Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN GIA VIỄN

TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 61/2024/ HS-ST

Ngày: 28/11/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA VIỄN, TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lã Hoàng Giáp.
Các hội thẩm nhân dân: Ông Hà Xuân Ninh;
Ông Đinh Duy Quyết.

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Hồng - Thư ký viên Tòa án nhân dân

huyện Gia Viên, tỉnh Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn tham gia phiên toà:

ông Trịnh Ngọc Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 59/2024/TLST-HS, ngày 05 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 59/2024/QĐXXST-HS, ngày 14 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Nguyễn Văn L (tên gọi khác: không), Sinh năm 1984; tại huyện G, tỉnh Ninh Bình; Nơi cư trú: thôn Đ, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình; Nghề nghiệp: làm ruộng; Trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn N và bà Lê Thị T; Vợ Phạm Thị T1, có 02 con; Tiền án, tiền sự: không.
  2. Họ và tên: Hà Quốc T2 (tên gọi khác: không), Sinh năm 1977; tại huyện G, tỉnh Ninh Bình; Nơi cư trú: thôn Đ, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình; Nghề nghiệp: thợ xây; Trình độ học vấn: 06/12; dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hà Quốc T3 (đã chết) và bà Nguyễn Thị V; Vợ Phạm Thị H có 03 con; Tiền án, Tiền sự: không.
  3. Họ và tên: Nguyễn Văn H1 (tên gọi khác: không), Sinh năm 1983; tại huyện G, tỉnh Ninh Bình; Nơi cư trú: thôn T, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình; Nghề nghiệp: thợ cơ khí; Trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn V1 và bà Đào Thị H2; Vợ Đào Thị H3, có 03 con; Tiền án, tiền sự: không.
  4. Họ và tên: Hà Văn K (tên gọi khác: không), Sinh năm 1986; tại huyện G, tỉnh Ninh Bình; Nơi cư trú: thôn Đ, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình; Nghề nghiệp: làm ruộng; Trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hà Cao N1 và bà Vũ Thị H4; chưa có vợ con; Tiền sự: không.

    Tiền án: Tại Bản án số 16/2016/HSST ngày 10/03/2016, K bị Toà án nhân dân huyện Gia Viễn xử phạt 36 tháng tù và bồi thường 30.000.000 đồng, về tội “Cố ý gây thương tích”. K chưa chấp hành phần bồi thường dân sự.

    Nhân thân: Tại Bản án số 42/2020/HSST ngày 9/9/2020, K bị Toà án nhân dân huyện Gia Viễn xử phạt 24 tháng tù giam, về tội “Cố ý gây thương tích”. K chấp hành xong bản án ngày 11/12/2021.

  5. Họ và tên: Trần Văn M (tên gọi khác: không), Sinh năm 1987; tại huyện G, tỉnh Ninh Bình; Nơi cư trú: thôn T, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình; Nghề nghiệp: thợ xây; Trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn X và bà Trần Thị M1; chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: không.

    Nhân thân:

    • - Ngày 01/12/2009 Công an thành phố N xử phạt hành chính, phạt tiền 500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”. Chấp hành xong 15/12/2009.
    • - Ngày 06/8/2015 Công an huyện G xử phạt hành chính, phạt tiền 1.000.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”. Chấp hành xong 18/11/2015.
  6. Họ và tên: Phạm Xuân D (tên gọi khác: không), Sinh năm 1988; tại huyện G, tỉnh Ninh Bình; Nơi cư trú: thôn T, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình; Nghề nghiệp: làm ruộng; Trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Văn V2 (đã chết) và bà Đào Thị C; Vợ Lê Thị H5 (đã ly hôn), có 01 con; Tiền án: không.

    Tiền sự: Ngày 6/4/2022 Công an huyện G xử phạt vi phạm hành chính, phạt tiền 4.000.000 đồng, về hành vi “Sử dụng kích điện để khai thác thuỷ sản”; Phạm Xuân D chưa chấp hành.

  7. Họ và tên: Trần Văn T4 (tên gọi khác: không), Sinh năm 1971; tại huyện G, tỉnh Ninh Bình; Nơi ĐKHKTT: thôn B, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình; nơi ở hiện nay: tại huyện G, tỉnh Ninh Bình; Nơi cư trú: thôn T, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ học vấn: 4/12; dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn M2 và bà Trần Thị H6 (đều đã chết); Vợ Nguyễn Thị N2, có 02 con; Tiền án, tiền sự: không.

    Nhân thân: Ngày 06/7/2011, Công an huyện G xử phạt vi phạm hành chính, phạt tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Cố ý gây thương tích”. Chấp hành xong 29/7/2011.

Các bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 23/8/2024, đến ngày 29/8/2024 được thay đổi bằng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” đến nay, đều có mặt tại phiên tòa.

- Người tham gia tố tụng khác:

  • + Người làm chứng: anh Đào Cảnh Tuân và anh Bùi Đức L1. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 23h00 ngày 22/8/2024 Trực ban hình sự Công an huyện G nhận được tín báo tại khu vực ao cá nhà Nguyễn Văn L tại thôn Đ, xã G, huyện G có một số đối tượng tụ tập đánh bạc. Khoảng 23h40 cùng ngày tổ công tác Công an huyện G, phối hợp với Công an xã G đến khu vực ao cá nhà của Nguyễn Văn L xác minh tố giác thì phát hiện bắt quả tang Nguyễn Văn L, Trần Văn T4, Hà Văn K, Nguyễn Văn H1, Trần Văn M, Phạm Xuân D và Hà Quốc T2 đang đánh bạc bằng hình thức đánh “Liêng” được thua bằng tiền. Lợi dụng lúc công an đang bắt giữ, Hà Quốc T2 bỏ chạy; đến 09 giờ 00 phút ngày 23/8/2024, Hà Quốc T2 đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi đánh bạc của mình cùng L, T4, K, H1, M và D.

Tổ công tác đã thu giữ tại chiếu bạc số tiền 12.740.000 đồng, 01 bộ tú lơ khơ 52 quân và 01 chiếu cói (đã qua sử dụng); thu của T4 01 ví da màu nâu giấu dưới đệm giường, bên trong có số tiền 4.000.000 đồng, T4 khai sử dụng để đánh bạc.

Quá trình điều tra, xác định Nguyễn Văn L, Trần Văn T4, Hà Văn K, Nguyễn Văn H1, Trần Văn M, Phạm Xuân D và Hà Quốc T2 đã quen biết nhau từ trước. Khoảng 21 giờ ngày 22/8/2024, H1 đi bộ từ nhà đến ao cá nhà L ở thôn Đ, xã G, huyện G chơi, H1 và L ngồi dưới chiếu ở khu vực buồng ngủ nhà Lễ uống nước. Khoảng 05 phút sau, T2 đến cùng ngồi uống nước với L và H1. Lúc này, L rủ H1 và T2 đánh bạc bằng hình thức đánh “Liêng” được, thua bằng tiền; H1 và T2 đều đồng ý. Lễ lấy bộ tú lơ khơ 52 quân trên mặt bàn sau đó L, H1 và T2 ngồi dưới chiếu đánh bạc và thống nhất tiền gà thấp nhất là 10.000 đồng, cao nhất là 200.000 đồng. Trong khi L, H1 và T2 đánh bạc, thì lần lượt có T4, K, M và D đến tham gia đánh bạc cùng. Khoảng 23 giờ cùng ngày, anh Đào Cảnh T5 và anh Bùi Đức L1 đến nhà L ngồi chơi uống nước nhưng không tham gia đánh bạc. Các bị cáo đánh bạc đến khoảng 23h40 thì bị cơ quan công an bắt quả tang.

Quá trình điều tra xác định: Tổng số tiền Nguyễn Văn L, H, Nguyễn Văn H1, Hà Văn K, Trần Văn T4, Trần Văn M, Phạm Xuân D sử dụng vào mục đích đánh bạc ngày 22/8/2024 là 16.740.000 đồng (Gồm: 12.740.000 đồng thu tại chiếu bạc và 4.000.000 đồng thu trong người T4).

Vật chứng thu giữ: 01 ví da màu nâu thu giữ của Trần Văn T4; số tiền 16.740.000 đồng, là tiền các bị can sử dụng để đánh bạc; 01 bộ tú lơ khơ 52 quân và 01 chiếu cói (đã qua sử dụng).

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Nguyễn Văn L, H, Nguyễn Văn H1, Hà Văn K, Trần Văn T4, Trần Văn M, Phạm Xuân D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình cùng đồng phạm như đã nêu trên.

Tại bản cáo trạng số 61/CT – VKS – GV, ngày 04/11/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn truy tố Nguyễn Văn L, Trần Văn T4, Nguyễn Văn H1, Trần Văn M, Phạm Xuân D và Hà Quốc T2 ra trước Tòa án nhân dân huyện Gia Viễn để xét xử về tội “Đánh Bạc ” theo khoản 1, khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự; truy tố Hà Văn K ra trước Tòa án nhân dân huyện Gia Viễn để xét xử về tội “Đánh Bạc” theo điểm d khoản 2, khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Tại phiên Tòa, sau khi kết thúc phần xét hỏi, Kiểm sát viên thay đổi quyết định truy tố, kết luận tội nhẹ hơn đối với bị cáo Hà Văn K từ điểm d khoản 2, khoản 3 Điều 321 của Bộ luật hình sự xuống khoản 1, khoản 3 Điều 321 của Bộ luật hình sự; xác định bị cáo Phạm Xuân D có 01 tiền sự do bị cáo chưa chấp hành nộp phạt theo quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình thực hành quyền công tố tại phiên tòa, phát biểu luận tội đã giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo Nguyễn Văn L, Hà Quốc T2, Nguyễn Văn H1, Trần Văn T4, Trần Văn M, Phạm Xuân D; kết luận về tội nhẹ hơn đối với Hà Văn K. Sau khi phân tích đánh giá tính chất nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, các tình tiết, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo; đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn L, Hà Quốc T2, Nguyễn Văn H1, Hà Văn K, Trần Văn T4, Trần Văn M, Phạm Xuân D phạm tội “Đánh Bạc”;

Đề nghị áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 35; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật hình sự đối với Hà Văn K; Xử phạt bị cáo Hà Văn K từ 06 đến 09 tháng tù; thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án; bị cáo được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 23/8/2024 đến ngày 29/8/2024 vào thời gian chấp hành án. Phạt bổ sung phạt tiền bị cáo Hà Văn K từ 10.000.000 đồng đến 12.000.000 đồng.

Đề nghị áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; ; Điều 35; Điều 36; Điều 58 của Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Trần Văn T4, Trần Văn M, Phạm Xuân D; xử phạt:

Bị cáo Trần Văn M từ 12 đến 15 tháng cải tạo không giam giữ; bị cáo Phạm Xuân D từ 12 đến 15 tháng cải tạo không giam giữ; bị cáo Trần Văn T4 từ 09 đến 12 tháng cải tạo không giam giữ; Các bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 23/8/2024 đến ngày 29/8/2024 (06 ngày) được trừ vào thời gian cải tạo không giam giữ của mỗi bị cáo là 18 ngày, nên thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ của bị cáo Trần Văn M, Phạm Xuân D mỗi bị cáo từ 11 tháng 12 ngày đến 14 tháng 12 ngày; thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ của bị cáo Trần Văn T4 từ 08 tháng 12 ngày đến 11 tháng 12 ngày. Thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ của mỗi bị cáo tính từ ngày cơ quan Thi hành án hình sự huyện G, tỉnh Ninh Bình nhận được bản sao bản án và quyết định thi hành án. Khấu trừ từ 5% đến 10% thu nhập hàng tháng của mỗi bị cáo trong thời gian chấp hành án. Phạt bổ sung phạt tiền bị cáo Trần Văn M, Phạm Xuân D và Trần Văn T4, mỗi bị cáo từ 10.000.000 đồng đến 12.000.000 đồng.

Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35; Điều 58 của Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Văn L, Hà Quốc T2, Nguyễn Văn H1; áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo Hà Quốc T2; Xử phạt:

  • - Bị cáo Nguyễn Văn L từ 30.000.000 đồng đến 33.000.000 đồng
  • - Bị cáo Hà Quốc T2 từ 28.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng
  • - Bị cáo Nguyễn Văn H1 từ 26.000.000 đồng đến 28.000.000 đồng

Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự ; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân và 01 chiếu cói; Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước số tiền 16.740.000 đồng.

Về án phí: Đề nghị buộc các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Văn L, Trần Văn T4, Hà Văn K, Nguyễn Văn H1, Trần Văn M, Phạm Xuân D và Hà Quốc T2 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố, không có ý kiến tranh luận đối với luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng các bị cáo Nguyễn Văn L, Trần Văn T4, Hà Văn K, Nguyễn Văn H1, Trần Văn M, Phạm Xuân D và Hà Quốc T2 xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Văn L, Hà Quốc T2, Nguyễn Văn H1, Hà Văn K, Trần Văn T4, Trần Văn M, Phạm Xuân D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn đã truy tố, phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người làm chứng, phù hợp với vật chứng của vụ án đã được thu giữ, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 23 giờ 40 phút ngày 22/8/2024 tại phòng ngủ nhà trông coi ao cá của Nguyễn Văn L ở thôn Đ, xã G, huyện G, Nguyễn Văn L, Hà Quốc T2, Nguyễn Văn H1, Hà Văn K, Trần Văn T4, Trần Văn M, Phạm Xuân D đã có hành vi đánh bạc bằng hình thức đánh “Liêng” được, thua bằng tiền, với tổng số tiền sử dụng vào việc đánh bạc là 16.740.000 đồng (mười sáu triệu, bẩy trăm bốn mươi nghìn đồng), bị phát hiện bắt quả tang.

Bộ luật hình sự quy định

Điều 321: Tội đánh bạc

“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”.

Các bị cáo Nguyễn Văn L, Hà Quốc T2, Nguyễn Văn H1, Hà Văn K, Trần Văn T4, Trần Văn M, Phạm Xuân D là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự nên hành vi của các bị cáo đã phạm tội “Đánh Bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự; Việc các cơ quan tiến hành tố tụng điều tra, truy tố và xét xử các bị cáo là có căn cứ và đúng pháp luật.

[2] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng, gây mất trật tự an ninh ở địa phương, ảnh hưởng xấu đến đời sống xã hội. Từ việc đánh bạc dẫn đến tiêu tán tài sản, kinh tế của nhiều gia đình, cá nhân và là nguyên nhân làm phát sinh nhiều tội phạm khác. Các bị cáo đều đã thành niên, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ đánh bạc dưới hình thức đánh “Liêng”, được thua bằng tiền là một hình thức đánh bạc bị Nhà nước cấm, nhưng vì ham vui, lười lao động, muốn kiếm tiền nhanh chóng nên các bị cáo vẫn cố ý thực hiện tội phạm nên cần phải buộc các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi phạm tội của các bị cáo Nguyễn Văn L, Hà Quốc T2, Nguyễn Văn H1, Hà Văn K, Trần Văn T4, Trần Văn M, Phạm Xuân D là hành vi cố ý thuộc trường hợp ít nghiêm trọng.

[3] Xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo thì thấy:

Đối với các bị cáo Nguyễn Văn L, Trần Văn T4, Nguyễn Văn H1, Trần Văn M, Phạm Xuân D và Hà Quốc T2, quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, các bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị cáo Hà Quốc T2 đầu thú nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; Về tình tiết tăng nặng: các bị cáo không có; Về nhân thân: bị cáo Nguyễn Văn L, bị cáo Hà Quốc T2 và Nguyễn Văn H1 có nhân thân tốt; bị cáo Phạm Xuân D bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa chấp hành xong; các bị cáo Trần Văn T4, Trần Văn M đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính, đều đã chấp hành xong và thuộc trường hợp được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính.

Đối với bị cáo Hà Văn K quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; tình tiết tăng nặng: tại Bản án số 16/2016/HSST ngày 10/03/2016, Hà Văn K bị Toà án nhân dân huyện Gia Viễn xử phạt 36 tháng tù và bồi thường 30.000.000 đồng, về tội “Cố ý gây thương tích”, đến nay bị cáo chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm, bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Về nhân thân: bị cáo có nhân thân xấu.

[4] Trong vụ án này, các bị cáo là đồng phạm mang tính giản đơn, bị cáo Nguyễn Văn L là người khởi xướng và tích cực thực hiện hành vi phạm tội nên giữ vai trò đầu, bị cáo Hà Quốc T2 và Nguyễn Văn H1 tham gia đánh bạc từ đầu nên giữ vai trò sau bị cáo L; bị cáo T2 khi cơ quan công an phát hiện bắt quả tang đã bỏ chạy nên bị cáo phải chịu trách nhiệm cao hơn bị cáo H1.

Các bị cáo Trần Văn T4, Hà Văn K, Trần Văn M, Phạm Xuân D cùng đến tham gia đánh bạc sau, có vai trò ngang nhau trong vụ án.

Căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của từng bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy các bị cáo Nguyễn Văn L, Hà Quốc T2, Nguyễn Văn H1 lần đầu phạm tội, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nhân thân tốt nên xét thấy chỉ cần áp dụng hình phạt chính là phạt tiền cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo đối với các bị cáo và nâng cao công tác phòng ngừa chung, thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật.

Đối với các bị cáo Trần Văn T4, Trần Văn M, Phạm Xuân D, Hội đồng xét xử nhận thấy không cần thiết cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần áp dụng hình phạt chính là cải tạo không giam giữ, giao bị cáo cho chính quyền địa phương cùng gia đình giám sát quản lý, khấu trừ 10% thu nhập của mỗi bị cáo mỗi tháng, cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo đối với các bị cáo và nâng cao công tác phòng ngừa chung, thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật. Mức thu nhập của các bị cáo không ổn định nên căn cứ theo mức thu nhập bình quân của xã G để khấu trừ một phần thu nhập của mỗi bị cáo; quá trình điều tra xác định thu nhập bình quân tại xã G là 53.000.000 đồng/người/năm (5.300.000đồng/người/tháng). Các bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 23/8 đến 29/8/2024 (06 ngày), thời gian tạm giữ được trừ vào thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, cứ 01 ngày tạm giữ bằng 03 ngày cải tạo không giam giữ nên mỗi bị cáo được trừ 18 ngày cải tạo không giam giữ.

Đối với bị cáo Hà Văn K mặc dù đã nhiều lần bị Tòa án có thẩm quyền xét xử và kết án nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học mà lại tiếp tục phạm tội, lần phạm tội này bị của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm do vậy cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian tương xứng với hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo.

[5]. Về hình phạt bổ sung: đối với các bị cáo Nguyễn Văn L, Hà Quốc T2, Nguyễn Văn H1, do hình phạt chính đã áp dụng là hình phạt tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung, phạt tiền đối với các bị cáo.

Đối với bị cáo Hà Văn K, Trần Văn T4, Trần Văn M, Phạm Xuân D ngoài hình phạt chính cần áp dụng hình phạt bổ sung, phạt tiền đối với bị cáo để sung ngân sách nhà nước.

[6]. Biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:

  • - Đối với 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân và 01 chiếu cói là công cụ các bị cáo sử dụng để đánh bạc, cần tịch thu tiêu hủy.
  • - Đối với số tiền 16.740.000 đồng là tiền các bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc, cần tịch thu sung Ngân sách Nhà nước.
  • - Đối với 01 ví da màu nâu thu giữ của Trần Văn T4, quá trình điều tra xác định không liên quan đến hành vi đánh bạc nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G đã trả lại các tài sản trên cho bị cáo T4 là có căn cứ nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7]. Đối với anh Đào Cảnh T5 và anh Bùi Đức L1, cơ quan điều tra xác định anh T5 và anh L1 đến nhà coi cá của L chơi uống nước, nhưng không tham gia đánh bạc cùng các đối tượng nên không có căn cứ để xử lý anh T5 và anh L1.

[8]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện G, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện G, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng Hình sự; quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Các Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật hình sự đối với Hà Văn K;

Căn cứ vào khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36; Điều 58 của Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Trần Văn T4, Trần Văn M và Phạm Xuân D;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35; Điều 58 của Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Văn L, Hà Quốc T2, Nguyễn Văn H1; áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo Hà Quốc T2;

Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106; Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự ;

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Văn L, Hà Quốc T2, Nguyễn Văn H1, Trần Văn T4, Hà Văn K, Trần Văn M và Phạm Xuân D phạm tội "Đánh Bạc".
    • - Xử phạt bị cáo Hà Văn K 07 (bẩy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án; bị cáo được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 23/8/2024 đến ngày 29/8/2024 vào thời gian chấp hành án. Phạt bổ sung phạt tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) sung ngân sách nhà nước.
    • - Xử phạt:
      • + Bị cáo Trần Văn M 12 (mười hai) tháng cải tạo không giam giữ; bị cáo được trừ 06 (sáu) ngày tạm giữ tương ứng với 18 (mười tám) ngày cải tạo không giam giữ, bị cáo còn phải chấp hành 11 (mười một) tháng 12 (mười hai) ngày cải tạo không giam giữ. Thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan Thi hành án hình sự huyện G, tỉnh Ninh Bình nhận được bản sao bản án và quyết định thi hành án. Khấu trừ 10% thu nhập hàng tháng của bị cáo là 530.000 đồng/tháng trong thời gian chấp hành án. Phạt bổ sung phạt tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng).
      • + Bị cáo Phạm Xuân D 12 (mười hai) tháng cải tạo không giam giữ; bị cáo được trừ 06 (sáu) ngày tạm giữ tương ứng với 18 (mười tám) ngày cải tạo không giam giữ, bị cáo còn phải chấp hành 11 (mười một) tháng 12 (mười hai) ngày cải tạo không giam giữ. Thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan Thi hành án hình sự huyện G, tỉnh Ninh Bình nhận được bản sao bản án và quyết định thi hành án. Khấu trừ 10% thu nhập hàng tháng của bị cáo là 530.000 đồng/tháng trong thời gian chấp hành án. Phạt bổ sung phạt tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng).
      • + Bị cáo Trần Văn T4 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ; bị cáo được trừ 06 (sáu) ngày tạm giữ tương ứng với 18 (mười tám) ngày cải tạo không giam giữ, bị cáo còn phải chấp hành 11 (mười một) tháng 12 (mười hai) ngày cải tạo không giam giữ. Thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan Thi hành án hình sự huyện G, tỉnh Ninh Bình nhận được bản sao bản án và quyết định thi hành án. Khấu trừ 10% thu nhập hàng tháng của bị cáo là 530.000 đồng/tháng trong thời gian chấp hành án. Phạt bổ sung phạt tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng).

Giao các bị cáo Phạm Xuân D, Trần Văn T4, Trần Văn M cho Ủy ban nhân dân xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành án. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình trong việc giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian chấp hành án.

Trường hợp người chấp hành án thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự.

- Xử phạt:

  • + Bị cáo Nguyễn Văn L 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng);
  • + Bị cáo Hà Quốc T2 28.000.000 đồng (hai mươi tám triệu đồng);
  • + Bị cáo Nguyễn Văn H1 26.000.000 đồng (hai mươi sáu triệu đồng);

2. Biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:

  • - Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 16.740.000 đồng (mười sáu triệu, bẩy trăm bốn mươi nghìn đồng).
  • - Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân, 01 chiếu cói tất cả đã qua sử dụng.

(Căn cứ theo ủy nhiệm chi lập ngày 06/11/2024. Đặc điểm vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gia Viễn ngày 05/11/2024.).

3. Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Văn L, Hà Quốc T2, Nguyễn Văn H1, Trần Văn T4, Hà Văn K, Trần Văn M và Phạm Xuân D, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm công khai, các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án 28/11/2024.

Áp dụng Điều 26 Luật Thi hành án dân sự: “Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Ninh Bình;
  • - VKSND tỉnh NB
  • - Sở tư pháp tỉnh Ninh Bình;
  • - VKSND huyện Gia Viễn;
  • - Chi cục THADS huyện Gia Viễn;
  • - Công an huyện Gia Viễn;
  • - Bị cáo; người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ; văn phòng;
  • (Thông báo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú).

TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Lã Hoàng Giáp

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 61/2024/HS-ST ngày 28/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA VIỄN, TỈNH NINH BÌNH về hình sự sơ thẩm về tội đánh bạc

  • Số bản án: 61/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA VIỄN, TỈNH NINH BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: L và đồng phạm đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger