|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH Bản án số: 61/2025/HS-ST Ngày: 25-3-2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hải Ninh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thắng.
Ông Bùi Như Huấn.
- Thư ký phiên tòa: Ông Chu Trần Khánh Vinh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Ông Trần Anh Đức - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 55/2025/TLST-HS ngày 11 tháng 3 năm 2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 55/2025/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 3 năm 2025; đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Việt H, sinh năm 1990 tại Nam Định; nơi cư trú: Số B đường N, phường N, thành phố N, tỉnh Nam Định; số căn cước công dân: [...]; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Viết T và bà Trần Thị Bích H1; Bị cáo có vợ là Nguyễn Thị P có 01 con chung (đã ly hôn) và vợ là Chu Thị Phương T1 có 01 con chung (đã ly hôn); tiền án, tiền sự: không; nhân thân: không; bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 20-12-2024, chuyển sang tạm giam ngày 29-12-2024 đến nay tại Phân trại tạm giam khu vực thành phố N thuộc Trại tạm giam Công an tỉnh N; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Việt H là đối tượng nghiện ma tuý, do có nhu cầu sử dụng ma tuý nên khoảng 20 giờ 30 phút, ngày 19-12-2024, H điều khiển xe máy biển kiểm soát 29L9-2962 đến nhà anh Trần Xuân H2 sinh năm 1988; địa chỉ: Số G đường T, phường C, thành phố N, tỉnh Nam Định chơi, H nhờ anh H2 lấy xe của H chở đi có việc (H không nói cho anh H2 biết mục đích đi đâu, làm gì). Khi cả 2 đến khu vực đầu ngõ G đường Đ, phường C, thành phố N, H bảo anh H2 đứng đợi rồi đi bộ vào trong ngõ gặp một người phụ nữ (không rõ tên, tuổi, địa chỉ) mua 500.000 đồng ma túy đá mục đích sử dụng cho bản thân. H cầm gói ma túy trong tay trái đi ra chỗ anh H2 đợi, khi H lên xe máy để anh H2 chở đi thì bị tổ công tác Công an phường C, thành phố N đang làm nhiệm vụ tiến hành kiểm tra. Khi bị kiểm tra, H thả từ lòng bàn tay xuống đất 01 gói nilong màu trắng, bên trong chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Thu giữ: 01 gói nilong màu trắng, bên trong chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng (H khai đây là ma túy đá do H mua về để sử dụng cho bản thân) – toàn bộ được niêm phong gửi đi giám định; 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Dream màu nâu đã cũ mang biển kiểm soát 29L9-2962.
Ngày 26-12-2024, Phòng K Công an tỉnh N đã có bản Kết luận giám định số 122/KL-KTHS kết luận: Mẫu rắn dạng tinh thể màu trắng trong 01 gói nilong màu trắng, được niêm phong gửi giám định đều là ma túy. Loại ma túy: Methamphetamine. Tổng khối lượng mẫu: 0,550 gam (Không phảy năm trăm năm mươi gam).
Tại bản Cáo trạng số 73/CT-VKS- TPNĐ ngày 10-3-2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định đã truy tố Nguyễn Việt H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa: Bị cáo Nguyễn Việt H khai nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy mục đích để sử dụng như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo toàn bộ nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; tuyên bố bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; xử phạt bị cáo từ 02 năm 06 tháng đến 02 năm 09 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo; căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu huỷ toàn bộ số ma tuý thu giữ là vật chứng vụ án; về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Nguyễn Việt H nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1] Tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên; của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
- [2] Chứng cứ và tội danh đối với hành vi của bị cáo: Căn cứ vào những tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 19-12-2024; bản kết luận giám định của Phòng K Công an tỉnh N số 122/KL-KTHS ngày 26-12-2024; vật chứng của vụ án; lời khai của bị cáo, của người làm chứng tại Cơ quan điều tra cùng các tài liệu, chứng cứ khác phù hợp với lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 21 giờ 15 phút, ngày 19-12-2024, tại khu vực đầu ngõ G đường Đ, phường C, thành phố N, Nguyễn Việt H đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,550 gam (Không phảy năm trăm năm mươi gam) Methamphetamine mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác Công an phường C, thành phố N làm nhiệm vụ phát hiện, bắt quả tang. Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi của bị cáo đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước. Bị cáo biết rõ hành vi tàng trữ ma tuý của mình bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý. Như vậy, bị cáo Nguyễn Việt H đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Do đó, quan điểm truy tố và luận tội của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định là hoàn toàn có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.
- [3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; nhân thân của bị cáo: Để thỏa mãn nhu cầu của bản thân, bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là loại chất gây nghiện Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành; hành vi của bị cáo là một trong những nguyên nhân làm gia tăng tệ nạn ma túy, gây ảnh hưởng đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Do đó phải buộc bị cáo chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình; cần phải áp dụng loại hình phạt cũng như mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để cải tạo, giáo dục bị cáo nói riêng, đồng thời cũng là để răn đe phòng ngừa tội phạm nói chung.
- Về nhân thân: Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa thể hiện thì trước lần phạm tội này bị cáo chưa có vi phạm pháp luật gì.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
- [4] Đường lối xử lý về hành vi phạm tội của các bị cáo:
- Về hình phạt chính: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như động cơ mục đích phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy, cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo và tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi môi trường ngoài xã hội một thời gian nhất định nữa thì mới có thể cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội.
- Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có công việc và thu nhập ổn định, bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng cho bản thân. Do đó không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- [5] Về xử lý vật chứng: Đối với số ma tuý chứa trong 01 phong bì niêm phong của Phòng K - Công an tỉnh N số 122/KL-KTHS (Mẫu vật hoàn lại sau giám định là 01 mẫu ma tuý Methamphetamine). Xét các mẫu vật này thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành. Do đó tịch thu tiêu hủy là phù hợp với quy định của pháp luật.
- [6] Về các vấn đề khác trong vụ án:
- - Đối với người đàn ông bán ma tuý cho Nguyễn Việt H: Cơ quan Cảnh sát điều tra không xác định được thông tin, địa chỉ đối tượng bán ma túy cho Nguyễn Việt H nên không có căn cứ xử lý là phù hợp với quy định của pháp luật.
- - Anh Trần Xuân H2 là người bị cáo nhờ chở đi có việc: Xét thấy bị cáo H không nói với anh H2 về việc nhờ anh H2 chở đi mua ma tuý nên anh H2 không liên quan đến hành vi phạm tội của H. Vì vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N không xử lý là phù hợp.
- - Đối với chiếc xe máy mang biển kiểm soát 29L9-2962: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N xác định là tài sản hợp pháp của ông Nguyễn Viết T (bố đẻ của H), ông T không biết H mượn xe đi mua ma túy nên đã trả lại xe cho ông T là phù hợp với quy định của pháp luật.
- [7] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Việt H bị kết án nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 46 của Bộ luật Hình sự; Điều 106, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Việt H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Việt H 02 năm 03 tháng (Hai năm ba tháng) tù, thời hạn tù tính từ ngày 20-12-2024.
- Xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy số ma tuý chứa trong 01 phong bì niêm phong của Phòng K - Công an tỉnh N số 122/KL-KTHS (Mẫu vật hoàn lại sau giám định là 01 mẫu ma tuý Methamphetamine).
- Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Việt H phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
- Quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Việt H được quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiện thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Hải Ninh |
5
Bản án số 61/2025/HS-ST ngày 25/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 61/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tàng trứ trái phép chất ma tuỷ để sử dụng cho bản thân
