Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HẠ LONG

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 61/2025/HS-ST

Ngày 17 - 3 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Thanh Thúy

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Đức Nhân

Bà Phạm Thị Hiền

-Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Ngọc Mai – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa:

Ông Bùi Văn Bằng – Chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 26/2025/TLST- HS ngày 18 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 33/2025/QĐXXST- HS ngày 26 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phạm V, sinh ngày 10 tháng 10 năm 1993 tại Thừa Thiên Huế; nơi ĐKTT cư trú: thôn D, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huếchỗ ở hiện nay (đăng ký tạm trú): thôn T, xã L, thành phố H, tỉnh Quảng Ninhnghề nghiệp: cơ khí; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: nam; con ông Phạm Văn A bà Mai Thị X; có vợ là Trần Thị M 02 con (con lớn sinh năm 2021, con nhỏ sinh năm 2023); tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” và “Tạm hoãn xuất cảnh” từ ngày 09/12/2024, hiện tại ngoại tại nơi đăng ký; có mặt.

- Bị hại: anh Ngô Văn P, sinh năm 1985 (đã chết).

Người đại diện hợp pháp của anh Ngô Văn Planh Ngô Văn T 1993; nơi cư trú: tổ I, phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế; (theo Văn bản uỷ quyền ngày 04/3/2025 của bà Phùng Thị S– mẹ đẻ anh Ngô Văn T1 vắng mặt (có đơn xin xử vắng mặt);

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công ty cổ phần G trụ sở: thôn T, xã L, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh;

Người đại diện hợp pháp: ông Lương Văn D– Chức vụ: Giám đốc; vắng mặt (có đơn xin vắng mặt);

1

- Người làm chứng: anh N1mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Công ty cổ phần G1(gọi tắt là công ty G tại thôn T, xã L, thành phố H từ năm 2017, chuyên sản xuất gạch, ngói nung do anh Lương Văn D1năm 1994, trú tại tổ F, khu F, phường Y, thành phố H. Ngày 07/9/2024, do ảnh hưởng của cơn bão số 3 (cơn bão Yagi) Công ty G2 hỏng toàn bộ phần mái khu nhà xưởng nung gạch. Ngày 22/9/2024, anh Lương Văn D1 Công ty G3“Hợp đồng giao khoán nhân công xây dựng” thuê Phạm Vlàm N khí tự do đến sửa sửa phần khung và lợp lại mái cho xưởng nung gạch. Tại Điều 3, Điều 4 của hợp đồng nêu rõ: “Bên nhận thi công phải có trách nhiệm tổ chức đảm bảo an ninh trật tự và an toàn lao động với công nhân thi công tại công trình của Công ty, đảm bảo đủ lượng thợ chính và thợ phụ trong quá trình thi công (tối thiểu 10 công nhân), có trách nhiệm bảo quản, giám sát, chi trả lương cho công nhân. Công ty sẽ trả theo đơn giá nhân công thi công gồm tháo dỡ dọn dẹp mái cũ khu nhà xưởng nung là 40.000.000 đồng, lợp mái mới là 35.000 đồng/m², dựng nhà 130.000 đồng/m². Sau khi công trình được nghiệm thu Công ty sẽ thanh toán hết”. Sau khi ký hợp đồng, V1bài lên trang Facebook “nhóm thợ cơ khí Huế” để tuyển thêm thợ cùng làm việc.

Sau khi đọc được bài đăng của V08 anh, gồm: Ngô Văn P, sinh năm 1985, trú tại tổ I, phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên HuếTrần Văn Đ, sinh năm 1998, trú tại thôn Q, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên HuếLê Hữu Sĩ N1, sinh năm 1985, trú tại A, đường N, phường H, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huếanh Nguyễn Xuân T2, sinh năm 1997, trú tại thôn V - N, xã H, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huếanh Phan Đình P1, sinh năm 1998, trú tại số G, đường L, phường R, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng TàuNguyễn Công T1, sinh năm 1999, trú tại thôn B, xã V, huyện P, tỉnh Thừa Thiên HuếLê Xuân T4, sinh năm 1995, trú tại thôn S, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huếvà Nguyễn T3, sinh năm 1990, trú tại thôn A, xã L, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huếđồng ý nhận việc làm thuê cho VVui thỏa thuận miệng trả lương cho những công nhân làm cùng là 650.000 đồng/ngày công, sau khi hoàn thành công trình sẽ thanh toán. Những công nhân nêu trên đều là lao động phổ thông, không được tập huấn an toàn vệ sinh lao động, không được cấp phát đầy đủ các trang thiết bị an toàn lao động. Do không đủ công nhân nên V2gia làm cùng mọi người. Ngày 23/9/2024, V3các anh PĐN1T2P1T1T4T3đến Công ty G4 làm việc. Trong quá trình làm, V4có phương án đảm bảo an toàn khi làm việc trên cao và không trang bị dây đai an toàn cho các công nhân làm việc. Sáng ngày 10/10/2024, theo yêu cầu của Công ty G4đuôi mái nhựa gian thứ 7 giữa cột chữ I số 5 và số 6 cần phải để lại ô thoáng để chờ lắp đặt ống khói lò nung nên V5chỉ đạo các công nhân thi công để lại 01 tấm nhựa lợp mái, nhưng không được bắt vít và hàn vào thanh xà gồ tại vị trí giữa cột chữ I số 5 và số 6 để làm lỗ chờ của ống khói lò nung. Trong quá trình làm việc,

2

Vvà anh P2nhắc nhở bằng miệng đối với các công nhân khác phải lưu ý tấm nhựa này và cẩn thận khi di chuyển. Đến 16 giờ 45 phút ngày 10/10/2024, Vkhông có mặt tại hiện trường thi công; các anh T3và T4xin nghỉ không làm việc; còn các anh PĐT1P1N1T2đang làm việc ở trên mái, kéo tấm nhựa để lợp phần máng nước mưa giữa hai phần mái của xưởng nung gạch; Khi anh P3di chuyển ở vị trí giữa cột chữ I số 5 và số 6, do không cẩn thận anh P4chân vào phần đuôi của tấm mái nhựa chưa được bắt vít và hàn vào thanh xà gồ, nên tấm nhựa bị gãy, làm anh P5trượt ngã từ độ cao 7,4 mét xuống nền nhà xưởng và tử vong tại chỗ. Sau khi xảy ra sự việc, anh Lương Văn D đã trình báo đến công an xã L

Kết quả khám nghiệm hiện trường xác định: Hiện trường xảy ra vụ việc được xác định tại lối đi giữa lò nung và bãi chứa gạch mộc của công ty Gthuộc thôn T, xã L, thành phố H không còn nguyên vẹn. Lối đi rộng 1,8m bề mặt xi măng, bằng phẳng, phía bắc giáp bãi chứa gạch mộc và nguyên liệu; phía nam giáp lò nung cao 2,5m, phía đông hướng lối dẫn ra cổng chính của công ty, phía nam là đường cụt. Tại lối đi có các trụ cột chữ “I” bằng kim loại cách đều nhau 5,9m. Tại khoảng cách giữa cột trụ chữ “I” thứ 5 và 6 có 2 mảnh tôn nhựa màu xanh dương liền kề với cột trụ chữ “I” thứ 5 bị gãy gập xuống mặt đất, điểm thấp nhất của mảnh tôn nhựa cách nền là 5,4 mét. Vị trí anh Ngô Văn P1 xuống được xác định tại phần mái nhựa bị gãy liền kề cột chữ “I” thứ 5. Anh P6xuống nền đất cạnh chân cột trụ chữ “I” thứ 5, giáp bãi mộc (bãi nguyên liệu), cách khung mái nhà 7,4 mét. Khu vực mái của lò nung không đảm bảo an toàn để tiến hành khám nghiệm mặt trên của mái.

Tại bản Kết luận giám định tử thi số 333/KLGĐTT-TTPY ngày 28/10/2024 của Trung tâm pháp y, Sở Yxác định anh Ngô Văn P2 dấu vết thương tích chính sau: Chảy máu ống tai trái; Sưng nề bầm tím và sây sát da vùng đỉnh chẩm gáy ưu thế bên phải, sờ nắn thấy cột sống cổ mất vững; Gãy đốt 1 ngón 5 tay trái; Sây sát da nhiều nơi trên cơ thể; Giải phẫu vùng cổ: Tụ máu vùng đỉnh chẩm gáy. Gãy rời đốt sống cổ C1-C2 kèm nhiều máu và tủy sống thoát ra ngoài. Kết luận nguyên nhân chết của anh Ngô Văn P: Chấn thương cột sống cổ, liệt tủy + Đa chấn thương phối hợp.

Tại bản Kết luận giám định độc chất số 694/937/24/KLGĐĐC-PYQG ngày 24/10/2024 của V1và bản Kết luận số 422/KLGĐĐC-TTPY ngày 11/10/2024 của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh Y tìm thấy Echất ma túy trong mẫu máu ghi thu của anh Ngô Văn P

Hành vi nêu trên của Phạm V5vi phạm Điều 2.7 Mục 2 của QCVN 18:2021/BXD Quy chuẩn Kỹ thuật Quốc gia an toàn trong thi công công trình xây dựng do Bộ X1hành ngày 20/12/2021.

Tại bản Cáo trạng số 1509/CT – VKSHL ngày 17/02/2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh đã truy tố bị cáo Phạm V1 T2“Vi phạm quy định về an toàn lao động”, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 295 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như tóm tắt nội dung vụ án đã nêu và thừa

3

nhận bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh truy tố đúng người, đúng tội.

Đại diện hợp pháp của bị hại là anh Ngô Văn T2 diện Công ty cổ phần G5 xin xử vắng mặt.

Trong đơn xin xử vắng mặt anh Ngô Văn T3 Văn D đề nghị giữ nguyên lời khai trong quá trình điều tra. Ngoài ra, anh T đề nghị xin giảm nhẹ cho bị cáo; về bồi thường dân sự gia đình anh T5nhận tiền bồi thường, không yêu cầu gì khác. Đối với số tiền 99.800.000 đồng (chín mươi chín triệu tám trăm nghìn đồng) mà Công ty cổ phần G1 và Phạm V đã tự nguyện hỗ trợ cho gia đình bị hại, công ty cũng không yêu cầu gì khác về số tiền này.

Những người làm chứng anh N1mặt tại phiên toà, trong hồ sơ có lời khai thể hiện về thời gian, địa điểm xảy ra vụ việc (tại các bút lục 133 – 144; bút lục 146 - 149).

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về hình phạt chính: áp dụng điểm a khoản 1 Điều 295; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 3 Điều 54; các khoản 1,2,5 Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: bị cáo Phạm V với mức hình phạt từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động”, cho hưởng án treo; thời gian thử thách từ 18 (mười tám) tháng đến 24 (hai mươi bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 17/3/2025).

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã L(nơi bị cáo đang cư trú) để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình của bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã L, giáo dục bị cáo.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo

Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: gia đình bị hại đã nhận tiền bồi thường của bị cáo và tiền hỗ trợ của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; không ai có yêu cầu gì khác nên không đề cập giải quyết.

Về vật chứng thu giữ cần phải xử lý không có nên không đề cập giải quyết.

Bị cáo không tranh luận với quan điểm giải quyết vụ án của Viện kiểm sát;

Tại lời nói sau cùng, bị cáo trình bày đã nhận thức được hành vi phạm tội và do hoàn cảnh khó khăn, bị cáo từ miền T Hlao động để nuôi gia đình, bị cáo xin được giảm hình phạt, cải tạo tại địa phương để có điều kiện chăm lo cho con cái còn nhỏ .

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về chứng cứ, tài liệu và hành vi, quyết định tố tụng: những chứng cứ, tài liệu và hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố H, của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, của Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, đại diện bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về những chứng cứ, tài liệu và hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các chứng cứ, tài liệu và hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh và hình phạt:

2.1. Về tội danh:

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa liên quan, người làm chứng và phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, bản ảnh hiện trường, kết luận giám định tử thi; kết luận giám định độc chất cùng với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 16 giờ 45 phút ngày 10/10/2024, trong quá trình thi công lợp tấm nhựa tại khu vực mái xưởng lò nung gạch của công ty Cổ phần G, xã L, thành phố H trực tiếp thuê, giao việc và chỉ đạo anh Ngô Văn P3 công nhân khác thi công lợp tấm nhựa mái lò nung. Bị cáo Phạm V5có hành vi không thực hiện biện pháp đảm bảo an toàn lao động trong thi công như: không lập kế hoạch, không kiểm tra giám sát chặt chẽ, không lắp đặt lưới, lan can an toàn, không trang bị dây đai an toàn cho người lao động khi làm việc trên cao, nên dẫn đến tai nạn lao động, hậu quả khiến anh Ngô Văn P4, do bị trượt ngã rơi xuống nền xưởng khi đang di chuyển trên mái xưởng có độ cao 7,4 mét.

Hành vi nêu trên của bị cáo Phạm Vđã V2 P10Điều 2.7 Mục 2 của QCVN 18:2021/BXD Quy chuẩn Kỹ thuật Quốc gia an toàn trong thi công công trình xây dựng do Bộ X1hành ngày 20/12/2021 kèm theo Thông tư số 16 ngày 20/12/2021 của Bộ X1 cho các tổ chức và cá nhân có liên quan đến hoạt động xây dựng công trình, an toàn công trình xây dựng.

Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo, đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 295 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long truy tố là đúng người, đúng tội, có căn cứ pháp luật.

2.2. Về hình phạt:

2.2.1. Về hình phạt chính:

- Xét về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo là thợ cơ khí tự do, chưa được tập huấn về an toàn lao động hoặc có chứng chỉ bồi dưỡng về an toàn lao động nhưng bản thân bị cáo cũng nhận thức được về các nguy

5

cơ mất an toàn khi làm việc trên cao, nên đã thường xuyên nhắc nhở nhóm thợ về vị trí nguy hiểm, cần thận trọng. Tuy nhiên, do chủ quan bị cáo không trang bị dây bảo hộ hoặc các biện pháp an toàn, cũng như giám sát chặt chẽ khi nhóm thợ thi công nên đã dẫn đến tai nạn lao động. Hành vi của bị cáo không chỉ xâm phạm đến trật tự an toàn lao động tại công trình xây dựng là khách thể được pháp luật bảo vệ mà còn gây ra hậu quả rất nghiêm trọng dẫn đến chết người. Vì vậy, cần áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo để tăng cường giáo dục riêng và ngăn ngừa tội phạm chung.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã bồi thường thiệt hại và bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt. Vì vậy, có căn cứ cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

2.2.2. Về hình phạt bổ sung:

Theo quy định tại khoản 5 Điều 295 Bộ luật Hình sự, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền hoặc bị cấm hành nghề hoặc công việc nhất định. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo hoàn cảnh khó khăn, công việc lao động tự do để kiếm sống nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[3] Về việc chấp hành hình phạt chính:

Hội đồng xét xử thấy rằng bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trong đó có hai tình tiết quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự và sự việc xảy ra ngoài mong muốn của bị cáo. Vì vậy, có thể xem xét, không cần thiết phải buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù mà cho bị cáo được hưởng án treo, tự cải tạo, có sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú như đại diện viện kiểm sát và đại diện bị hại đề nghị cũng đảm bảo tính răn đe; việc này không gây nguy hiểm, ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội và phù hợp với hướng dẫn tại Nghị quyết số 02 ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao “Về việc hướng dẫn Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo”.

[ 4] Về biện pháp ngăn chặn: Hội đồng xem xét cho bị cáo được hưởng án treo nên hủy biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” và “Tạm hoãn xuất cảnh” đối với bị cáo.

[5] Về trách nhiệm dân sự: bị hại đã nhận tiền bồi thường của gia đình bị cáo và tiền hỗ trợ từ người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, không có đề nghị gì khác nên không đề cập giải quyết.

[6] Về xử lý vật chứng: vật chứng thu giữ cần phải xử lý không có nên không đề cập giải quyết.

[7] Về nghĩa vụ chịu án phí: bị cáo phải chịu 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.

[8] Về quyền kháng cáo: bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự.

6

[9] Về trách nhiệm của Công ty cổ phần G1, đã ký hợp đồng giao khoán nhân công xây dựng với bị cáo Phạm Vui .Tại Hợp đồng cũng đã nêu rõ trách nhiệm của Vtrong việc đảm bảo an toàn thi công tại công trình. Vì vậy, việc không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Công ty cổ phần G1 là có căn cứ. Tuy nhiên, kiến nghị Công ty cổ phần G6 nâng cao công tác giám sát các đơn vị thi công trên công trình, nhắc nhở các đơn vị thi công thực hiện đầy đủ các biện pháp đảm bảo an toàn, kịp thời ngăn chặn tai nạn lao động có thể xảy ra.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ: điểm a khoản 1 Điều 295, điểm b và s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; các khoản 1, 2,5 Điều 65 Bộ luật Hình sự;

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Vphạm T6“Vi phạm quy định về an toàn lao động”.

Xử phạt: Bị cáo Phạm V 12 (mười hai) tháng tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách 24 (hai mươi bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 17/3/2025).

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã L, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh(nơi bị cáo đang cư trú) để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình của bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã L, giáo dục bị cáo.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

- Căn cứ : điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” và “Tạm hoãn xuất cảnh” đối với bị cáo Phạm Vui .

- Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBNTQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án và Danh mục án phí Toà án kèm theo Nghị quyết.

Buộc bị cáo Phạm V6nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách Nhà nước.

- Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Bị cáo có mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản được niêm yết.

7

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Đại diện bị hại, người có QLNVLQ;
  • - VKSND tp. Hạ Long;
  • - CQCSĐT Công an tỉnh QN;
  • - Chi cục THADS tp. Hạ Long;
  • - Cơ quan THAHS CA tỉnh QN;
  • - UBND xã Lê Lợi, tp Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh;
  • - TAND, VKSND tỉnh Quảng Ninh;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ninh;
  • - Lưu hồ sơ, VP./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lương Thanh Thúy

8

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 61/2025/HS-ST ngày 17/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH về vi phạm quy định về an toàn lao động (hình sự)

  • Số bản án: 61/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về an toàn lao động (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bị cáo phạm vui "vi phạm quy định về an toàn lao động"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger