|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐẮK LẮK Bản án số: 61/2025/HS-ST Ngày 13 – 3 – 2025. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Y Kăn Niê.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tiến Dũng, bà Trần Thị Liên.
Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Văn Nam – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột tham gia phiên tòa: Ông Lê Minh Thuận – Chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 13/3/2025, tại Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 49/2025/HSST, ngày 18 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 61/2025/QĐXXST-HS ngày 03/3/2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Phạm Văn C (Tên gọi khác: Không) – Sinh ngày 08/12/1966, tại: tỉnh Nam Định. Nơi cư trú: Số G đường N, tổ dân phố G, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn H và con bà Trần Thị C1 (đều đã chết); bị cáo có vợ tên Bùi Thị N, sinh năm 1967 và có hai con, con lớn sinh năm 1990, con nhỏ sinh năm 1998;
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/12/2024 cho đến nay – Có mặt tại phiên toà.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Bùi Thị N, sinh năm 1967. Địa chỉ: Số G đường N, tổ dân phố G, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. (Có mặt)
* Người chứng kiến:
- Ông Lê Xuân H1, sinh năm 1958. Địa chỉ: Số A N, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. (Vắng mặt)
- Ông Nguyễn Quang T, sinh năm 1985. Địa chỉ: Tổ dân phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phạm Văn C là người sử dụng ma túy loại Heroin từ năm 2013 đến nay. Qua những người sử dụng ma túy khác (Chưa xác định được nhân thân, lai lịch) thì C biết được tại khu vực bãi đất trống đường Y, phường T, thành phố B có một người phụ nữ (Chưa xác định được nhân thân, lai lịch) có bán ma túy Heroin. Trưa ngày 16/12/2024, C điều khiển xe mô tô gắn biển số 47B2 - 244.52, một mình đi đến hẻm C đường Y, phường T, thành phố B tìm người mua ma túy Heroin, mục đích về để sử dụng cho bản thân. Tại đây, C thấy một người phụ nữ (Chưa xác định được nhân thân, lai lịch) liền lại gần để hỏi mua 01 (Một) túi ma tuý Heroin thì người phụ nữ này bán cho C với số tiền 500.000 đồng. Sau khi mua được ma tuý, C cất giấu trong túi sau, bên trái quần đang mặc rồi điều khiển xe mô tô tìm nơi để sử dụng. Khi C đang đi tại hẻm C đường Y, phường T, thành phố B, chưa kịp sử dụng ma tuý thì bị Công an phường T, thành phố B phát hiện bắt quả tang, tạm giữ, niêm phong tang vật theo quy định.
Tiến hành đưa Phạm Văn C xét nghiệm chất ma tuý tại Bệnh viện đa khoa thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Kết quả: Phạm Văn C dương tính với chất ma tuý loại MOP (Morphin/Heroin).
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 10/KL-KTHS ngày 24 tháng 12 năm 2024 của Phòng K - Công an tỉnh Đ kết luận: Chất rắn dạng cục màu trắng bên trong 01 (một) túi nylon màu trắng (dạng túi Zip) được niêm phong gửi giám định là Ma túy, có khối lượng: 0,2457 gam, loại: Heroine (H3), có tên khoa học là D, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.
Tại Kết luận giám định số: 122/KL-KTHS, ngày 04 tháng 01 năm 2025 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận: Xe mô tô gắn biển số 47B2 - 244.52, số khung C100M0088637: Không thay đổi, số máy C100ME0088637: Không thay đổi; biển số 47B2 - 244.52: Là biển số thật.
Tại bản Cáo trạng số 57/CT-VKS-BMT ngày 17/02 /2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột truy tố bị cáo Phạm Văn C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội đúng như lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và nội dung bản cáo trạng.
Quá trình tranh luận, đại diện Viện kiểm sát đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và giữ nguyên nội dung bản cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phạm Văn C, phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt Phạm Văn C từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, 47 và 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu, tiêu huỷ: Mẫu vật còn lại sau giám định chất rắn dạng cục màu trắng có khối lượng 0,2045 gam và toàn bộ bao gói đựng mẫu vật gửi giám định ban đầu, được niêm phong trong 01 (một) phong bì ghi "Mẫu vật còn lại sau giám định vụ Phạm Văn C", có các chữ ký ghi tên: Nguyễn Anh T1, Nguyễn Bá H2 và đóng dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh Đ.
- Tịch thu sung công quỹ nhà nước: 01 (Một) xe mô tô, loại xe: Hai bánh từ 50 - 175 cm³, nhãn hiệu: HONDA, số loại: DREAM, số khung C100M0088637, số máy C100ME0088637, màu sơn: Nâu, dung tích xy lanh: 97 cm³, biển số 47B2 244.52, là công cụ phương tiện bị cáo Phạm Văn C sử dụng vào việc phạm tội.
Về trách nhiệm dân sự: Không.
Bị cáo Phạm Văn C; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Bùi Thị N không tranh luận, bị cáo chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và phù hợp với các chứng cứ, tài liệu thu thập được có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy, có đủ cơ sở để kết luận: Ngày 16/12/2024, tại khu vực hẻm C đường Y, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Bị cáo Phạm Văn C có hành vi cất giấu: 0,2457 gam ma tuý, loại: Heroin, với mục đích để sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang và tạm giữ cùng tang vật xử lý theo quy định của pháp luật.
Hội đồng xét xử xác định hành vi của bị cáo Phạm Văn C đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột truy tố bị cáo Phạm Văn C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.
Điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
...
c) Heroine, C2, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
...”
[3] Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến trật tự quản lý Nhà nước về việc cất giữ, vận chuyển, trao đổi chất ma tuý, nguyên nhân gây mất ổn định trị an xã hội, ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống, sức khoẻ con người, gia tăng các tệ nạn xã hội. Bị cáo có đủ năng lực hành vi dân sự để nhận thức được ma túy là chất gây nghiện, làm hủy hoại sức khỏe con người, mọi hành vi mua bán, sử dụng, tàng trữ trái phép đều bị pháp luật nghiêm cấm. Nhưng do ý thức coi thường pháp luật, bị cáo đã tàng trữ trái phép chất ma tuý để sử dụng. Vì vậy, bị cáo hoàn toàn phải chịu trách nhiệm về hành vi phạm tội của mình gây ra.
[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết giảm nhẹ: Xét thấy trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Thể hiện chính sách nhân đạo, khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội.
Về tình tiết tăng nặng: Không.
Với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng mức hình phạt cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, đồng thời có tác dụng răn đe, phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.
[5] Các biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Đối với mẫu vật còn lại sau giám định chất rắn dạng cục màu trắng có khối lượng 0,2045 gam và toàn bộ bao gói đựng mẫu vật gửi giám định ban đầu, được niêm phong trong 01 (một) phong bì ghi "Mẫu vật còn lại sau giám định vụ Phạm Văn C", có các chữ ký ghi tên: Nguyễn Anh T1, Nguyễn Bá H2 và đóng dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh Đ là tang vật của vụ án cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 (Một) xe mô tô, loại xe: Hai bánh từ 50-175 cm³, nhãn hiệu: HONDA, số loại: DREAM, số khung C100M0088637, số máy C100ME0088637, màu sơn: Nâu, dung tích xy lanh: 97 cm³, biển số 47B2 244.52 là công cụ phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội. Tại phiên toà người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Bùi Thị N xác định xe mô tô biển số 47B2 244.52 là tài sản chung được tạo lập trong quá trình hôn nhân giữa bà N và bị cáo C. Tuy nhiên, bà N không có nguyện vọng nhận lại và không có ý kiến về việc xử lý vật chứng nên cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước đối với chiếc xe trên là phù hợp.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Không có nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[7] Về hành vi và các đối tượng liên quan:
- Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo Phạm Văn C, Công an thành phố B ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức Cảnh cáo theo quy định tại khoản 1, Điều 23, Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ là phù hợp.
- Đối với nguồn gốc chất ma túy Heroin trong vụ án, bị cáo Phạm Văn C khai nhận mua của người phụ nữ tại khu vực hẻm C đường Y, phường T, thành phố B, Đắk Lắk. Cơ quan Cánh sát điều tra đã tiến hành xác minh nhưng chưa xác định được nhân thân, lai lịch của đối tượng này. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra tách hành vi của đối tượng này ra khỏi vụ án để tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau là có căn cứ.
- Quá trình điều tra: Bị cáo Phạm Văn C khai nhận vào tối ngày 14/12/2024 mua ma tuý Heroin của một người phụ nữ (Chưa xác định được nhân thân, lai lịch) tại khu vực nghĩa trang đường V, phường T, thành phố B tỉnh Đắk Lắk đã sử dụng hết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không đủ căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo về hành vi này là phù hợp nên cần chấp nhận.
[8] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Phạm Văn C phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Tuyên bố bị cáo Phạm Văn C phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Phạm Văn C: 01 (Một) năm 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam, ngày 16/12/2024.
[2] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, 47 và 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu, tiêu huỷ: Mẫu vật còn lại sau giám định chất rắn dạng cục màu trắng có khối lượng 0,2045 gam và toàn bộ bao gói đựng mẫu vật gửi giám định ban đầu, được niêm phong trong 01 (một) phong bì, số: 10, ghi "Mẫu vật còn lại sau giám định vụ Phạm Văn C", có các chữ ký ghi tên: Nguyễn Anh T1, Nguyễn Bá H2 và đóng dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh Đ.
- Tịch thu sung công quỹ nhà nước: 01 (Một) xe mô tô, loại xe: Hai bánh từ 50-175 cm³, nhãn hiệu: HONDA, số loại: DREAM, số khung C100M0088637, số máy C100ME0088637, màu sơn: Nâu, dung tích xy lanh: 97 cm³, biển số 47B2 244.52 tình trạng xe cũ đã qua sử dụng, bị cáo Phạm Văn C sử dụng làm công cụ phương tiện phạm tội.
Vật chứng có đặc điểm cụ thể theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 18/02/2025 giữa Công an thành phố B và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột).
[3] Về trách nhiệm dân sự: Không.
[4] Về án phí: Bị cáo Phạm Văn C phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[5] Quyền kháng cáo: Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Y Kăn Niê |
Bản án số 61/2025/HS-ST ngày 13/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK về hình sự sơ thẩm (tàng trữ trái phép chất ma tuý)
- Số bản án: 61/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tàng trữ trái phép chất ma tuý)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Văn C - Tàng trữ trái phép chất ma tuý
