Mẫu số 52-DS
|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 61/2025/DS-ST Ngày: 21-02-2025 V/v tranh chấp Hợp đồng vay tài sản, hợp đồng cầm cố tài sản và hợp đồng mượn tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Bé Thu
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Ngọc Nguyên và ông Trần Thanh Việt.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lý Ngọc Dung, là Thư ký Tòa án, của Tòa án nhân
dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân thành phố Long Xuyên tham gia phiên toà:
Bà Tạ Kim Oanh – Kiểm sát viên.
Trong ngày 21 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 1218/2024/TLST-DS, ngày 15 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản, hợp đồng cầm cố, hợp đồng mượn tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2025/QĐXXST-DS, ngày 03 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Công ty Cổ phần S (Viết tắt là Công ty S)
Trụ sở: 128 đường N, phường B, thành phố V, tỉnh Nghệ An.
Người đại diện theo pháp luật: KANOKWATPAISAL NAPAT – Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Hà V, sinh năm 1983 (Vắng mặt).
Địa chỉ liên hệ: 187 đường L, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. Theo
Giấy ủy quyền số 1983/2024/UQ-SVN, ngày 01/01/2024 của Công ty S.
Bị đơn: Ông Trần Văn T, sinh năm 1973 (Vắng mặt)
Cư trú: Số A, tổ G, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Căn cứ đơn khởi kiện ngày 25/10/2024 nguyên đơn thể hiện nội dung và yêu cầu khởi kiện như sau:
Ngày 06/12/2023 ông Trần Văn T và chi nhánh C - Công ty TNHH S1 (nay là Công ty S) có ký hợp đồng cầm cố số LJM2312010.08.NA21X với nội dung cụ thể như sau:
1/ Tài sản cầm cố: xe máy 02 bánh biển kiểm soát 67B2-733.42 do Phòng C1 Công an tỉnh A cấp ngày 17/3/2022 cho Trần Văn T (số máy JK01E0252052; số khung RLHJK011XMZ674079);
2/ Số tiền cầm cố 33.010.000 đồng; thời hạn cầm cố 24 tháng; mục đích cầm cố phục vụ tiêu dùng cá nhân và kinh doanh; ngày nhận tiền cầm cố 06/12/2023; lãi suất cầm cố 1,1% số tiền cầm cố/tháng; phí quản lý hồ sơ cố định 0,5% số tiền cầm cố/tháng; lãi suất quá hạn 4% số tiền quá hạn thanh toán/tính từ thời điểm phát sinh nợ quá hạn; phí mượn xe 5% số tiền cầm cố/tháng; phí phạt vi phạm nghĩa vụ thanh toán 8% giá trị phần nghĩa vụ bị vi phạm; phí tất toán hợp đồng trước hạn: 7% nợ gốc chưa thanh toán; chi phí tố tụng 10% trên dư nợ gốc, lãi, phí quản lý hồ sơ cố định chưa thanh toán.
Do nhu cầu đi lại phục vụ công việc nên ngày 06/12/2023 ông T có đơn xin mượn lại tài sản cầm cố với nội dung như sau:
- - Thời hạn mượn là 30 ngày: từ ngày 06/12/2023 đến ngày 06/01/2024;
- - Phí bảo dưỡng và hao mòn xe khi mượn là 1.650.500 đồng/tháng;
- - Khi khách hàng thanh toán đúng hạn phí bảo dưỡng và hao mòn xe khi mượn là 825.250 đồng/tháng (trong vòng 05 ngày tính từ ngày thanh toán hằng tháng);
Công ty đã đồng ý cho khách hàng mượn tài sản nêu trên theo nguyện vọng và khách hàng cam kết thực hiện đúng nội dung đã ký cam kết trên hợp đồng và giấy mượn xe, giấy tờ khác liên quan. Ông T có cam kết trong giấy mượn xe “Hoàn trả lại tài sản mượn đúng thời hạn và địa điểm đã thỏa thuận” theo yêu cầu của công ty.
Khi ký kết hợp đồng cầm cố thì hai bên tiến hành lập hợp đồng và phụ lục hợp đồng kèm theo hợp đồng chính. Trong nội dung phụ lục hợp đồng, bên cầm cố tài sản đồng ý cho công ty có quyền được cho thuê, cho mượn, khai thác công dụng tài sản cầm cố và hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản cầm cố và không hoàn trả hoa lợi, lợi tức đó cho khách hàng khi hợp đồng chấm dứt. Thỏa thuận mượn xe thực hiện đúng quyền của bên nhận cầm cố nên việc cầm cố tài sản và cho mượn tài sản công ty là đúng quy định pháp luật.
Để bảo đảm cho hợp đồng cầm cố tài sản số LJM2312010.08.NA21X ký ngày 06/12/2023 khách hàng đã thế chấp chiếc xe cầm cố nêu trên. Việc thế chấp được công ty đăng ký giao dịch bảo đảm trên hệ thống trực tuyến của cục Đ.
Quá trình thực hiện hợp đồng cầm cố Công ty S đã giải ngân cho khách hàng số tiền là 33.010.000 đồng theo đề nghị cầm cố và hợp đồng cầm cố sổ LJM2312010.08.NA21X ký ngày 06/12/2023. Ông T chưa thanh toán được khoản nào cho công ty.
Đối với hợp đồng mượn xe ông T không thực hiện đúng nghĩa vụ cam kết và đã hết thời gian mượn xe không bàn giao lại tài sản cho công ty. Công ty đã yêu cầu ông T bàn giao lại tài sản nhưng ông T không thực hiện.
Do đó, Công ty S khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:
- - Buộc ông T phải thanh toán cho Công ty S số tiền tạm tính đến ngày 25/10/2024 là 64.985.923 đồng. Trong đó: tiền gốc 33.010.000 đồng; tiền lãi trong hạn 4.814.389 đồng; lãi quá hạn 3.516.676 đồng; phí mượn xe là 16.505.000 đồng; phí quản lý hồ sơ cố định 2.188.359 đồng; phí tất toán trước hẹn 2.310.700 đồng; phạt vi phạm nghĩa vụ 2.640.800 đồng.
- - Ngoài ra ông T còn phải tiếp tục chịu lãi suất, phí phát sinh theo hợp đồng cầm cố và giấy mượn kể từ ngày 25/10/2024 cho đến khi thanh toán xong nợ.
- - Trường hợp ông T không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ nêu trên thì Công ty S được yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên, xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi khoản nợ cho Công ty S.
- - Trường hợp số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì ông T vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ cho Công ty S.
Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bị đơn ông Trần Văn T vắng mặt nên không có ý kiến trình bày.
Tại phiên tòa ngày 21 tháng 02 năm 2025: Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn vắng mặt nên không có ý kiến.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
- - Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Đảm bảo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
- - Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng Dân sự; bị đơn không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
- - Về việc giải quyết vụ án:
- + Đề nghị chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với yêu cầu trả nợ gốc 33.010.000 đồng; lãi suất cầm cố 1,1%/tháng; lãi quá hạn 150% lãi trong hạn; phí quản lý hồ sơ ; phí phạt vi phạm nghĩa vụ; yêu cầu xử lý tài sản cầm cố;
- + Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện trả phí mượn xe, phí tất toán trước hạn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Công ty S khởi kiện yêu cầu ông T thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng vay, hợp đồng cầm cố, hợp đồng mượn tài sản. Ông T có nơi cư trú tại thành phố L, tỉnh An Giang. Do đó, Hội đồng xét xử xác định đây là tranh chấp về hợp đồng dân sự quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng Dân sự nên căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên thụ lý là đúng thẩm quyền.
[2] Về thủ tục tố tụng:
[2.1] Nguyên đơn ủy quyền cho bà V. Việc ủy quyền phù hợp với quy định pháp luật. Do đó, bà V tham gia với tư cách người đại diện theo ủy quyền cho nguyên đơn theo quy định tại khoản 4 Điều 85 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
[2.2] Bà V vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; ông T được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự: Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt bà V, ông T.
[3] Về nội dung vụ án: Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bị đơn không có ý kiến trình bày, không tham dự các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, không tham gia phiên tòa mà Tòa án triệu tập nên Hội đồng xét xử không có căn cứ để xác định bị đơn đã thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ cho nguyên đơn hay chưa.
[4] Hội đồng xét xử nhận thấy:
[4.1] Đối với yêu cầu trả số tiền 33.010.000 đồng: Mặc dù giữa nguyên đơn và bị đơn không có xác lập hợp đồng vay tài sản. Tuy nhiên, căn cứ vào “Hợp đồng cầm cố số LJM2312010.08.NA21X ký ngày 06/12/2023” ký với Chi nhánh C - Công ty TNHH S1 thể hiện số tiền ông T vay là 33.010.000 đồng. Hai bên thỏa thuận phương thức thanh toán là 1.667.197,81 đồng/tháng. Thời hạn thanh toán là vào ngày 06 hằng tháng, từ tháng 01/2024 đến tháng 12/2025. Tuy nhiên, phía ông T đã không thực hiện đúng thỏa thuận nên nguyên đơn yêu cầu ông T trả số tiền gốc 33.010.000 đồng là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015 nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4.2] Đối với yêu cầu trả lãi: “Hợp đồng cầm cố số LJM2312010.08.NA21X ký ngày 06/12/2023” thể hiện quan hệ vay giữa hai bên là hợp đồng vay có kỳ hạn và có lãi. Đến hạn trả ông T đã không trả nợ như thỏa thuận cho nguyên đơn do đó nguyên đơn yêu cầu trả tiền lãi là phù hợp với quy định tại khoản 5 Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015 nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Mức lãi suất hai bên thỏa thuận là 1,1%/tháng; lãi quá hạn là 150% mức lãi suất trong hạn tương đương mức lãi suất 1,65%/tháng, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về thời gian và cách tính lãi: Nguyên đơn yêu cầu ông T trả lãi trong hạn là 3.484.646 đồng kể từ ngày 06/12/2023 đến ngày 06/02/2025 và lãi quá hạn là 7.480.066 đồng kể từ ngày 07/01/2024 đến ngày 21/02/2025 (Theo Bảng kê số tiền phải trả của Trần Văn T, ngày 21/02/2025). Tổng số tiền lãi yêu cầu là: 10.964.712 đồng.
Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy số tiền ông T vay được giải ngân vào ngày 06/12/2023, quá trình thực hiện hợp đồng vay ngay kỳ thanh toán đầu tiên là ngày 06/01/2024 ông T đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán và nguyên đơn đã chuyển toàn bộ khoản vay 33.010.000 đồng sang nợ quá hạn và tính lãi quá hạn. Do đó, Hội đồng xét xử chỉ chấp nhận yêu cầu trả số tiền lãi trong hạn của kỳ thanh toán đầu tiên từ ngày 06/12/2023 đến ngày 06/01/2024. Số tiền lãi trong hạn còn lại nguyên đơn yêu cầu ông T trả Hội đồng xét xử không chấp nhận vì phía nguyên đơn đã chuyển khoản vay này thành khoản vay quá hạn và tính lãi quá hạn 150% mức lãi suất trong hạn.
Số tiền lãi ông T phải trả cho nguyên đơn được Hội đồng xét xử chấp nhận cụ thể như sau:
- - Lãi trong hạn từ ngày 06/12/2023 đến ngày 06/01/2024 là 31 ngày: 33.010.000 đồng x 1,1%/tháng x 31 ngày = 375.214 đồng;
- - Lãi quá hạn từ ngày 07/01/2024 đến ngày 21/02/2025 là 412 ngày: 33.010.000 đồng x 1,65%/tháng x 412 ngày = 7.480.066 đồng.
Tổng số tiền lãi ông T phải trả cho nguyên đơn là: 7.855.280 đồng.
Số tiền lãi nguyên đơn yêu cầu không được Hội đồng xét xử chấp nhận là: 3.109.432 đồng.
Tổng số tiền gốc và lãi ông T có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn là: 40.865.280 đồng.
[4.3] Đối với yêu cầu trả phí quản lý hồ sơ cố định là 1.757.762 đồng và phí phạt vi phạm nghĩa vụ thanh toán 2.640.800 đồng: Các khoản phí này hai bên tự nguyện thỏa thuận khi giao kết hợp đồng không trái quy định pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4.4] Đối với yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm là 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại SH MODE, biển số 67B2-733.42, số khung RLHJK011XMZ674079, số máy JK01E0252052, Giấy chứng nhận đăng ký xe số 018774 do Phòng C1 Công an tỉnh A cấp ngày 17/3/2022 cho Trần Văn T để thi hành án trong trường hợp ông T không thực hiện nghĩa vụ trả nợ.
Hợp đồng cầm cố số LJM2312010.08.NA21X ký ngày 06/12/2023 được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản của Cục Đ thuộc Bộ Tư pháp vào ngày 25/01/2024. Trường hợp ông T không thanh toán số tiền trên, nguyên đơn yêu cầu xử lý tài sản đảm bảo là phù hợp Điều 299, Điều 303 Bộ luật Dân sự năm 2015 nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Trước thời điểm xử lý tài sản bảo đảm nếu ông T thực hiện xong nghĩa vụ với nguyên đơn thì nguyên đơn phải có nghĩa vụ hoàn trả lại tài sản cầm cố, cùng giấy chứng nhận đăng ký xe theo quy định tại Điều 316 Bộ luật Dân sự năm 2015.
[4.5] Đối với yêu cầu của nguyên đơn: Trường hợp số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ để thanh toán hết nợ thì ông T vẫn phải có nghĩa vụ trả
hết khoản nợ còn lại cho Công ty S. Yêu cầu này sẽ được xem xét trong giai đoạn thi hành bản án của Tòa án nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4.6] Đối với yêu cầu trả phí mượn xe 23.107.000 đồng: Căn cứ Điều 496 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về nghĩa vụ của bên mượn tài sản và Điều 499 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về quyền của bên cho mượn tài sản thì pháp luật không quy định bên mượn tài sản có nghĩa vụ và bên cho mượn tài sản có quyền yêu cầu liên quan đến khoản phí này nên không căn cứ để Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu trả phí mượn xe của nguyên đơn.
[4.7] Đối với yêu cầu trả phí thanh lý trước hạn 2.310.700 đồng: Căn cứ vào hợp đồng cầm cố, hợp đồng mượn tài sản mà ông T ký với nguyên đơn thì không có hợp đồng nào ông Thu thanh L trước hạn. Các hợp đồng ông T đều vi phạm nghĩa vụ nên nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả phí thanh lý trước hạn là không có căn cứ để Hội đồng xét xử xem xét.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm:
- - Bị đơn phải chịu án phí đối với nghĩa vụ trả số tiền 45.263.842 đồng cho nguyên đơn;
- - Nguyên đơn phải chịu án phí đối với các yêu cầu khởi kiện Hội đồng xét xử không chấp nhận gồm: 3.109.432 đồng lãi trong hạn + 23.107.000 đồng phí mượn xe + 2.310.700 đồng phí thanh lý trước hạn. Tổng số tiền chịu án phí là 28.527.132 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 128, khoản 4 Điều 147, 186, điểm a, b khoản 2 Điều 227, Điều 228, khoản 2 Điều 244, Điều 271, 273, 278 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
- - Điều 309, 310, 311, 313, 316, 299, 302, 303, 463, 466, 468, 470, 494, 496, 499 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- - Khoản 2, khoản 4 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1/ Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần S Có Ngay đối với ông Trần Văn T gồm:
- - Trả tiền lãi trong hạn 3.109.432 (Ba triệu, một trăm lẻ chín nghìn, bốn trăm ba mươi hai đồng);
- - Trả phí mượn xe 23.107.000 (Hai mươi ba triệu, một trăm lẻ bảy nghìn đồng);
- - Trả phí thanh lý trước hạn 2.310.700 (Hai triệu, ba trăm mười nghìn, bảy trăm đồng).
2/ Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần S Có Ngay:
2.1 Buộc ông Trần Văn T trả cho Công ty Cổ phần S Có Ngay: 45.263.842 (Bốn mươi lăm triệu, hai trăm sáu mươi ba nghìn, tám trăm bốn mươi hai đồng). Trong đó: Nợ gốc 33.010.000 đồng; lãi trong hạn 375.214 đồng và lãi quá hạn là 7.480.066 đồng; phí quản lý hồ sơ 1.757.762 đồng và phí vi phạm nghĩa vụ thanh toán 2.640.800 đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận.
2.2 Trường hợp ông T không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả tiền thì Công ty Cổ phần S Có Ngay có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm là 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại SH MODE, biển số 67B2-733.42, số khung RLHJK011XMZ674079, số máy JK01E0252052, Giấy chứng nhận đăng ký xe số 018774 do Phòng C1 Công an tỉnh A cấp ngày 17/3/2022 cho Trần Văn T để thi hành án.
2.3 Trước thời điểm xử lý tài sản bảo đảm nếu ông Thu thanh T1 đầy đủ nợ gốc, lãi và phí cho Công ty Cổ phần S Có Ngay thì Công ty Cổ phần S Có Ngay có nghĩa vụ trả lại tài sản bản đảm và bản chính giấy chứng nhận đăng ký xe nêu tại mục 2.2 cho ông T.
3/ Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông T phải nộp 2.263.000 (Hai triệu, hai trăm sáu mươi ba nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm;
Công ty Cổ phần S Có Ngay phải chịu 1.426.000 (Một triệu, bốn trăm hai mươi sáu nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm đối với phần yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận, được trừ vào 1.625.000 (Một triệu, sáu trăm hai mươi lăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001821, ngày 08/11/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên. Công ty Cổ phần S Có Ngay được nhận lại 199.000 (Một trăm chín mươi chín nghìn đồng) tiền tạm án phí đã nộp.
4/ Về quyền kháng cáo:
Công ty Cổ phần S Có Ngay, ông Trần Văn T được quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án dân sự, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lê Thị Bé Thu |
Bản án số 61/2025/DS-ST ngày 21/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản, hợp đồng cầm cố tài sản và hợp đồng mượn tài sản
- Số bản án: 61/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản, hợp đồng cầm cố tài sản và hợp đồng mượn tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận một phần yêu cầu
