Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN LONG BIÊN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 61/2025/HS-STNgày: 20/3/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN, TP.HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Hoàng Thùy Dương Ngọc Anh

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Cúc
  2. Bà Ngô Thanh Xuân

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Lệ Quyên, Thư ký Tòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Dương Bá Thành Luân, Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Long Biên, Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 53/2025/TLST-HS ngày 03/3/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 54/2025/QĐXXST-HS ngày 06/3/2025 đối với các bị cáo:

1) Họ và tên: PHẠM ANH Đ1, sinh năm 1977; giới tính: Nam; HKTT và ở: số B ngõ I phố T, phường T, quận L, thành phố Hà Nội; trình độ học vấn: biết đọc, biết viết; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Tự do; con ông Phạm Văn Q và bà Đỗ Thị M; vợ là Quản Thị P, có 02 con sinh năm 2002 và 2005; D chỉ bản số 28 ngày 05/01/2025 lập tại Công an quận L, thành phố Hà Nội và trích lục tiền án, tiền sự thể hiện: tiền án, tiền sự: không; bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 05/01/2025 đến ngày 13/01/2025 huỷ bỏ tạm giữ, hiện đang áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú; Có mặt tại phiên tòa.

2) Họ và tên: TRẦN TRUNG Đ, sinh năm 1987; giới tính: Nam; HKTT và chỗ ở: thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, thành phố Hà Nội; trình độ học vấn: lớp 9/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Tự do; con ông Trần Văn A và bà Lê Thị Y; vợ là Đặng Hương G, có 02 con sinh năm 2010 và 2013; D chỉ bản số 26 ngày 14/01/2025 lập tại Công an quận L, thành phố Hà Nội và trích lục tiền án, tiền sự thể hiện:

- Tiền án, tiền sự: không

- Nhân thân:

  • + Bản án số 124/2008/HSST ngày 27/6/2008, Toà án nhân dân quận Long Biên xử phạt 18 tháng tù về tội Chống người thi hành công vụ, đã xoá án;
  • + Bản án số 196/2019/HSST ngày 22/8/2019 Toà án nhân dân quận Long Biên xử phạt 03 năm tù về tội Tổ chức đánh bạc, đã xoá án.

Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ ngày từ ngày 05/01/2025, hiện đang áp dụng biện pháp tạm giam; Có mặt tại phiên tòa

3) Họ và tên: NAY HƠ Y (tên gọi khác: Phạm Phương T), sinh năm 1980; giới tính: Nữ; HKTT: phường N, quận Đ, thành phố Hà Nội; tạm trú: tổ B phường T, quận L, thành phố Hà Nội; trình độ học vấn: lớp 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Gia Rai; Tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Tự do; con ông Nay P1 và bà Vũ Thị T1; có chồng đã ly hôn, có 01 con sinh năm 2000 (đã chết); D chỉ bản số 27 ngày 13/01/2025 lập tại Công an quận L, thành phố Hà Nội và trích lục tiền án, tiền sự thể hiện: tiền án, tiền sự: không; bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 05/01/2025 đến ngày 13/01/2025 huỷ bỏ tạm giữ, hiện đang áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú; Có mặt tại phiên tòa.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Nguyễn Nam T2, sinh năm 1979; địa chỉ: tổ A, phường Đ, quận L, thành phố Hà Nội (Vắng mặt);
  2. Chị Nguyễn Hồng N, sinh năm 1986; địa chỉ: tổ H, phường T, quận L, thành phố Hà Nội (Vắng mặt);
  3. Ông Nguyễn Chí L, sinh năm 1966; địa chỉ: tổ A, phường T, quận L, thành phố Hà Nội (Vắng mặt);
  4. Chị Triệu Thị HIền, sinh năm 1985; địa chỉ: số A T, phường Đ, quận H, thành phố Hà Nội (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12h30 ngày 05/01/2025, Trần Trung Đ, Nay Hơ Yun và một người đàn ông không rõ lai lịch đến nhà Phạm Anh Đ1 tại số B ngõ I phố T, phường T, L, Hà Nội để ngồi uống nước và nói chuyện. Lúc này, Phạm Anh Đ1 đang có mặt ở nhà. Quá trình nói chuyện, Đ, Đ1, Y1 và người đàn ông không rõ lai lịch cùng rủ nhau đánh bạc dưới hình thức chơi tá lả sát phạt nhau bằng tiền. Vị trí ngồi đánh bạc ở ngay sát cửa ra vào tầng một, 02 (hai) bộ bài là của Đ1 dùng để đánh bạc. Đ, Đ1, Y1 và người đàn ông không rõ lai lịch quy ước đánh bạc thắng thua như sau: Người về nhất thu tiền của ba người còn lại, thu người về nhì là 50.000 đồng, thu người về ba là 100.000 đồng, thu người về tư là 150.000 đồng, nếu thắng ù thì thu mỗi người là 200.000 đồng, nếu ù thì sẽ để ra gà 50.000 đồng, số tiền gà nhằm mục đích mua thuốc lá, nước uống chung trong cả quá trình chơi tại chiếu bạc. Khi tham gia đánh bạc, Đ1 sử dụng số tiền 1.800.000 đồng, đến khi bị bắt giữ Đoài đang hòa, toàn bộ số tiền để tại chiếu bạc và bị thu giữ. Đ mang theo và sử dụng số tiền 1.800.000 đồng để đánh bạc đến khi bị bắt thì đang hòa, toàn bộ số tiền để tại chiếu bạc và bị thu giữ. Nay Hơ Y1 mang theo và sử dụng số tiền 1.800.000 đồng vào đánh bạc đến khi bị bắt thì đang thua 300.000 đồng, còn lại 1.500.000 đồng để tại xới bạc và bị thu giữ. Trong quá trình chơi, người đàn ông không rõ nhân thân đi ra ngoài mua thuốc lá. Lúc này, lực lượng công an vào kiểm tra bắt quả tang Đ, Đ1, Y1 đang có hành vi đánh bạc ăn tiền, thu giữ số tiền đánh bạc trên chiếu tại phòng khách là 11.350.000 đồng, trong đó đã để riêng ra được khoảng 300.000 đồng tiền gà. Người đàn ông không rõ nhân thân bỏ chạy thoát.Cùng khoảng thời gian nêu trên, Nguyễn Chí L, Triệu Thị H, Nguyễn Hồng N, Nguyễn Nam T2 cũng đến nhà Đ chơi, thấy Đ đang ngồi đánh bạc tại phòng khách, L, H, N, T2 rủ nhau đánh bạc sát phạt nhau bằng tiền dưới hình thức đánh tá lả ăn tiền và vào ngồi trong gian bếp của nhà Đ để đánh bạc và được Đ đồng ý. L, H, N, T2 quy ước đánh bạc như sau: Ai về nhất sẽ được 20.000 đồng của người về nhì, 40.000 đồng của người về ba, 60.000 đồng của người về bét. Ai “móm” sẽ thua 80.000 đồng. Người nào ù sẽ được của ba người còn lại 100.000 đồng. Ù tròn sẽ được của mỗi người là 200.000 đồng. Ai ù sẽ bỏ ra số tiền 20.000 đồng vào gà để chi cho thuốc nước chung của chiếu bạc. Khi tham gia đánh bạc, L mang theo và sử dụng số tiền 1.900.000 đồng vào đánh bạc đến khi bị bắt đang thua 200.000 đồng, còn lại 1.700.000 đồng để trong người và tự nguyện giao nộp. H mang theo và sử dụng số tiền 1.475.000 đồng vào đánh bạc, H cất trong người 700.000 đồng, mang ra chiếu bạc chơi 775.000 đồng. Khi bị bắt còn khoảng 1.065.000 đồng trên chiếu và 700.000 đồng trong người tự nguyện giao nộp, H đang thắng khoảng 290.000 đồng. N mang theo và sử dụng số tiền 700.000 đồng đến khi bị bắt đang hòa, toàn bộ số tiền để tại chiếu bạc và bị thu giữ. T2 mang theo và sử dụng số tiền 700.000 đồng đến khi bị bắt T2 đang thua hết 240.000 đồng, còn lại 460.000 đồng để tại chiếu bạc và bị thu giữ. Khi bắt giữ, chiếu bạc đã để ra được 150.000 đồng tiền gà (10.000 đồng do để nhầm vào tiền gà). Thu giữ tại chiếu bạc tổng số tiền 4.775.000 đồng, 01 bộ bài tú lơ khơ.Vật chứng thu giữ gồm: Số tiền 16.125.000 đồng (Mười sáu triệu một trăm hai mươi lăm nghìn đồng) và 02 (hai) bộ bài tú lơ khơ. Cơ quan điều tra đã xác minh địa điểm các đối tượng đánh bạc tại địa chỉ số nhà B ngõ I, tổ A, phường T, L, Hà Nội thuộc Thửa đất số 330, tờ bản đồ số 1 - Thượng Cát theo Bản đồ địa chính 1993-1996 do Phạm Anh Đ là chủ sở hữu. Việc đánh bạc các đối tượng khai nhận rủ nhau cùng chơi, không có ai tổ chức, chuẩn bị phương tiện, cảnh giới, thu hồ...

Bản Cáo trạng số 42/CT-VKS ngày 26/02/2025, Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên truy tố các bị cáo Phạm Anh Đ, Trần Trung Đ và Nay Hơ Yun về tội “Đánh bạc” theo Khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà:

  1. Các bị cáo đều thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, xác nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên truy tố là đúng với hành vi mà các bị cáo đã thực hiện. Bị cáo Đ khai mua bộ bài lá và để cho mọi người chơi bài ở nhà mình nhằm thoả mãn đam mê cờ bạc của bản thân chứ không thu lợi, tiền gà là do các đối tượng đánh bài tự quy ước trích ra để mua thuốc lá, nước uống chứ không trả cho Đ.
  2. Đại diện Viện kiểm sát sau khi phân tích tính chất mức độ hành vi phạm tội, đánh giá vai trò, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của từng bị cáo đã kết luận giữ quan điểm như cáo trạng truy tố và đề nghị HĐXX:- Áp dụng Khoản 1 Điều 321, Điểm s Khoản 1 Điều 51, Điều 17, 58 BLHS đối với các bị cáo; riêng bị Đ áp dụng thêm Điều 38, bị cáo Đ và Y áp dụng thêm Điểm I khoản 1 Điều 51 và Điều 65 của BLHS.Xử phạt: bị cáo Đ từ 06 đến 09 tháng tù; bị cáo Đ bị cáo từ 09 – 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách từ 18 đến 24 tháng; bị cáo Y từ 06 – 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách từ 12 đến 18 tháng.+ Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
    • - Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: tịch thu sung tiêu huỷ 02 bộ bài, tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền đánh bạc; trả lại cho bị cáo và người liên quan 03 điện thoại di động.
  3. Tại lời nói sau cùng: các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, ăn năn hối cải và đề nghị HĐXX xem xét cho bị cáo mức án thấp nhất và được cải tại ngoài xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, biên bản bắt giữ người có hành vi phạm pháp quả tang, biên bản thu giữ vật chứng, phù hợp với lời khai của người làm chứng, người liên quan cùng các tài liệu khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở để xác định:

Ngày 05/01/2025, tại số nhà B ngõ I phố T, phường T, quận L, thành phố Hà Nội, các bị cáo Phạm Anh Đ, Trần Trung Đ, Nay H (Phạm Phương T) đã có hành vi chơi “tá lả” sát phạt nhau bằng tiền với tổng số tiền sử dụng vào việc chơi tá lả là 11.350.000 đồng thì bị lực lượng chức năng phát hiện bắt quả tang. Bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố bị cáo tội “Đánh bạc” theo Khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, phù hợp pháp luật.

[2] Đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của từng bị cáo:

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã cố ý xâm phạm trật tự công cộng được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội, do vậy các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương xứng với hành vi của mình. Trong vụ án này, các bị cáo thực hiện hành vi với tính chất đồng phạm giản đơn.

Nhân thân các bị cáo Phạm Anh Đ và Nay Hơ Yun không có tiền án, tiền sự; bị cáo Trần Trung Đ đã từng bị kết Đln nhưng đều xoá án tích nên được coi là chưa bị kết án là phù hợp với quy định tại Đoạn 2 Khoản 1 Điều 69 của Bộ luật Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đều “thành khẩn khai báo” và thừa nhận hành vi phạm tội của mình, tỏ ra “ăn năn hối cải”. Do vậy, áp dụng các tình tiết quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với tất cả 03 bị cáo trong vụ án. Các bị cáo Phạm Anh Đ và Nay Hơ Yun (Phạm Phương T) được hưởng tình tiết giảm nhẹ “phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” theo quy định tại Điểm i Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Cả 03 bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Đ1

[3] Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ của các bị cáo đã được phân tích ở trên thì phải áp dụng hình phạt đối với bị cáo Đ cao hơn cả, sau đó đến bị cáo Đ và cuối cùng là bị cáo Y.

Đối với bị cáo Trần Trung Đ cần thiết phải cách ly ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Đối với Phạm Anh Đ và Nay Hơ Yun không có tiền án, tiền sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ như đã viện dẫn và hiện đang tại ngoại, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo nên không cần thiết phải cách ly ra khỏi đời sống xã hội, cho các bị cáo được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự cũng đủ tác dụng giáo dục đối với các bị cáo và phòng ngừa chung.

[4] Các bị cáo không có thu nhập ổn định, không có khả năng thi hành phạt bổ sung bằng tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, nên được chấp nhận.

[5] Xử lý vật chứng:

  • - 02 bộ bài lơ khơ là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội không còn giá trị sử dụng, cần tịch sung tiêu huỷ theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự.
  • - Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 16.125.000 đồng là số tiền dùng để đánh bạc thu giữ của các bị cáo và những người liên quan theo quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và Đ2 b Khoản 2 Điều 106 của Bộ luĐ1t Tố tụng Hình sự.

[6] Các Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định.

[7] Hành vi của Nguyễn Nam T2, Nguyễn Hồng N, Nguyễn Chí L và Triệu Thị H vào ngày 05/01/2025 đều thoả mãn dấu hiệu của hành vi đánh bạc, tuy nhiên số tiền dùng để đánh bạc dưới 5.000.000 đồng, nhân thân đều chưa có tiền án, tiền sự về các tội Đánh bạc hoặc Tổ chức đánh bạc hoặc đã được xoá án tích, do vậy không đủ truy cứu trách nhiệm hình sự. Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an quận L đã ra Quyết định xử phạt hành chính đối với Nguyễn Nam T2, Nguyễn Hồng N, Nguyễn Chí L và Triệu Thị H về hành vi Đánh bạc là phù hợp.

Phạm Anh Đ đã để cho 02 chiếu bạc (07 người) chơi tại nhà mình tuy nhiên Đ không lôi kéo, rủ rê, chuẩn bị công cụ phương tiện, cũng không thu hồ, số tiền của một chiếu bạc dưới 5.000.000 đồng, nhân thân Đoài chưa có tiền án, tiền sự về tội Đánh bạc, Tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc, do vậy không đủ cơ sở để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Đ về tội Tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố các bị cáo Phạm Anh Đ, Trần Trung Đ, Nay H (Phạm Phương T) phạm tội “Đánh bạc”;
  2. Căn cứ Khoản 1 Điều 321, Điểm s Khoản 1 Điều 51, các Điều 17, và 58 của Bộ luật Hình sự; Riêng bị cáo Phạm Anh Đ và Nay Hơ Yun áp dụng thêm Điểm i Khoản 1 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự; bị cáo Trần Trung Đáp dụng thêm Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
    • - Xử phạt bị cáo Trần Trung Đ 07 (bẩy) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/01/2025.
    • - Xử phạt bị cáo Phạm Anh Đ 09 (chín) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách là 18 (mười tám) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đ1
    • - Xử phạt bị cáo Nay Hơ Yun 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách là 12 (mười hai) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao các bị cáo Phạm Anh Đ1 và Nay Hơ Y về Ủy ban nhân dân phường T, quận L, thành phố Hà Nội để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo

  1. Căn cứ Điểm a, b Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điểm b Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
    • - Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 16.125.000 đồng.
    • - Tịch thu tiêu huỷ 02 bộ bài tú lơ khơ đã qua sử dụng.

Toàn bộ số tiền và vật chứng nêu trên hiện đã nộp vào tài khoản của Chi cục Thi hành án dân sự quận Long Biên tại Kho bạc nhà nước L1 theo Giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 27/02/2025 và lưu giữ tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự quận Long Biên theo theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 13/01/2025.

  1. Căn cứ các Điều 136, 292, 331 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a Khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
    • - Mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
    • - Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận :

  • - Bị cáo;
  • - Người liên quan
  • - VKSND quận Long Biên;
  • - VKSNDTP Hà Nội;
  • - TAND TP Hà Nội;
  • - Công an quận Long Biên;
  • - Chi cục THA DS Q. Long Biên;
  • - Bộ phận THA HS Tòa án LB;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Hoàng Thùy Dương Ngọc Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 61/2025/HS-ST ngày 20/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự - đánh bạc

  • Số bản án: 61/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Anh Đoài, Trần Trung Đức, Nay Hơ Yun - Đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger