  • Bán các số lô, số đề cho Phan Thị N với số tiền là 2.218.500 đồng.
  • Bán các số lô, số đề cho Nguyễn Văn C với số tiền là 2.800.000 đồng.
  • Bán các số lô, số đề cho người không quen biết gồm:
    • Số đề giải nhất to: 00, 01, 02, 03, 04, 05, 06, 07, 08, 09, 86, 66, 18 mỗi số 20.000 đồng; 06 là 10.000 đồng; 96, 86, 06, 03, 79, 26 mỗi số 12.000 đồng; 96, 56, 26, 06 mỗi số 15.000 đồng.
    • Số đề hai cửa (nhất to và đặc biệt) gồm: 68, 86, 64, 69 với mỗi số là 10.000 đồng; 48, 84, 14, 41, 01, 10, 61, 16, 38, 83, 86, 66, 58, 85, 57, 75, 12, 21, 71 mỗi số 20.000 đồng; số 27 là 100.000 đồng.
    • Số đề ở giải đặc biệt gồm: 19, 91, 23, 28, 24, 21, 12, 42, 48, 27, mỗi số 12.000 đồng; 89 là 6.000 đồng; 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 56, 57, 58, 59, 04, 01, 09, 27, mỗi số 20.000 đồng; 02, 07, 34, 89, 36, 06, mỗi số 10.000 đồng; 43, 70, 63, 20, 98, 35, mỗi số 5.000 đồng: 50, 51, 52, 52, 53, 54, 55, 56, 57, 58, 59, 05, 15, 25, 35, 45, 55, 65, 75, 85, 95, 40, 41, 42, 43, 44, 45, 46, 37, 48, 49, 80, 81, 82, 83, 84, 85, 86, 87, 88, 89, mỗi số 10.000 đồng; 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, mỗi số 6.000 đồng; 18 là 100.000 đồng; 06 là 200.000 đồng.
    • Các số lô: 45, 64, mỗi số 03 điểm; 67, 75, 95, 13, 31, 85, 48 mỗi số 20 điểm; 44, 22, 16, 58, 16, 89, 72, 85, 65 mỗi số 10 điểm; 44, 36, 89, 64, 03 mỗi số 05 điểm; số 27 là 100 điểm. Tổng số là 361 điểm lô (trong đó có 100 điểm bán cho C giá 23.000 đồng/1 điểm) tương ứng 8.172.500 đồng.

+ Số lô xiên ba và xiên bốn bán cho khách gồm các cặp số (97, 18, 89) là 10.000 đồng; (95, 75, 13) là 100.000 đồng; (85, 97, 59) là 50.000 đồng; (27, 56, 18, 01) là 10.000 đồng; (18, 56, 27, 69) là 50.000 đồng.

Tổng lượng tiền Bùi Thế A ghi ở dạng nhất to là 321.600 đồng; dạng 2 cửa là 832.000 đồng; dạng đặc biệt là 1.068.000 đồng; dạng lô là 8.172.500 đồng; dạng lô xiên là 216.000 đồng.

Tổng số tiền Bùi Thế A bán số lô, số đề ngày 25/12/2024 là 10.610.100 đồng. Hành vi đánh bạc của Bùi Thế A bị phát hiện trước thời điểm có kết quả xổ số kiến thiết miền B nên số tiền đánh bạc là 10.610.100 đồng.

Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định chữ viết, chữ số trong 3 tờ cáp đề (thu giữ của Bùi Thế A, Phan Thị N, Nguyễn Văn C) và trưng cầu giám định khôi phục dữ liệu trong chiếc điện thoại thu giữ của Bùi Thế A.

Kết luận giám định số 2859/KL-KTHS ngày 30/12/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:

Chữ viết tại mặt trước trên các tài liệu cần giám định (ký hiệu A1, A2, A3) so với chữ viết của Bùi Thế A trên các tài liệu mẫu (ký hiệu từ M1 đến M8) là do cùng một người viết ra.

Kết luận giám định số 168/KL-KTHS ngày 21/01/2025 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:

Trích xuất được 203 dữ liệu nhật ký cuộc gọi, 10 dữ liệu tin nhắn SMS, 14485 dữ liệu tin nhắn từ ứng dụng Zalo, không trích xuất và khôi phục được dữ liệu ứng dụng Messenger có trong điện thoại di động IPhone 7 Plus, màu đen, số sê-ri: FCCT21QBHG00, số IMEI: 355372086456237 gửi giám định.

(Chi tiết dữ liệu thể hiện trong file nén có tên "Du lieu.rar", dung lượng 1.75GB được lưu trữ trong 01 (một) đĩa CD-R nhãn hiệu Maxell).

Kiểm tra dữ liệu điện thoại do Phòng K Công an tỉnh B cung cấp không phát hiện có liên quan đến đánh bạc.

Cơ quan điều tra đã cho Phan Thị N, Nguyễn Văn C nhận dạng ảnh Bùi Thế A. Kết quả, chị N và anh C nhận đúng ảnh và xác định Thế A bán các số lô, số đề ngày 25/12/2024.

Các vật chứng, tài sản thu giữ của Bùi Thế A được nhập kho vật chứng để xử lý theo quy định.

* Tại bản cáo trạng số 67/CT-VKS ngày 05 tháng 3 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị can Bùi Thế A về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

* Tại phiên toà:

- Bị cáo Bùi Thế A trình bày: Bị cáo đã nghe rõ cáo trạng của Viện kiểm sát, cáo trạng truy tố bị cáo về hành vi đánh bạc như vậy hoàn toàn đúng. Bị cáo thừa nhận ngày 25/12/2024 bị cáo đã đánh bạc tổng số tiền 10.610.100 đồng (trong đó: Tổng lượng tiền ghi ở dạng nhất to là 321.600 đồng; dạng 2 cửa là 832.000 đồng; dạng đặc biệt là 1.068.000 đồng; dạng lô là 8.172.500 đồng; dạng lô xiên là

216.000 đồng). Bị cáo đề nghị xin lại những tài sản bị thu giữ không liên quan đến hành vi đánh bạc.

* Hội đồng xét xử công bố lời khai của những người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa. Bị cáo nhất trí và không có ý kiến gì.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

  1. Về hình phạt:
  2. Căn cứ vào khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Bùi Thế A từ 7 tháng tù đến 10 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”, thời gian thử thách là từ 14 tháng đến 20 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Phạt bổ sung bị cáo từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.

    Giao bị cáo Bùi Thế A cho Ủy ban nhân dân phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

  3. Về xử lý vật chứng, tài sản, đồ vật tạm giữ: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự
    • Trả lại bị cáo Bùi Thế A: 01 túi xách màu đen đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động màu đen, nhãn hiệu Iphone 7 Plus, số seri FCCT21QBHG00, số IMEI: 355372086456237 đã qua sử dụng, bên trong gắn kèm 01(một) thẻ Sim Viettel 4G, trên thân sim có in dãy số 8984048000919009584; số tiền 1.889.900 đồng nhưng tạm giữ điện thoại di động và số tiền 1.889.900 đồng để đảm bảo thi hành án.
    • Tịch thu, tiêu hủy 02 bút mực màu xanh.
    • Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước số tiền 10.610.100 đồng (Mười triệu sáu trăm mười nghìn một trăm đồng).
  4. Về án phí:
  5. Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Bùi Thế A phải chịu án phí hình sự sơ thẩm

* Bị cáo không có ý kiến tranh luận, đối đáp gì.

* Lời nói sau cùng của bị cáo Bùi Thế A:

Bị cáo thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo rất hối hận về hành vi của mình. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo được cải tạo tại địa phương, trở thành công dân tốt, biết tuân thủ pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

[2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho những người tham gia tố tụng. Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt nhưng trong hồ sơ vụ án đã có đầy đủ lời khai, sự vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Căn cứ khoản 1 Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định tiếp tục xét xử vụ án.

[3] Về tội danh của bị cáo: Căn cứ đơn xin đầu thú, biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú, Kết luận giám định, biên bản niêm phong đồ vật. Căn cứ lời khai của bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, có đủ cơ sở xác định: Bùi Thế A bán vé xổ số tại vỉa hè đường N, phường N, thành phố B. Ngoài bán xổ số, Thế A còn bán số lô, số đề trái phép và tự thanh toán thắng thua với người chơi. Ngày 25/12/2024, Bùi Thế A bán cho khách các số lô, số đề với lượng tiền là 10.610.100 đồng. Hành vi đánh bạc của Bùi Thế A bị phát hiện trước thời điểm có kết quả xổ số kiến thiết miền B nên số tiền đánh bạc là 10.610.100 đồng. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì để kiếm lời đã thực hiện hành vi với lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo Bùi Thế A đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố bị cáo theo tội danh, điểm, khoản, điều luật trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

[4] Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Đánh bạc là một tệ nạn xã hội bị pháp luật nghiêm cấm, cần phải bài trừ, là một trong những nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác và ảnh hưởng xấu đến đời sống kinh tế, hạnh phúc của nhiều gia đình, bị dư luận quần chúng nhân dân lên án. Do vậy, cần phải xử phạt nghiêm minh bị cáo bằng pháp luật hình sự để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cho toàn xã hội. Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.

[5] Xét tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, sau khi phạm tội bị cáo đầu thú. Do vậy bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i,s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[6] Căn cứ tính chất hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, nhận thấy mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang đề nghị là phù hợp nên cần chấp nhận.

[7] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội với mục đích để kiếm lời nên ngoài hình phạt chính cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền để nộp vào ngân sách nhà nước theo quy định của khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử quyết định phạt bổ sung đối với bị cáo Thế A với số tiền như đề nghị của Viện kiểm sát là phù hợp.

[8] Đánh giá những tình tiết khác của vụ án:

Đối với Phan Thị N, Nguyễn Văn C đánh bạc nhưng số tiền đánh bạc của những người này đều dưới 5.000.000 đồng; các đối tượng chưa bị kết án và chưa bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc nên không cấu thành tội “Đánh bạc” theo Điều 321 Bộ luật hình sự. Ngày 19/02/2025, Công an thành phố B đã xử phạt vi phạm hành chính.

[9] Về xử lý vật chứng, tài sản, đồ vật thu giữ:

  • Đối với 01 xe ô tô nhãn hiệu MG biển số 17A-252.57 không liên quan đến hành vi đánh bạc nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho Bùi Thế A; đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream biển số 98C1- 070.17 là do Bùi Thế A mượn của anh Nguyễn Văn H. Anh H mượn chiếc xe trên của anh Nguyễn Văn C1, nên Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe cho anh C1. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
  • Trả lại bị cáo Bùi Thế A: 01 túi xách màu đen đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động màu đen, nhãn hiệu Iphone 7 Plus, số seri FCCT21QBHG00, số IMEI: 355372086456237 đã qua sử dụng, bên trong gắn kèm 01(một) thẻ Sim Viettel 4G, trên thân sim có in dãy số 8984048000919009584; số tiền 1.889.900 đồng vì không liên quan đến hành vi phạm tội nhưng tạm giữ 01 điện thoại di động và số tiền 1.889.900 đồng để đảm bảo thi hành án.
  • Tịch thu tiêu hủy 02 bút mực màu xanh là công cụ, phương tiện phạm tội.
  • Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước của bị cáo Bùi Thế A số tiền 10.610.100 đồng (Mười triệu sáu trăm mười nghìn một trăm đồng) là số tiền do bị cáo phạm tội mà có.

[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[11] Về quyền kháng cáo: Bị cáo và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của khoản 1, khoản 4 Điều 331; Điều 332 và khoản 1, khoản 3 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Bùi Thế A phạm tội “Đánh bạc”.
    Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; Điều 50; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt:

    Bị cáo Bùi Thế A 8 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 năm 4 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 01/4/2025).

    Về hình phạt bổ sung: Phạt bổ sung bị cáo Bùi Thế A số tiền 10.000.000 đồng.

    Giao bị cáo Bùi Thế A cho Ủy ban nhân dân phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo (bị cáo Bùi Thế A) thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
    • Trả lại bị cáo Bùi Thế A: 01 túi xách màu đen đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động màu đen, nhãn hiệu Iphone 7 Plus, số seri FCCT21QBHG00, số IMEI: 355372086456237 đã qua sử dụng, bên trong gắn kèm 01(một) thẻ Sim Viettel 4G, trên thân sim có in dãy số 8984048000919009584; số tiền 1.889.900 đồng nhưng tạm giữ 01 điện thoại di động và số tiền 1.889.900 đồng để đảm bảo thi hành án.
    • Tịch thu, tiêu hủy 02 bút mực màu xanh.
    • Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước của bị cáo Bùi Thế A số tiền 10.610.100 đồng (Mười triệu sáu trăm mười nghìn một trăm đồng).

    (Theo Quyết định chuyển vật chứng số 53/QĐ-VKS, ngày 05/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang và Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 18/3/2025 giữa bên giao là Công an thành phố B với bên nhận là Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang).

  3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 332, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án.
  5. Về hướng dẫn thi hành án dân sự: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự ./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND thành phố Bắc Giang;
  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - Chi cục THADS TP. Bắc Giang;
  • - Cơ quan CSĐT – Công an tỉnh Bắc Giang;
  • - Phòng Hồ sơ – Công an tỉnh Bắc Giang;
  • - Cổng thông tin điện tử Tòa án;
  • - Bị cáo; người tham tố tụng;
  • - UBND phường Ngô Quyền, TP.Bắc Giang;
  • - Lưu Hồ sơ vụ án; Văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Hải Yến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 61/2025/HS-ST ngày 01/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG về đánh bạc

  • Số bản án: 61/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 01/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bùi Thế Anh phạm tội Đánh bạc (DD BLHS 2015)
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger