Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 61/2025/DS-PT

Ngày 21/02/2025.

Về việc: Kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Duy Phương;

Các Thẩm phán: Bà Lưu Thị Thu Hường, ông Y Phi Kbuôr;

- Thư ký phiên tòa: Ông Dương Công Bình – Thư ký Tòa án.

- Đại diện VKSND tỉnh Đắk Lắk: Bà Trương Thị Bích T - Kiểm sát viên

Trong các ngày 27/12/2024, 23/01/2025 và 21/02/2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số 225/2024/TLPT-DS ngày 07/10/2024 về việc “Kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại" do Bản án dân sự sơ thẩm số 27/2024/DS-ST ngày 18/6/2024 của TAND huyện Ea H'leo, bị nguyên đơn - Công ty cổ phần C3 kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 321/2024/QĐ-PT ngày 04/11/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 322 /2024/QĐ–PT ngày 29/11/2024, Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 05/2024/QĐPT-DS ngày 27/12/2024, Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 02/2025/QĐPT-DS ngày 23/01/2025, giữa:

1. Nguyên đơn: Công ty cổ phần C3; Đại diện theo pháp luật: Bà Lê Thị Minh C - Giám đốc: Vắng mặt; Đại diện ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Trần Quang D, sinh năm 1965. Chức vụ: Phó Giám đốc. Địa chỉ: Buôn L, thị trấn E, huyện E"Leo, tỉnh Đắk Lắk: Có mặt;

2. Bị đơn: Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên huyện E; Đại diện theo pháp luật: Ông Bùi Đức C1 - Chức vụ: Giám đốc phụ trách Địa chỉ: Buôn L, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk: Có mặt;

3. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  • + Ông Lê Ngọc H. Địa chỉ: Tổ dân phố D, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk: Có mặt;
  • + Ông Võ Tí H1. Địa chỉ: Tổ dân phố B, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Có mặt.
  • + Ông Lê Tài Đ. Địa chỉ: Tổ dân phố G, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt.
  • + Ông Võ Tú H2. Địa chỉ: Tổ dân phố B, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt.
  • + Ông Trịnh Đình L. Địa chỉ: Tổ dân phố A, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt.
  • + Ông Phan Xuân T1. Địa chỉ: Thôn H, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt.
  • + Bà Võ Thị Thu L1. Địa chỉ: Tổ dân phố H, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt.
  • + Bà Nguyễn Thị Tố N. Địa chỉ: Tổ dân phố A, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt.
  • + Bà Lê Nguyễn Thanh T2. Địa chỉ: Tổ dân phố B, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt.
  • + Bà Tạ Thị H3. Địa chỉ: Tổ dân phố H, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt.

Người đại diện theo ủy quyền của bà H3: Bà Tạ Thị Hương L2. Địa chị: Buôn Lê B, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Có mặt.

- Người kháng cáo: Nguyên đơn Công ty Cổ phần C3.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Phần trình bày của nguyên đơn:

Trong Đơn khởi kiện, quá trình tố tụng và tại phiên tòa, đại diện ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ngày 02/5/2018 Sở G (GTVT) tỉnh Đăk Lăk có Công văn số 565 về việc chấp thuận cho đầu tư trang thiết bị, sân bãi phục vụ sát hạch lái xe mô tô hạng A1. Đồng ý cho Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên huyện E (Gọi tắt là Trung tâm GDNN-GDTX) lập dự án đầu tư trình cấp có thẩm quyền thẩm để sớm triển khai xây dựng sân sát hạch lái xe mô tô hạng A1. Ngày 10/5/2018, Công ty T3 có kết quả thẩm tra dự án đầu tư trang thiết bị trung tâm sát hạch lái xe hạng 3 số 01/2018/KQTT- DA “Về việc báo cáo kết quả thẩm tra dự án”. Tổng giá trị đầu tư sau thẫm tra là 828.342.000 đồng. Tuy nhiên, sau này chỉ được phê duyệt số tiền là 778.000.000 đồng.

Như vậy, Sở GTVT tỉnh G cho phép Trung tâm G, sân bãi phục vụ sát hạch lái xe mô tô hạng A1 tại Trung tâm G bằng nguồn kinh phí đầu tư vốn của đơn vị và nguồn vốn xã hội hóa. Trung tâm GDNN-GDTX được phép kêu gọi nhà đầu tư theo công văn chỉ đạo của Sở GTVT tỉnh G. Ngày 15/5/2018, Trung tâm G và ông Lưu Văn A ký hợp đồng liên kết đầu tư trang thiết bị phục vụ sát hạch lái xe mô tô hạng A1 số 01/2018/HĐLK. Trung tâm GDNN-GDTX đồng ý cho nhà đầu tư sử dụng một phần mặt bằng sân, phòng lý thuyết của Trung tâm. Nhà đầu tư tự bỏ vốn đầu tư làm nơi tổ chức sát hạch lý thuyết, thực hành lái xe mô tô hạng A1, để phục vụ đào tạo nghề thường xuyên cho nhân dân trên địa bàn huyện E là đúng theo quy định tại Điều 3 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Được sự ủy quyền của nhà đầu tư, ngày 19/5/2018, Trung tâm GDNN-GDTX và Công ty cổ phần K1 ký hợp đồng kinh tế số 712/HĐKT “V/v cung cấp, lắp đặt hệ thống sát hạch lái xe hạng A1 theo QC 40: 2015/BGTVT”. Ngày 25/5/2018, Trung tâm GDNN-GDTX và Công ty cổ phần K1. Ngày 29/6/2018, Sở GTVT tỉnh G ban hành Công văn số 945/SGTVT-QLVTPT, NL về việc chấp thuận sân sát hạch hạng Al tại Trung tâm GDNN-GDTX. Sở GTVT tỉnh Đăk Lăk chấp thuận cho Trung tâm G được tổ chức sát hạch lái xe mô tô hạng A1 tại Trung tâm GDNN-GDTX từ ngày 01/7/2018. Như vậy, sau khi Trung tâm GDNN-GDTX huyện E và nhà đầu tư ký hợp đồng liên kết đầu tư trang thiết bị phục vụ sát hạch lái xe mô tô hạng A1, bên nhà đầu đã ủy quyền cho bên Trung tâm GDNN-GDTX ký hợp đồng với Công ty cổ phần K1 lắp đặt hệ thống sát hạch lái xe hạng A1 là đúng quy định của pháp luật.

Ngày 22/5/2019, chủ đầu tư ông Lưu Văn A thành lập Công ty cổ phần C3 (Gọi tắt là Công ty C3) được Sở Kế hoạch đầu tư tỉnh G cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh Mã số doanh nghiệp 6001660514. Ngày 29/5/2019, Công ty C3 và Trung tâm G có ký phụ lục hợp đồng số 01/PLHĐ - HĐLK (bổ sung) kèm theo Hợp đồng số 01/2018/HĐLK, ngày 15/5/2018. Hai bên thống nhất ghi nhận Hợp đồng số 01/2018/HĐLK là Hợp đồng liên kết đào tạo nghề thường xuyên. Trung tâm GDNN-GDTX đề nghị Công ty C3 đầu tư mua sắm máy móc, trang thiết bị đào tạo nghề mà bên B đã được cấp phép hoạt động thuê lại để đào tạo nghề. Và Công ty C3 đầu tư toàn bộ máy móc, trang thiết bị đào tạo nghề theo nhu cầu của Trung tâm GDNN-GDTX là đúng quy định tại Điều 403 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Ngày 15/7/2019, Trung tâm GDNN-GDTX có Biên bản số 01/BB-TT “V/v thỏa thuận chuyển nhượng tài sản sân sát hạch lái xe hạng A1” do các cá nhân của Trung tâm góp vốn và thực hiện liên kết. Thống nhất thỏa thuận chuyển nhượng tài sản sân sát hạch lái xe hạng A1, do các cá nhân Trung tâm góp vốn cho C4. Công ty C3 đồng ý nhận toàn bộ nguồn vốn do các cá nhân của Trung tâm GDNN-GDTX góp vốn đầu tư với số tiền 778.000.000 đồng.

Ngày 26/02/2021, Công ty C3 và Trung tâm G tiến hành ký Hợp đồng liên kết thuê sân bãi, mặt bằng lái xe mô tô hạng A1 số: 01/2021/HĐLK. Hai bên cam kết: Thời hạn hợp đồng là 03 năm kể từ ngày ký, đến khi có quyết định phê duyệt sân sát hạch hạng A1 của Sở Giao thông vận tải tỉnh G cấp cho Công ty C3 thì Công ty sẽ thông báo đến Trung tâm G để thanh lý hợp đồng và các điều khoản khác. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, nếu phát sinh tranh chấp, các bên cùng nhau thương lượng giải quyết trên nguyên tắc tôn trọng quyền lợi của nhau. Trong trường hợp không giải quyết được thì một trong hai bên có quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Như vậy, Công ty C3 và Trung tâm G đã cam kết các điều khoản và thời hiệu hợp đồng là 03 năm kể từ ngày kỷ là 26/02/2021 đến 26/02/2024, là theo quy định của pháp luật dân sự.

Tuy nhiên, ngày 22/10/2021 Trung tâm GDNN-GDTX huyện E đơn phương ban hành Thông báo số 155/TB-GDNN-GDTX “V/v giải quyết công tác tổ chức lái xe mô tô hạng A1”. Lấy lý do, ông Lê Ngọc H nguyên là giám đốc Trung tâm G chuyển công tác, không bàn giao bất cứ văn bản, hồ sơ nào về sự phối hợp, liên kết giữa Công ty và Trung tâm để cùng thực hiện một số nội dung trong công tác lái xe mô tô hạng A1. Nên hiện nay Trung tâm G không có văn bản, hồ sơ lưu trữ nào thể hiện tính pháp lý ràng buộc giữa Công ty C3 và Trung tâm G về công tác lái xe mô tô hạng A1. Thông báo cho Công ty C3 đến hết ngày 27/10/2021, nếu Công ty vẫn không chứng minh được tính pháp lý ràng buộc giữa Công ty C3 và Trung tâm G về công tác lái xe mô tô hạng A1 bằng văn bản thì hết thời hạn trên Trung tâm sẽ tiếp tục thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và không chịu bất kỳ trách nhiệm nào trước pháp luật đối với Công ty C3. Ngày 25/10/2021, Công ty C3 có Công văn số 22/10/2021 về việc phúc đáp thông báo số 155/TB-GDNN-GDTX. Công ty C3 đề nghị Trung tâm G nghiêm túc thực hiện các điều khoản trong hợp đồng liên kết số 01/2021/HĐLK ngày 26/02/2021, theo quy định của pháp luật.

Tuy nhiên, ngày 29/10/2021, Trung tâm GDNN-GDTX có Thông báo số 163/TB-GDNN-GDTX về việc yêu cầu Công ty C3 tháo dỡ trang thiết bị sân sát hạch lái xe hạng A1 và trả lại mặt bằng cho Trung tâm. Hạn di dời đến hết 05/11/2021. Nếu quá thời hạn tháo dỡ nêu trên Công ty cổ phần C3 không thực hiện. Trung tâm sẽ đề nghị UBND huyện E chỉ đạo và có biện pháp xử lý kịp thời. Ngoài ra, Trung tâm sẽ gửi đơn đề nghị Viện kiểm sát nhân dân huyện; Công an huyện Ea H'Leo điều tra và kết luận tính chất pháp lý của hợp đồng số kinh tế số 01/2021/HĐLK ngày 26/02/2021.

Từ ngày, 29/10/2021 đến nay, ông Phan Xuân S với vai trò là người Đại diện trước pháp luật của Trung tâm G không cho Công ty tiếp cận tài sản Trang thiết bị sân A1 đã đầu tư tại Trung tâm để duy tu, bảo trì thường xuyên; tự ý tháo dỡ tài sản của công ty. Đến nay, tài sản trên đã hư hỏng toàn bộ.

Như vậy, Trung tâm G đơn phương chấm dứt hợp đồng, là vi phạm Hợp đồng liên kết thuê sân bãi, mặt bằng lái xe mô tô hạng A1 số 01/2021/HĐLK, ngày 26/02/2021. Do đó Trung tâm GDNN-GDTX phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho Công ty C3 với số vốn đầu tư sân sát hạch lái xe hạng A1, tổng số tiền 778.000.000 đồng

Do đó, cho Công ty C3 khởi kiện yêu cầu Trung tâm GDNN-GDTX bồi thường thiệt hại cho Công ty C3 và các cổ đông góp vốn số tiền 778.000.000 đồng theo quy định của pháp luật dân sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện ủy quyền của nguyên đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện. Xin rút số tiền yêu cầu bồi thường là 30.000.000 đồng (tương đương với 02 xe mô tô sát hạch). Công ty C3 chỉ yêu cầu Trung tâm G bồi thường thiệt hại cho Công ty C3 và các cổ đông góp vốn số tiền 748.000.000 đồng. Ngoài ra Công ty C3 không còn yêu cầu nào khác.

2. Phần trình bày của bị đơn:

Quá trình tố tụng và tại phiên tòa, đại diện ủy quyền của bị đơn trình bày:

Trước đây, nhận thấy nhu cầu đăng ký học và thi sát hạch lái xe mô tô hạng A1 trên địa bàn ngày càng đông nên Trung tâm đã gửi tờ trình lên cấp trên xin chủ trương đầu tư trang thiết bị, sân bãi phục vụ sát hạch lái xe mô tô. Ngày 02/05/2018, Sở GTVT tỉnh G ban hành công văn số 565/SGTVT-QLVT, PT&NL về việc chấp thuận đầu tư trang thiết bị, sân bãi phục vụ sát hạch lái xe mô tô hạng A1. Đồng ý cho Trung tâm GDNN-GDTX lập dự án mua sắm trang thiết bị lắp đặt sân sát hạch lái xe mô tô hạng A1 bằng nguồn vốn của đơn vị, vốn xã hội hóa lĩnh vực đào tạo nghề.

Sau khi được Sở GTVT tỉnh Đăk Lăk chấp thuận thì Trung tâm đã triển khai đầu tư máy móc, trang thiết bị, sân bãi phục vụ sát hạch lái xe tại trung tâm theo quy định của pháp luật. Đồng thời, Sở GTVT tỉnh G ký kết các Hợp đồng số 03/HĐSH-2018; Hợp đồng số 08/HĐSH-2019; Hợp đồng số 06/HĐSH-2020; Hợp đồng số 09/HĐSH với Trung tâm GDNN-GDTX huyện E về việc thuê cơ sở vật chất, phương tiện, thiết bị sát hạch lái xe và ký kết các Hợp đồng liên kết đào tạo lái xe với các Trung tâm giáo dục khác trên địa bàn. Tuy nhiên, không có bất kỳ một văn bản nào trước đó nói đến sân sát hạch lái xe hạng A1 tại trung tâm là của Công ty C3. Sau đó Sở Giao thông vận tải tỉnh G đã có Công văn số 268/SGTVT-QLVTPT&NL ngày 08/02/2021 cho ý kiến về việc di dời sân sát hạch hạng A1 tại Trung tâm GDNN-GDTX như sau: “Ngày 29/06/2018, Sở G đã có Công văn số 945/SGTVT-QLVTPT&NL, về thống nhất chủ trương cho Trung tâm GDNN - GDTX huyện E đầu tư sân sát hạch...điểm sát hạch này đã đáp ứng nhu cầu sát hạch, cấp GPLX hạng A1 cho nhân dân huyện Ea H'Leo và các vùng lân cận. Trường hợp, Trung tâm GDNN-GDTX không sử dụng điểm sát hạch trên, yêu cầu đơn vị báo cáo dừng điểm sát hạch tại Trung tâm GDNN-GDTX bằng văn bản”.

Đến ngày 26/02/2021, Trung tâm GDNN-GDTX do ông Võ Tý H4 - Phó Giám đốc làm người đại diện theo ủy quyền của giám đốc ký kết Hợp đồng liên kết thuê sân bãi, mặt bằng lái xe mô tô hạng A1 số 01/2021/HĐLK với Công ty C3 do ông Nguyễn Kế B1 - Phó Giám đốc làm người đại diện. Tuy nhiên, Hợp đồng này lại không được thông qua cấp ủy, ban Giám đốc, hội đồng nhà trường và không có bản lưu tại đơn vị.

Như vậy, cơ sở vật chất, phương tiện, thiết bị phục vụ sát hạch lái xe mô tô hạng A1 đặt tại Trung tâm GDNN-GDTX có trước khi hợp đồng số 01/HĐLK ngày 26/02/2021 về liên kết thuê san bãi, mặt bằng lái xe mô tô hạng A1 giữa Trung tâm GDNN-GDTX với Công ty C3 cho nên chức năng, nhiệm vụ về công tác lái xe mô tô hạng A1 thuộc về Trung tâm GDNN-GDTX. Ngoài ra, khi ông Lê Ngọc H (Nguyên Giám đốc của Trung tâm Giáo dục Nghề nghiệp - Giáo dục Thường xuyên huyện E) nghỉ việc đã không bàn giao bất kỳ văn bản, hồ sơ nào về công tác lái xe hạng A1 nên Trung tâm GDNN-GDTX không có văn bản, hồ sơ nào thể hiện tính pháp lý ràng buộc giữa Công ty C3 và Trung tâm G.

Từ khi dịch C2 đến nay, sân bãi nêu trên không sử dụng, Trung tâm đề nghị chuyển sân bãi và đã nhiều lần gửi giấy mời, văn bản thông báo cho Công ty C3 tháo dỡ, di dời các trang thiết bị cũng như làm việc với Trung tâm để giải quyết các vấn đề tồn đọng nhưng Công ty không hợp tác.

Hiện nay Công ty C3 cho rằng Trung tâm G đã vi phạm các điều khoản của Hợp đồng số 01/2021/HĐLK là hợp đồng liên kết thuê sân bãi ngày 26/02/2021 và cho rằng việc liên kết giữa hai bên diễn ra từ năm 2018 cho đến nay bằng các Hợp đồng liên kết, văn bản thỏa thuận khác, nên khởi kiện ra Tòa án Nhân dân huyện Ea H'Leo để yêu cầu bồi thường thiệt hại số tiền là: 778.000.000 đồng là không có căn cứ.

Giữa Trung tâm G và Công ty C3 có ký hợp đồng liên kết về việc thuê sân bãi, theo đó: Trung tâm cho thuê sân và Công ty Đ1. Bỏ qua những hợp đồng liên kết và văn bản thỏa thuận được ký kết trước thời điểm xác lập Hợp đồng liên kết năm 2021 (nếu có), chỉ xét Hợp đồng số 01/2021/HĐLK Hợp đồng liên kết thuê sân bãi ngày 26/02/2021:

Hợp đồng này vô hiệu do nội dung giao kết trái quy định pháp luật (căn cứ Điều 123 BLDS 2015), nội dung này cũng được nêu tại Kết luận Thanh tra số 192/KL-UBND ngày 08/5/2023 của UBND huyện E: Trung tâm GDNN-GDTX sử dụng tài sản công vào mục đích kinh doanh, liên kết khi chưa được sự đồng ý của cấp có thẩm quyền, vi phạm quy định khoản 2 Điều 55 Luật quản lý, sử dụng tài sản công năm 2017.

Hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu: Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận (Căn cứ Điều 131 BLDS 2015), theo đó: Trung tâm G sẽ không phải bồi thường thiệt hại cho Công ty mà chỉ tạo điều kiện cho Công ty tháo dỡ các trang thiết bị đã đầu tư và lắp đặt tại sân bãi thuộc phạm vi của hợp đồng liên kết.

Vì các lẽ trên, đề nghị Tòa án xét xử theo hướng tuyên không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Công ty cổ phần C3.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án trình bày:

3.1. Ông Lê Ngọc H trình bày:

Căn cứ Quyết định số 39/2008/QĐ-TTg ngày 14 tháng 3 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ ban hành quy chế đấu thầu, đặt hàng, giao nhiệm vụ cung cấp dịch vụ sự nghiệp công sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước. Trong đó Danh mục Dịch vụ công bao gồm lĩnh vực Dạy nghề (nay là Giáo dục nghề nghiệp); theo đó trong các nghề đào tạo, thì Sát hạch lái xe hạng A1 thuộc lĩnh vực đào tạo Nghề thường xuyên (các học viên phải tham gia học lý thuyết và thực hành lái xe mới đủ điều kiện thi Sát hạch).

Theo quy định của Bộ G1 từ 06/2018 trở về trước, học viên tham gia sát hạch trên giấy và sa hình mẫu, không cần thiết bị cảm ứng tự động chấm điểm. Sau tháng 06/2018, Bộ G2 quy định, nếu đơn vị dạy nghề nào không có trang thiết bị máy tính và hệ thống sân sát hạch chấm điểm tự động thì không được tổ chức thi sát hạch lái xe hạng A1. Cuối năm 2017 đầu năm 2018, Trung tâm GDNN-GDTX có xin chủ trương và đề nghị đầu tư nâng cấp mở rộng trang thiết bị đào tạo nghề của đơn vị, với giá trị khái toán khoảng 10 tỷ đồng. Do ngân sách huyện không đảm bảo, thực hiện chủ trương xã hội hóa y tế, giáo dục của Đảng, Nhà nước; nên UBND huyện E giao cho Phòng Tài chính- Kế hoạch huyện hướng dẫn đơn vị triển khai nhiệm vụ liên kết với các tổ chức, cá nhạn. Do vậy, tại trung tâm M từ các tổ chức, cá nhân có năng lực để tham gia thực hiện xã hội hóa lĩnh vực đào tạo nghề.

Ngày 17/04/2018, sau khi xem xét Tờ trình của Trung tâm về xin chủ trương đầu tư, UBND huyện EaH'Leo có văn bản số 735 đề nghị Sở G xem xét cho chủ trương đầu tư trang thiết bị đào tạo nghề từ nguồn vốn tự có của đơn vị và vốn xã hội hóa; Đến ngày 02/5/2018 Sở G có công văn số 565/SGTVTQLVTPT&NL, về “thống nhất chủ trương cho Trung tâm GDNN-GDTX đầu tư máy móc, trang thiết bị, sân bãi, phục vụ sát hạch lái xe hạng A1 bằng nguồn kinh phí đầu tư tự chủ của đơn vị và các nguồn vốn xã hội hoá”.

Trên cơ sở thống nhất chủ trương của UBND huyện; Sở Lao động-TBXH; Sở G. Tôi tại thời điểm này, là Giám đốc Trung tâm GDNN-GDTX đã cùng Ban Giám đốc, tổ chức nhiều cuộc họp trong đơn vị, triển khai nhiệm vụ của cấp trên giao kêu gọi gia đình các cán bộ, viên chức, nhân viên góp vốn trong đó có trang thiết bị sát hạch lái xe hạng A1; Theo dự toán trang thiết bị sát hạch lái xe hạng A1 trên có tổng dự toán thẩm tra 778.000.000 đồng/816.900.691 đồng (bao gồm chi phí thiết bị và chi phí dự phòng). Gia đình các thành viên tại trung tâm chỉ tham gia góp vốn với số tiền 202.830.000 đồng. Nhằm tạo điều kiện thuận lợi đi lại, giảm ngày công lao động, giảm chi phí cho nhân dân trên địa bàn huyện khi có nhu cầu Sát hạch lái xe hạng A1, Ban giám đốc có mời một số nhà đầu tư ngoài cơ quan, nhưng chỉ có hai nhà đầu tư tham gia góp vốn phần kinh phí còn thiếu so với dự toán là 575.170.000 đồng. Do vậy, toàn bộ số tiền 778.000.000 đồng để đầu tư mua sắm trang thiết bị lắp đặt sân sát hạch lái xe hạng A1 tại Trung tâm GDNN-GDTX là vốn của các cá nhân. Tài sản trên không sử dụng vốn Ngân sách.

Theo Hợp đồng nguyên tắc Liên kết số 01/2018/HĐLK, ngày 15/5/2018 và Phụ lục hợp đồng ký ngày 29/05/2019 giữa Trung tâm (do tôi đại diện) và Đại diện Nhà đầu tư, với thời hạn liên kết là 02 năm (hết hạn vào 31/12/2020) có các nội dung thỏa thuận hoàn toàn tự nguyện, đúng thẩm quyền và đúng quy định của Pháp luật. Cụ thể:

  • - Nhà đầu tư ủy quyền cho Trung tâm làm đại diện pháp lý (đại diện cho nhà đầu tư ký hợp đồng mua sắm trang thiết bị, hợp đồng với Sở GTVT về cho thuê sân bãi, trang thiết bị sát hạch lái xe hạng A1). Do GTVT ký hợp đồng với Trung tâm là trọn gói (không tách ra được phần thanh toán thuê sân bãi ra riêng với phần thanh toán thuê thiết bị cơ sở vật chất, phương tiện, thiết bị và lưu giữ hồ sơ sát hạch lái xe,...). Do vậy, tôi đại diện cho Trung tâm đề nghị nhà đầu tư cho Trung tâm được hưởng 100% nguồn kinh phí mà Sở Giao thông trả tiền thuê trên. Nhà đầu tư đã đồng ý.
  • - Nhà đầu tư cho phép Trung tâm được ghi thu, ghi chi của từng đợt sát đầu tư đều chi trả hết cổ tức cho các cổ đông tham gia góp vốn.

Vào cuối tháng 05/2019, tôi đề nghị Nhà đầu tư thành lập công ty để thực hiện các nghĩa vụ theo quy định pháp luật và do vậy công ty C3 được thành lập. Cổ đông bao gồm đại diện gia đình của các thành viên tại Trung tâm đã góp vốn trước đây và các nhà đầu tư bên ngoài. Nhằm đảm bảo quyền, nghĩa vụ của các gia đình thành viên tại trung tâm đã tham gia góp vốn. Ngày 15/07/2019, tôi ký chuyển nhượng toàn bộ tài sản (bàn giao tài sản kèm theo hồ sơ sân sát hạch lái xe hạng A1 theo nguyên giá do các cá nhân tại Trung tâm đã góp vốn trước đây, trong đó có phần vốn góp của gia đình ông Phan Xuân S) cho Công ty C3. Kể từ ngày ký bàn giao, Trung tâm GDNN-GDTX chỉ liên kết với doanh nghiệp theo ở lĩnh vực dịch vụ.

Đầu năm 2021, do tôi tham gia giải quyết vụ đơn thư tố cáo, vu khống nên tôi có ủy quyền cho ông Võ Tí H1 là phó giám đốc phụ trách lĩnh vực Giáo dục nghề nghiệp của Trung tâm, tham gia thương thảo, thỏa thuận với Công ty C3, ký hợp đồng Liên kết số 01/2021/HĐLK về thuê sân bãi, mặt bằng lái xe hạng A1, theo đúng thẩm quyền của Giám đốc; thời hạn tiếp tục liên kết là 03 (ba) năm kể từ ngày 26/02/2021.

Ngày 07/06/2021, tôi bị điều động sang cơ quan khác, UBND huyện E giao nhiệm vụ cho ông Phan Xuân S phụ trách Trung tâm. Do vậy, kể từ sau ngày tôi bị điều động sang cơ quan khác tôi không còn chịu trách nhiệm tại Trung tâm GDNN-GDTX huyện E.

Về cơ sở Pháp lý thực hiện liên kết: Căn cứ Luật Giáo dục nghề nghiệp; Căn cứ Nghị định số 69/2008/NĐ-CP ngày 30 tháng 5 năm 2008 của Chính phủ về chính sách khuyến khích xã hội hóa đối với các hoạt động trong lĩnh giáo dục, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể thao, môi trường; Căn cứ Nghị định số 59/2014/NĐ-CP ngày 16 tháng 6 năm 2014 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 69/2008/NĐ-CP ngày 30 tháng 5 năm 2008 của Chính phủ về chính sách khuyến khích xã hội hóa đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể thao, môi trường; Căn cứ Thông tư, số 135/2008/TT-BTC ngày 31 tháng 12 năm 2008 của Bộ T4 hướng dẫn Nghị định số 69/2008/NĐ-CP ngày 30 tháng 5 năm 2008 của Chính phủ về chính sách khuyên khích xã hội hóa đối với các hoạt động trong lĩnh Tài chính sửa đôi, bổ sung một số điêu của Thông tư số 135/2008/TT-BTC ngày 31 tháng 12 năm 2008 của Bộ T4 hướng dân Nghị định số 69/2008/NĐ-CP ngày 30 tháng 5 năm 2008 của Chính phủ về chính sách khuyên khích xã hội hóa đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể thao, môi trường; Căn cứ Thông tư Liên tịch số 39/2014/TTLT-BLĐTBXH-BGDĐT-BNV ngày 19 tháng 10 năm 2015 của Liên bộ Bộ L4, Bộ G3, Bộ N1 về sáp nhập và quy chế hoạt động của Trung tâm GDNN-GDTX cấp huyện; Căn cứ văn bản số 735/UBND-GDNN-GDTX, ngày 17/04/2018 của UBND huyện E có đề nghị Sở G xem xét cho chủ trương đầu tư trang thiết bị đào tạo nghề từ nguồn vốn tự có của đơn vị và vốn xã hội hóa; Căn cứ văn bản số 565/SGTVT-QLVT,PT&NL, ngày 02/5/2018 của Sở G về “thống nhất chủ trương cho Trung tâm GDNN-GDTX đầu tư máy móc, trang thiết bị, sân bãi, phục vụ sát hạch lái xe hạng A1 bằng nguồn kinh phí đầu tư tự chủ của đơn vị và các nguồn vốn xã hội hoá”; Theo Khoản 3, Điều 14, Thông tư Liên tịch số 39/2015/TTLT-BLĐTBXH- BGDDT-BNV có quy định: Điều 14. Quyền hạn của Trung tâm G thường xuyên.

Do vậy, về tính pháp lý trong hoạt động liên kết thuộc lĩnh vực Giáo dục Nghề nghiệp của Trung tâm GDNN-GDTX huyện với các nhà Đầu tư, Công ty VTV Mart là đúng quy định của Pháp luật. Được liên doanh, liên kết hoạt động đào tạo với doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân trong nước và tổ chức, cá nhân nước ngoài để tổ chức đào tạo, bổ túc và bồi dưỡng kỹ năng nghề theo quy định của pháp luật...”. Theo Khoản 2, Điểm e, Điều 17, Thông tư Liên tịch số 39/2015/TTLT- BLĐTBXH-BGDDT-BNV.

Như vậy, theo quy định trên thì Giám đốc có quyền thực hiện liên doanh liên kết với các tổ chức, cá nhân trong hoạt động đào tạo nghề; được quyền ký các hợp đồng Liên kết với các tổ chức, cá nhân có liên quan. Cho nên việc tôi ký các hợp đồng liên kết hoặc Ủy quyển các Phó Giám đốc của Trung tâm ký các hợp đồng liên doanh, liên kết trong hoạt động đào tạo nghề là đúng thẩm quyền, đúng quy định của Pháp luật.

Mặt khác, trong các hợp đồng ký kết liên kết giữa Trung tâm với Nhà đầu tư; giữa Trung tâm với Sở G về cho thuê Trang thiết bị, mặt bằng sân bãi sát hạch lái xe hạng A1. Thì 100% kinh phí của Sở GTVT thanh toán về Trung tâm được hưởng hết (theo quy định thì Nhà đầu tư được quyền hưởng một phần, bởi vì trang thiết bị là tài sản của nhà đầu tư). Do vậy, các hợp đồng do Trung tâm ký với Nhà đầu tư điều có lợi cho tập thể, cho Nhà nước.

Về bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng: Sau khi tôi điều động sang cơ quan đơn vị khác, ông Phan Xuân S được U phụ trách Trung tâm ký các văn bản đơn phương chấm dứt hợp đồng liên kết hoạt động đào tạo nghề với Công ty C3 trái với quy định của Pháp luật, gây thiệt hại cho nhà đầu tư, không mang tính kế thừa, gây mất đoàn kết tại Trung tâm là trách nhiệm của ông Phan Xuân S.

3.2. Ông Võ Tí H1 trình bày: Tôi nguyên là phó giám đốc Trung tâm G trong thời gian năm 2017 đến năm 2022. Quá trình giữ chức vụ phó giám đốc theo sự ủy quyền của giám đốc trung tâm tôi có ký hợp đồng với công ty C3 như công ty trình bày. Theo ý kiến của tôi tôi ký hợp đồng với công ty C3 là đúng pháp luật, đúng thẩm quyền. Việc trung tâm đơn phương chấm dứt hợp đồng với công ty C3 là trách nhiệm của ông P giám đốc phụ trách điều hành thời điểm đó là ông Phan Xuân S không liên quan đến tôi. Vào ngày 26/11/2021 phó chủ tịch trường trực UBND huyện E Phan Văn K làm trưởng đoàn cùng các cơ quan ban ngành ra làm việc với toàn thể cán bộ của Trung tâm GDNN-GDTX. Tại cuộc họp này dại diện Công an kinh tế huyện khẳng định hợp đồng liên kết số 01/2021/HĐLK là đúng quy định pháp luật nên không cần phải giám định. Vì vậy, tôi đề nghị Tòa án căn cứ theo quy định pháp luật giải quyết vụ án.

3.3. Người đại diện theo ủy quyền của bà Tạ Thị H3 trình bày: Bà H3 có đóng góp cổ phần cho công ty C3 số tiền 64.000.000 đồng. Hiện nay công ty C3 khởi kiện Trung tâm G liên quan đến việc đơn phương chấm dứt hợp đồng thì bà H3 đề nghị Tòa án giải quyết theo đúng quy định pháp luật. Số tiền đóng góp cổ phần giữa bà H3 và công ty là việc riêng giữa bà H3 và công ty C3 nên không có yêu cầu liên quan đến số tiền 64.000.000 đồng này trong vụ án.

3.4. Bà Nguyễn Thị H5 (vợ của ông Trịnh Đình L) trình bày: Vào năm 2018 tôi và chồng tôi là Trịnh Đình L góp vốn tại Trung tâm GDNN-GDTX huyện E để tổ chức lái xe hạng A1 với số tiền là 46.000.000 đồng. Tuy nhiên, một thời gian thấy không hiệu quả nên vợ chồng tôi đã rút toàn bộ tiền đầu tư. Do đó, hiện vợ chồng tôi không liên quan gì đến tranh chấp giữa công ty C3 và Trung tâm GDNN-GDTX huyện E. Đề nghị Tòa án giải quyết vụ việc trên vắng mặt tôi và chồng tôi ông Trịnh Đình L.

3.5. Bà Vũ Thị Thu L3 trình bày: Vào năm 2019 tôi có góp cổ phần vào công ty C3 số tiền là 64.000.000 đồng. Hiện giữa Công ty C3 và Trung tâm GDNN-GDTX huyện E đang có tranh chấp, sự việc trên tôi không biết và không có liên quan đến tôi. Tôi đề nghị Tòa án giải quyết vụ án trên vắng mặt tôi. Còn tiền đã góp vốn với công ty C3 tôi sẽ yêu cầu sau.

3.6. Ông Lê Tài Đ trình bày: Không có ý kiến gì liên quan đến việc tranh chấp giữa Công ty C3 và Trung tâm GDNN-GDTX huyện E. Chỉ yêu cầu sớm lấy lại số tiền đã góp vốn 64.000.000 đồng tại Công ty C3.

Với những nội dung trình bày nêu trên, tại Bản án dân sự sơ thẩm số 27/2024/DS-ST ngày 18/6/2024 của TAND huyện Ea H'leo đã quyết định:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144, Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1, Điều 235, Điều 244 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ Điều 123; khoản 1, 2, 4 Điều 131 Bộ luật dân sự; Căn cứ khoản 3 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH1430/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Q.

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty Cổ phần C3, về việc yêu cầu Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên huyện E bồi thường thiệt hại do đơn phương chấm dứt hợp đồng số 01/2021/HĐLK, ngày 26/02/2021 cho Công ty Cổ phần C3 số tiền 748.000.000 đồng;

Tuyên bố: Hợp đồng liên kết thuê sân bãi, mặt bằng lái xe mô tô hạng A1 số: 01/2021/HĐLK, ngày 26/02/2021, được ký kết giữa Công ty Cổ phần C3 và Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên huyện E là vô hiệu.

Buộc Công ty Cổ phần C3 giao trả lại cho Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên huyện E 01 phần sân diện tích 1000 m² để tổ chức sát hạch thực hành lái xe hạng A1, tại Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên huyện E.

Buộc Công ty Cổ phần C3 phải di dời, tháo dỡ các trang thiết bị phục vụ sát hạch lái xe mô tô hạng A1 tại Trung tâm GDNN-GDTX, gồm có: 01 hình bài sát hạch hình số 8 có gắn thiết bị cảm ứng; 01 hình bài sát hạch vạch đường đi thẳng có gắn thiết bị cảm ứng; 01 hình bài sát hạch đường gồ ghề 9 bậc, có gắn thiết bị cảm ứng; 01 hình bài sát hạch đường có vạch cản có gắn thiết bị cảm ứng; 01 nhà điều hành diện tích 10 m², thưng ván ép 03 mặt, khung sắt (bên trong nhà điều hành không xác định được tài sản cụ thể do bị khóa cửa); hệ thống 02 Camera quan sát; 01 màn hình tivi 32in, hiệu Sony; 01 xe mô tô có gắn thiết bị theo dõi nhãn hiệu wave.

Riêng phòng lý thuyết không cố định (Tận dụng các phòng học tại trung tâm khi học sinh nghỉ học để thi lý thuyết vào ngày nghỉ thứ 7 hoặc chủ nhật). Do đó không xác định được cụ thể nên không có căn cứ để xử lý. (Theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 09/04/2024).

Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại số tiền 30.000.000 đồng, do nguyên đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện.

Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo. Ngày 05/7/2024 Công ty Cổ phần C3 kháng cáo Bản án. Đề nghị cấp phúc thẩm giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm hủy Bản án sơ thẩm theo hướng buộc bị đơn phải bồi thường cho Công ty số tiền 748.000.000 đồng.

* Tại phiên tòa phúc thẩm:

Đại diện ủy quyền của nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và các lời khai, lời trình bày như tại cấp sơ thẩm đã khai, đã trình bày, không có lời khai nào mới, cung cấp chứng cứ, tài liệu nào mới so với với những lời khai, chứng cứ, tài liệu đã cung cấp cho Tòa án cấp sơ thẩm, đề nghị hội đồng xét xử cấp phúc thẩm chấp nhận kháng cáo, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn..

Đại diện ủy quyền của bị đơn giữ nguyên các lời trình bày, lời khai tại cấp sơ thẩm, không có lời khai nào mới, không cung cấp chứng cứ, tài liệu nào mới so với với những lời khai, chứng cứ, tài liệu đã cung cấp cho Tòa án cấp sơ thẩm, đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa giữ nguyên các lời trình bày, lời khai tại cấp sơ thẩm, không có lời khai nào mới, không cung cấp chứng cứ, tài liệu nào mới so với với những lời khai, chứng cứ, tài liệu đã cung cấp cho Tòa án cấp sơ thẩm.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa phúc thẩm đã phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau:

+ Về tố tụng: Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử phúc thẩm và các đương sự đã tuân thủ đúng, đầy đủ về quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của mình quy định trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

+ Về nội dung: Sau khi phân tích, đánh giá các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa, căn cứ vào kết quá tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm, do có một số vi phạm về thủ tục tố tụng tại cấp sơ thẩm, vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ khoản 3 Điều 308, Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn; Hủy toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 27/2024/DS-ST ngày 18/6/2024 của TAND huyện Ea H'leo để xét xử lại theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu thu thập được có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến của Kiểm sát viên và các đương sự, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

Kháng cáo của nguyên đơn trong hạn luật định và nộp tạm ứng án phí phúc thẩm nên vụ án được giải quyết theo trình tự phúc thẩm theo quy định Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Một số người tham gia tố tụng vắng mặt, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 02, Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự này là đúng theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 229, Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 .

[2] Về nội dung:

Xét nội dung khởi kiện và nội dung kháng cáo của nguyên đơn, thấy rằng:

Tại Đơn khởi kiện, trong quá trình tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm cũng như tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn chỉ yêu cầu bị đơn phải bồi thường số tiền thiệt hại 748.000.000 đồng vì đã đơn phương chấm dứt Hợp đồng số 01/2021/HĐLK ngày 26/02/2021 bằng Thông báo số 155/TB-GDNN-GDTX ngày 22/10/2021, ngoài ra không có yêu cầu nào khác.

Tòa án cấp sơ thẩm cho rằng lỗi dẫn đến đơn phương chấm dứt Hợp đồng số 01/2021/HĐLK ngày 26/02/2021 thuộc về bị đơn là có căn cứ. Nguyên nhân dẫn đến đơn phương chấm dứt hợp đồng một phần chủ quan thuộc về bị đơn, một phần khách quan vì bị đơn là đơn vị trực thuộc UBND huyện E (chịu sự tác động của Kết luận thanh tra số 192/KL-UBND ngày 08/5/2023). Tuy vậy, trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa, nguyên đơn không cung cấp được chứng cứ, tài liệu chứng minh được thiệt hại đối với số tiền nói trên, chỉ có chứng cứ, tài liệu về việc ban đầu bắt đầu vào việc đầu tư. Mặt khác, tại Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 09/4/2024 và Biên bản làm việc ngày 09/4/2024, đại diện ủy quyền của nguyên đơn đã xác nhận với Tòa án rằng: “Các tài sản đã đầu tư trong vụ kiện hiện nay không còn giá trị sử dụng và không yêu cầu định giá các tài sản đó”. Do vậy, căn cứ nội dung xác nhận này, cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện đòi bồi thường 748.000.000 đồng của nguyên đơn là có căn cứ pháp luật.

Quá trình tố tụng tại cấp sơ thẩm, bị đơn chỉ có ý kiến phản đối, đề nghị Tòa án tuyên bố Hợp đồng số 01/2021/HĐLK ngày 26/02/2021 vô hiệu, nhưng không có Đơn yêu cầu phản tố và nộp tạm ứng án phí. Tòa án cấp sơ thẩm chưa thụ lý, tiến hành các bước tố tụng đối với yêu cầu phản tố này của bị đơn nhưng lại nhận định và Quyết định trong Bản án sơ thẩm Hợp đồng số 01/2021/HĐLK ngày 26/02/2021 vô hiệu và giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu là vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Do vậy, cần chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn, sửa một phần Bản án sơ thẩm về nội dung này.

Do kháng cáo được chấp nhận một phần nên nguyên đơn - người kháng cáo không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

VÌ CÁC LẼ TRÊN,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn:

Căn cứ khoản 2 Điều 308, khoản 1 Điều 309 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn - Công ty Cổ phần C3;

Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 27/2024/DS-ST ngày 18/6/2024 của Toà án nhân dân huyện Ea H'leo, tỉnh Đắk Lắk;

2. Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Căn cứ Điều 170; Điều 360, Điều 428 Bộ luật dân sự năm 2015;

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - Công ty Cổ phần C3 về việc yêu cầu bị đơn - Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên huyện E bồi thường thiệt hại số tiền 748.000.000 đồng (Bảy trăm bốn mươi tám triệu đồng).

Các đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu và giải quyết hậu quả hợp đồng vô hiệu khi có đủ điều kiện thụ lý theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

3. Về án phí: Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH1430/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

  • - Án phí dân sự sơ thẩm: Công ty Cổ phần C3 phải chịu 33.920.000 đồng. Khấu trừ 17.860.000 đồng đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ea H'Leo theo các Biên lai số AA/2021/0011318 ngày 28/4/2023, số AA/2023/0002218 ngày 18/7/2024. Công ty Cổ phần C3 còn phải nộp tiếp: 16.060.000 đồng;
  • - Án phí dân sự phúc thẩm: Công ty Cổ phần C3 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày 21/02/2025).

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Đà Nẵng;
  • - VKSND cấp cao tại Đà Nẵng;
  • - VKSND tỉnh Đắk Lắk;
  • - TAND huyện Ea H'leo;
  • - Chi cục THADS huyện Ea H'leo;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Trần Duy Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 61/2025/DS-PT ngày 21/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK về kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại

  • Số bản án: 61/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 21/02/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Yêu cầu bồi thường thiệt hại do chấm dứt hợp đồng trái pháp luật
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger