Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHỢ MỚI

TỈNH AN GIANG

 

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 61/2025/HNGĐ-ST.

Ngày: 13/3/2025.

V/v tranh chấp HNGĐ - Ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Bình.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Văn Tâm; bà Phan Thị Nga.

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Thảo - Thư ký Toà án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang: Bà Đoàn Thụy Thùy Trang – Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 836/2024/TLST-HNGĐ, ngày 10 tháng 12 năm 2024, về việc “tranh chấp ly hôn, nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 95/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Phan Thị Kiều M, sinh năm 1998; nơi cư trú: số F hẻm F, đường T, khóm A, phường D, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp. Có đơn xin vắng mặt.
  2. Bị đơn: Ông Lê Hoàng V, sinh năm 1995; nơi cư trú: số C tổ A, ấp A, xã H, huyện C, tỉnh An Giang. Đang chấp hành tại Trại giam M1 – Cục C – Bộ C1. Có đơn xin vắng mặt.
  3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Lê Thị Kim T, sinh năm 1974; nơi cư trú: số C tổ A, ấp A, xã H, huyện C, tỉnh An Giang. Có đơn xin vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn bà Phan Thị Kiều M trình bày: bà và ông Lê Hoàng V do tìm hiểu, quen biết tiến tới hôn nhân năm 2017, có đăng ký kết hôn theo quy định. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được 2 năm thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm thường xuyên cự cải nhau và không còn chung sống với nhau từ đầu năm 2020, đến năm 2023 thì ông V vi phạm pháp luật và đang chấp hành án tại Trại giam M1 cho đến nay. Nhận thấy tình cảm không còn nên yêu cầu được ly hôn với ông Lê Hoàng V.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Lê Phan Việt T1, sinh ngày 7/7/2018 hiện đang sống với mẹ chồng là bà Lê Thị Kim T. Khi ly hôn bà M đồng ý để bà T được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung.

Về tài sản chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có.

Bị đơn ông Lê Hoàng V trình bày: ông và bà M tự tìm hiểu và kết hôn vào năm 2017, có đăng ký kết hôn, chung sống đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bà M có quan hệ bất chính với người khác bên ngoài, đến năm 2020 thì không còn chung sống với nhau. Nay bà M xin ly hôn ông đồng ý.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Lê Phan Việt T1, sinh ngày 7/7/2018 khi vợ chồng không chung sống với nhau do ông trực tiếp nuôi dưỡng, do ông vi phạm pháp luật hiện đang chấp hành án tại Trại giam M1 thì con chung do mẹ là Lê Thị Kim T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Khi ly hôn yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung, vì bà M đã có gia đình khác, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: bà Lê Thị Kim T trình bày bà là mẹ ruột của Lê Hoàng V; vợ chồng M và V ly hôn bà không có ý kiến; về con chung thì M và V có 01 con chung tên Lê Phan Việt T1, sinh ngày 7/7/2018 hiện do bà trực tiếp nuôi dưỡng; M sinh con nhưng không trực tiếp nuôi dưỡng do tôi và V chăm sóc nuôi dưỡng từ lúc T1 6,7 tháng tuổi cho đến nay nên yêu cầu để cho V và tôi trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu T1 cho đến khi trưởng thành.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng với quy định của pháp luật. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt là đúng quy định. Về ý kiến về việc giải quyết vụ án: Về hôn nhân: bà M và ông V đồng ý thuận tình ly hôn nên đề nghị công nhận; về con chung đề nghị giao con chung cho ông V bà T nuôi dưỡng. Về tài sản chung, nợ chung: Không có, nên không đề cập giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1].Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn có nơi cư trú tại xã H, huyện C, tỉnh An Giang, nên Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại các Điều 28, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có đơn xin vắng mặt. Căn cứ vào Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

[2].Về nội dung tranh chấp: bà M và ông V kết hôn năm 2017 và có đăng ký kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình nên quan hệ hôn nhân giữa được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Theo bà M trình bày, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn và không còn chung sống với nhau từ đó đến nay. Nhận thấy tình cảm không còn nên bà M xin ly hôn ông Lê Hoàng V đồng ý do. Căn cứ Điều 55 Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử công nhận việc thuận tình ly hôn giữa bà M và ông V.

[3] Về quan hệ con chung: vợ chồng có 01 con chung tên Lê Phan Việt T1, sinh ngày 7/7/2018 hiện đang sống với bà Lê Thị Kim T. Khi ly hôn ông V và mẹ ruột là bà T yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung, bà M đồng ý để ông V bà T là mẹ chồng được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung bà tự nguyện cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 đồng. Tòa án tiến hành ghi nhận ý kiến cháu T1 thì nguyện vọng các cháu mong muốn được sống với ông V bà T. Xét thấy, từ nguyện thỏa thuận giữa các bên là phù hợp nên hội đồng xét xử công nhận. Vì vậy, nghĩ nên giao con chung cho ông V và bà T chăm sóc, nuôi dưỡng, ghi nhận sự tự nguyện của bà M cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 đồng cho đến khi con chung trưởng thành.

[4] Về quan hệ tài sản chung: không yêu cầu giải quyết.

[5] Về quan hệ nợ chung: không có.

[6] Án phí hôn nhân sơ thẩm: bà M phải chịu là 300.000₫.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 144, Điều 147, Điều 227 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điều 55, 80, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  • - Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa bà Phan Thị Kiều M và ông Lê Hoàng V.
  • - Về quan hệ con chung: ông Lê Hoàng V và bà Lê Thị Kim T được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng 01 cháu Phan Việt T1, sinh ngày 7/7/2018.

Ghi nhận sự tự nguyện của bà Phan Thị Kiều M tự nguyện cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 đồng. Thời điểm cấp dưỡng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm cho đến khi con chung của hai bên đương sự đủ 18 tuổi hoặc khi nghĩa vụ cấp dưỡng được chấm dứt theo các trường hợp quy định tại Điều 118 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Ông V bà T cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở bà M trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

  • - Về quan hệ tài sản chung: các bên không yêu cầu giải quyết.
  • - Về quan hệ nợ chung: Không có. Ghi nhận việc bà M, ông V xác định không có nợ chung trong thời kỳ hôn nhân, nhưng sau khi quyết định ly hôn có hiệu lực pháp luật, nếu có người khởi kiện xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, thì bà M, ông V phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.
  • - Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: 150.000 (Ba trăm nghìn) đồng, bà Phan Thị Kiều M phải chịu, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, theo biên lai thu số 0023793 do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang cấp ngày 10/12/2024. Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới hoàn lại cho bà Phan Thị Kiều M được nhận lại số tiền 150.000 đồng.

Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - Chi cục THADS huyện Chợ Mới;
  • - VKSND huyện Chợ Mới;
  • - UBND xã nơi đăng ký kết hôn
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thanh Bình

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 61/2025/HNGĐ-ST ngày 13/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hôn nhân và gia đình - ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 61/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và Gia đình - Ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn xin ly hôn vì tình cảm không còn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger