Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ

TỈNH THÁI NGUYỄN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 61/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 13 - 12 - 2024

V/v: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN


- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hà.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quang Hợp và ông Lương Minh Côn

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Thanh Thuý - Thư ký Tòa án nhân dân

huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ tham gia phiên tòa: Bà

Chu Thanh Thủy – Kiểm sát viên.

Ngày 13/12/2024, tại Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân & gia đình thụ lý số: 237/2024/HNGĐ - ST ngày 08/10/2024, về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 63/2024/QĐXXST - HN&GĐ, ngày 27/11/2024, giữa:

  1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị Vân A, sinh năm 1987;

    Nơi cư trú: Xóm V, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

  2. Bị đơn: Anh Phạm Văn C, sinh năm 1978;

    Nơi cư trú: Xóm V, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

(Chị Vân A có đơn xin xét xử vắng mặt, anh C vắng mặt không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản hòa giải nguyên đơn chị Trần Thị Vân A trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Chung kết H1 năm 2004, đăng ký kết hôn tại UBND xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Sau khi kết hôn, cuộc sống hạnh phúc nhưng đến năm 2019 xẩy ra mâu thuẫn nên vợ chồng không có tiếng nói chung cũng ly thân từ thời gian đó. Nguyên nhân chủ yếu anh C không lo toan cho gia đình vợ con cả về kinh tế và tình cảm, không là chỗ dựa cho chị và các con. Cũng từ năm 2019 đến nay đời sống vợ chồng không còn mặc dù cả hai chung sống cùng một nhà nhưng ly thân về tình cảm, ăn chung nhưng không có đời sống chăn gối từ khoảng 5 năm nay. Do đời sống chung không có hạnh phúc, không thể hòa hợp nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn đơn phương để giải phóng cuộc hôn nhân không có hạnh phúc.

Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có hai con chung: cháu Phạm Việt B, sinh ngày 05/06/2005; Phạm Trung H, sinh ngày 29/10/2009; Chị đề nghị được nuôi cả hai con chung, không yêu cầu cấp dưỡng.

Về tài sản chung: Không có, không đặt ra việc giải quyết.

Về nợ chung, cho vay chung: Không có, không đặt ra việc giải quyết.

Tại biên bản lấy lời khai, biên bản hòa giải bị đơn anh Phạm Văn C trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Về thời gian kết hôn và chung sống giữa anh với chị V anh là hoàn toàn đúng như trình bày.

Sau khi kết hôn chị Vân A về gia đình anh làm dâu, nhưng vợ chồng sống riêng, ăn riêng và ở riêng. Cuộc sống vợ chồng thời gian đầu hạnh phúc bắt đầu từ năm 2016 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chủ yếu do chị V anh đi làm công nhân cho công ty S nên có nhiều cám dỗ, chị Vân A bỏ bê gia đình, khi đi làm công ty vợ chồng cũng ly thân và thường xuyên trục trặc, tình cảm vợ chồng không còn mặn nồng, anh có tìm hiểu nguyên nhân vì sao chị Vân A lại hờ hững với chồng con nhưng chỉ nghe đồn chị Vân A có quan hệ không minh bạch nên lạnh nhạt với chồng, mặc dù chị Vân A không quan tâm đến gia đình nhưng anh vẫn đối xử tốt với vợ, không bao giờ gây bạo hoặc mắng chửi gì đối với chị Vân A, giữa chị Vân A với gia đình nhà chồng cũng không có mâu thuẫn gì nên anh xác định vẫn còn tình cảm với vợ, anh mong muốn chị Vân A suy nghĩ để đoàn tụ gia đình, trường hợp chị Vân A có lỗi với gia đình anh vẫn tha thứ. Do vậy, anh không đồng ý với với đơn ly hôn của chị Vân A, nên đề nghị Tòa án hòa giải để vợ chồng đoàn tụ nuôi dậy các con trưởng thành.

Trường hợp chị Vân A cương quyết ly hôn anh vẫn không đồng ý ly hôn mà đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có hai con chung: cháu Phạm Việt B, sinh ngày 05/06/2005; Phạm Trung H, sinh ngày 29/10/2009; Do không đồng ý ly hôn nên anh không có ý kiến gì về con chung.

Trường hợp phải ly hôn anh đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung, không yêu cầu chị V anh phải cấp dưỡng.

Về tài sản chung: Quá trình chung sống vợ chồng không có tài sản chung.

Khoản nợ chung: Không có nợ chung nên không đặt ra việc xem xét giải quyết.

Tại phiên tòa, đại diện VKSND huyện Đại Từ phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng, trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, của Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, bị đơn kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án được thực hiện đúng trình tự, thủ tục tố tụng quy định tại các Điều 26, 35, 39, 68, 96, 97 và Điều 195 của Bộ luật tố tụng dân sự; Đại diện VKS không có ý kiến đề nghị, kiến nghị gì.

Về nội dung: Do cuộc sống không có hạnh phúc,mục đích của hôn nhân không đạt được. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị T, áp dụng các Điều 51, Điều 56, Điều 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 266 Bộ luật tố tụng dân sự, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016 ngày 30/12/2016, ra bản án với các nội dung sau:

  • Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Vân A được ly hôn anh C.
  • Về con chung: Con chung thứ nhất đã trưởng thành; Để đảm bảo sự trông nom, chăm sóc và giáo dục đồng thời xét nguyện vọng của cháu H, đề nghị giao con chung thứ hai là cháu Phạm Trung H, sinh ngày 29/10/2009 cho chị Vân A trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cho đến khi trưởng thành.
  • Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Không giải quyết do đương sự không yêu cầu.
  • Về tài sản chung: Không có nên không xem xét.
  • Về nợ chung, các khoản cho vay chung: Không có, không đặt ra việc giải quyết.
  • Án phí: Chị Vân A phải chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.
  • Quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo Bản án theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ phát biểu quan điểm chấp hành pháp luật tố tụng và quan điểm về việc giải quyết toàn bộ vụ án. Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là vụ án Hôn nhân và gia đình về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung”. Bị đơn anh anh Phạm Văn C có hộ khẩu thường trú tại xóm V, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyện. Căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự, xác định thẩm quyền giải quyết, xét xử của Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.

[2]. Về thủ tục tố tụng:

[2.1]. Về thủ tục hòa giải: Quá trình giải quyết vụ án, do bị đơn không đồng ý ly hôn nên Tòa án đã tiến hành mở phiên họp về việc kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải đoàn tụ. Tuy nhiên, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Do vậy, Tòa án tiến hành các thủ tục để mở phiên tòa xét xử vụ án theo quy định tại Điều 220 của của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2.2]. Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng:

Tại phiên tòa cả nguyên đơn và bị đơn đều đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt. Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự, Hội đồng xét xử thống nhất với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, áp dụng điểm b Khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt các bên đương sự trong vụ án, giành quyền kháng cáo cho các bên theo quy định của pháp luật.

[2.3]. Về sự tham gia của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà: Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tiến hành các biện pháp thu thập chứng cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 97 Bộ luật tố tụng dân sự nên Viện kiểm sát tham gia phiên toà là đúng quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[3]. Về nội dung vụ án:

[3.1]. Về quan hệ hôn nhân:

Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Vân A đối với anh C, Hội đồng xét xử thấy: Chị Trần Thị Vân A và anh Phạm Văn Chung kết H1 tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã B, huyện Đ và được cấp giấy chứng nhận kết hôn năm 2004, nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp.

Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ cả hai phía, anh C cho rằng chị V anh có quan hệ không mình bạch khi đi làm công nhân, còn chị Vân A cho rằng anh C không quan tâm lo lắng đến gia đình vợ và các con. Tại phiên hòa giải đoàn tụ do Tòa án tiến hành, anh C thừa nhận vợ chồng không quan hệ tình cảm và ly thân từ khoảng 5 năm nay.

Hội đồng xét xử thấy rằng: Việc anh C mong muốn đoàn tụ gia đình là chính đáng. Tuy nhiên, việc đề nghị đoàn tụ của anh C chỉ xuất phát từ một phía. Cũng tại biên bản lấy lời khai anh C thể hiện cả hai không còn tình cảm, chị Vân A cũng không mong muốn đoàn tụ. Thực tế, anh C cũng không đem lại hạnh phúc cho chị Vân A, điều này phù hợp với quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân & gia đình, cụ thể: “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thuỷ, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình; có nghĩa vụ chung sống với nhau”. Do vậy, Hội đồng xét xử thấy cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Vân A cho chị Vân A được ly hôn với anh C là phù hợp theo quy định tại Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

[3.2].Về con chung: Với quá trình chung sống, chị Vân A và anh C xác định vợ chồng có 02 con chung: cháu Phạm Việt B, sinh ngày 05/06/2005; Phạm Trung H, sinh ngày 29/10/2009. Khi ly hôn, chị Vân A đề nghị nuôi cả hai con chung, không yêu cầu cấp dưỡng. Tại biên bản hòa giải anh C không có ý kiến gì về con chung do không đồng ý ly hôn.

Hội đồng xét xử thấy: Hiện con chung thứ nhất của cả hai đã trưởng thành, nên không đặt ra việc giao cho ai nuôi dưỡng. Đối với con chung thứ hai cháu Phạm Trung H, sinh ngày 29/10/2009 hiện đang học phổ thông, tại bản tự khai cháu có nguyện vọng ở với bố. Do vậy, để đảm bảo quyền lợi của con trẻ cũng như ổn định về mặt học tập, nuôi dưỡng giáo dục con chung, cần thiết giao con chung thứ hai cho anh C trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Do các bên không yêu cầu và không thể hiện việc cấp dưỡng nuôi con khi ly hôn nên tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với chị Vân A cho đến khi có yêu cầu. Việc đi lại thăm và chăm sóc con chung đối với người không trực tiếp nuôi dưỡng được thực hiện theo quy định của pháp luật.

[3.3]. Về tài sản chung: Chị Vân A và anh C xác định không có nên không đặt ra việc giải quyết.

[3.4]. Về khoản nợ chung, các khoản cho vay chung: Không có nên không đặt ra việc giải quyết.

[4]. Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước theo quy định.

[5]. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[6]. Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ tại phiên toà là phù hợp nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng: Khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 19, 51, 56, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn, tranh chấp về nuôi con của chị Trần Thị Vân A với anh Phạm Văn C.

  1. 1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Trần Thị Vân A được ly hôn với anh Phạm Văn C.
  2. 2. Về con chung:
    • Con chung thứ nhất đã trưởng thành không đặt ra việc giải quyết người nuôi dưỡng;
    • Giao con chung thứ hai: cháu Phạm Trung H, sinh ngày 29/10/2009, cho anh Phạm Văn C được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục con chung cho đến khi trưởng thành (đủ 18 tuổi) có khả năng lao động hoặc cho đến khi có sự thay đổi người nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với chị Vân A cho đến khi có yêu cầu hoặc khi có sự thay đổi cấp dưỡng theo quy định của pháp luật.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết các bên có thể yêu cầu thay đổi việc nuôi con và mức cấp dưỡng theo quy định của pháp luật.

  1. 3. Về tài sản chung: Không có, không đặt ra việc giải quyết.
  2. 4. Về nợ chung, cho vay chung: Không có, không đặt ra việc giải quyết.
  3. 5. Về án phí: Chị Trần Thị Vân A phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, chị Vân A được đối trừ vào khoản tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên, theo biên lai số 0005595 ngày 08/10/2024. Xác nhận chị Vân A đã nộp đủ.
  4. 6. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, vắng mặt các bên đương sự tại phiên toà. Báo cho biết các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết công khai hợp lệ theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND huyện Đại Từ;
  • - Chi cục THADS huyện Đại Từ;
  • - UBND xã Bình Thuận, huyện Đại Từ (ĐKKH số
  • 14, ngày 31/5/2004);
  • - Cổng thông tin điện tử Tòa án;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thu Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 61/2024/HNGĐ-ST ngày 13/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYỄN về ly hôn, tranh chấp nuôi con chung

  • Số bản án: 61/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYỄN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xét mâu thuẫn vợ chồng không có khả năng đoàn tụ. HĐXX cho ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger