|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BL TỈNH BÌNH PHƯỚC Bản án số: 61/2024/HS-ST Ngày: 03-12-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BL
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Ngọc Mai Phương
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đăng Hoàn
Bà V2 Thị Dung
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Nhàn - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã BL, tỉnh Bình Phước.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã BL tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Mai Hồng - Kiểm sát viên
Ngày 03 tháng 12 năm 2024, Tòa án nhân dân thị xã BL, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 56/2024/TLST-HS ngày 31 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 61/2024/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:
-
Nguyễn Vĩnh L (Tên gọi khác: Nhóc), sinh ngày 13 tháng 3 năm 1987, tại tỉnh Bình Phước
Nơi thường trú: Tổ 20, khu phố B, phường A, thị xã BL, tỉnh Bình Phước; nơi ở hiện tại: Tổ 10, khu phố AB, phường A, thị xã BL, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: Không có; trình độ học vấn: 03/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Vĩnh Th, sinh năm 1957 và bà Trần Thị L, sinh năm 1964; bị cáo có vợ tên Nguyễn Thị Trúc L, sinh năm 1990; bị cáo có 02 con, lớn nhất sinh năm 2007, nhỏ nhất sinh năm 2009; Tiền án: Không; tiền sự: 01: Nguyễn Vĩnh L bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 12 (mười hai) tháng theo Quyết định số 11/QĐ-TA ngày 23 tháng 7 năm 2020 của Tòa án nhân dân thị xã BL, tỉnh Bình Phước. Ngày 19 tháng 6 năm 2022 đi chấp hành, đến ngày ngày 09 tháng 6 năm 2023 chấp hành xong.
Về nhân thân:
- Tại Bản án 44/2007/HS-ST ngày 29 tháng 3 năm 2007 của Tòa án nhân dân huyện BL, tỉnh Bình Phước xử phạt Nguyễn Vĩnh L 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 138 BLHS năm 1999, chấp hành xong hình phạt tù và đã đóng án phí.
Ngày 17 tháng 6 năm 2024, bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang và tạm giữ hình sự. Đến ngày 25 tháng 6 năm 2024 bị khởi tố bị can, chuyển tạm giam về tội Mua bán trái phép chất ma túy.
Ngày 15 tháng 10 năm 2024, Viện Kiểm sát nhân dân thị xã tiếp tục tạm giam để truy tố.
Ngày 13 tháng 11 năm 2024, Tòa án nhân dân thị xã BL tiếp tục tạm giam đến nay.
-
Trần Thị KA (Tên gọi khác: Tám), sinh ngày 16 tháng 01 năm 1995, tại tỉnh Bình Phước.
Nơi đăng ký thường trú: Tổ 03, ấp 1, xã PA, huyện Q, tỉnh Bình Phước; nơi ở hiện tại: Tổ 10, khu phố AB, phường A, thị xã BL, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: Không có; trình độ học vấn: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Ngọc M, sinh năm 1968 và bà Mai Ngọc D, sinh năm 1968; Bị cáo có 04 chị em, lớn nhất là bị cáo, nhỏ nhất sinh năm 2004; bị cáo có chồng tên Tống Thành Ph, sinh năm 1990 (đã ly hôn); bị cáo có 02 con, lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: Không.
Ngày 17 tháng 6 năm 2024, bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang và tạm giữ hình sự. Đến ngày 25 tháng 6 năm 2024 bị khởi tố bị can, chuyển tạm giam về tội Mua bán trái phép chất ma túy.
Ngày 15 tháng 10 năm 2024, Viện Kiểm sát nhân dân thị xã tiếp tục tạm giam để truy tố.
Ngày 13 tháng 11 năm 2024, Tòa án nhân dân thị xã BL tiếp tục tạm giam đến nay.
Các bị cáo có mặt tại phiên toà.
Người chứng kiến:
Ông Nguyễn Thái H1, sinh năm 1955 (Vắng mặt)
Hộ khẩu thường trú: Tổ 04, khu phố AB, phường A, thị xã BL, tỉnh Bình Phước
Người làm chứng:
- Ông Điểu HO, sinh năm 1996 (Vắng mặt)
- Bà Đỗ Thị N1, sinh năm 1991 (Vắng mặt)
- Ông Nguyễn V2 AK, sinh năm 1996 (Vắng mặt)
- Bà Đặng Thị Bảo L, sinh năm 2000 (Có mặt)
- Ông Nguyễn Tuấn V, sinh năm 1992 (Có mặt)
Địa chỉ: Tổ 01, khu phố BT, phường HC, thị xã BL, tỉnh Bình Phước
Địa chỉ: Tổ 04, khu phố Phú Tr, phường A, thị xã BL, tỉnh Bình Phước
Địa chỉ: Tổ 01, ấp T2, xã TP, thị xã BL, tỉnh Bình Phước
Hộ khẩu thường trú: Ấp F, xã Lg, huyện Đ, tỉnh Long An
Hiện đang bị tạm giam tại Nhà Tạm giữ Công an thị xã BL
Địa chỉ: Tổ 10, khu phố AB, phường A, thị xã BL, tỉnh Bình Phước.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 13 giờ 40 phút ngày 17 tháng 6 năm 2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thị xã BL phối hợp với Công an phường A tiến hành kiểm tra nhà trọ của ông Châu Nghiệp CF tại tổ 10, khu phố AB, phường A, thị xã BL, tỉnh Bình Phước thấy có Nguyễn Vĩnh L và Trần Thị KA đang ở trong phòng số 09, phát hiện:
- Ở giữa nền phòng trước vị trí Nguyễn Vĩnh L đang ngồi có 01 (một) gói nylon màu đen ghi chữ “BERRLES” bên trong có 08 (tám) đoạn ống hút bằng nhựa được hàn kín mỗi đoạn có kích thước 2,1 x 01cm đều chứa chất tinh thể màu trắng dạng rắn (ký hiệu M).
- 01 (một) chai nhựa có chữ “STING”, nắp chai màu đỏ được đục 02 (hai) lỗ, 01 (một) lỗ gắn ống hút bằng nhựa màu đen, 01 (một) lỗ gắn ống thủy tinh có bám chất rắn màu nâu (ký hiệu M1).
- Tại vị trí dưới nệm nơi Trần Thị KA đang nằm có 01 (một) gói nylon trong suốt hàn kín, kích thước 3,6 x 2,3 cm chứa chất tinh thể màu trắng dạng rắn (ký hiệu M2).
Nguyễn Vĩnh L thừa nhận vào ngày 14 tháng 6 năm 2024, L mua của 01 (một) người đàn ông tên Tâm Xô tại khu vực ruộng rau muống đường Đoàn Thị Điểm “25 số” (tương đương khoảng 2,5 gam) ma túy đá, với giá 1.500.000 (Một triệu năm trăm nghìn) đồng đem về phòng số 09, nhà trọ L lấy một ít trong gói ma túy mua được sử dụng, ma túy còn lại L phân ra cho vào nhiều đoạn ống hút màu vàng để bán kiếm lời và 01 (một) gói nylon chứa ma túy đá L giấu dưới tấm nệm.
Đến khoảng 13 giờ ngày 17 tháng 6 năm 2024, L lấy 01 (một) đoạn ống hút chứa ma túy đưa cho KA bán cho Đỗ Thị N1, với giá 190.000 (Một trăm chín mươi nghìn) đồng nên Cơ quan điều tra lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong vật chứng thu giữ theo quy định.
Ngoài ra, còn chứng minh Nguyễn Vĩnh L và Trần Thị KA có quan hệ tình cảm nam nữ với nhau nên thỉnh thoảng KA đến chơi ngủ lại tại nơi ở của L là nhà trọ của ông Châu Nghiệp CF và giúp L bán ma túy cho nhiều người:
- 03 (ba) lần bán cho Nguyễn V2 AK, cụ thể như sau:
- + Khoảng 15 giờ ngày 10 tháng 6 năm 2024, Nguyễn V2 AK gọi từ zalo “Queo t/L” đến zalo “Nhoc Nguyen” cho L hỏi mua 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng ma túy đá. L đưa cho KA 01 (một) đoạn ống hút chứa ma túy giao cho K tại phòng số 09. K nhận ma túy và đưa trả cho KA 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng tiền mua ma túy.
- + Khoảng 19 giờ ngày 11 tháng 6 năm 2024, K gọi cho L hỏi mua 200.000₫ (hai trăm nghìn) đồng ma túy đá, do L bận việc nên L nói K đến phòng số 09 gặp KA lấy ma túy. KA lấy ma túy của L giấu trong phòng giao cho K và nhận tiền 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng qua khe cửa.
- + Khoảng 13 giờ ngày 14 tháng 6 năm 2024, K đến phòng số 09 gặp L mua 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng 01 (một) đoạn ống hút ma túy đá và chuyển 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng từ tài khoản ứng dụng Momo vào tài khoản 0865.712.860 ngân hàng Quân đội (MB) tên Trần Thị Liễu cho L để trả tiền mua ma túy.
- 02 (hai) lần bán cho Đặng Thị Bảo L, cụ thể như sau:
- + Khoảng 17 giờ ngày 14 tháng 6 năm 2024, Đặng Thị Bảo L gọi từ zalo “Bảo L” đến zalo "Nhoc Nguyen” của L mua 500.000 (Năm trăm nghìn) đồng ma túy đá và chuyển tiền từ tài khoản 0383704409 ngân hàng Quân đội (MB) tên Đặng Thị Bảo L vào tài khoản 0865712860 ngân hàng Quân đội (MB) tên Trần Thị Liễu cho L trả tiền mua ma túy. L đến nhà trọ “Thanh Hải” giao ma túy cho Lam.
- + Đến khoảng 12 giờ ngày 17 tháng 6 năm 2024, L tiếp tục hỏi mua của L 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng ma túy đá và chuyển tiền vào tài khoản 0865712860 ngân hàng Quân đội (MB) tên Trần Thị Liễu cho L trả tiền mua ma túy. L nhận tiền nhưng chưa giao ma túy cho Lam.
Khoảng 19 giờ ngày 16 tháng 6 năm 2024, Điểu HO (Mon) điều khiển xe mô tô chở Phương (không rõ nhân thân, địa chỉ) đến nhà trọ gặp KA hỏi mua ma túy. KA sử dụng số điện thoại 0327.156.xxx điện đến số 0865.712860 cho L nói có người hỏi mua ma túy nên L đem theo 01 (một) đoạn ống hút chứa ma túy đá đưa cho KA. KA bán 01 (một) đoạn ống hút này cho Điểu HO, với giá 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng. KA nhận tiền do Điểu HO trả và đưa lại cho L.
- 02 (hai) lần bán cho Nguyễn Tuấn V, cụ thể như sau:
- + Khoảng 23 giờ cùng ngày 16 tháng 6 năm 2024, Nguyễn Tuấn V (Chó Biển) nhắn tin từ messenger “Nguyễn Tuấn V” đến messenger "Nhoc Nguyen" cho Nguyễn Vĩnh L hỏi mua 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng ma túy đá. L đồng ý và nói V2 đến phòng số 09 nhà trọ gặp Tám (KA). Sau đó L nhắn tin qua điện thoại cho KA “8 làm cho chó biển 2x nó wa lấy nha” nghĩa là chuẩn bị ma túy bán cho Chó Biển (Tuấn V) 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng. KA hiểu và trả lời “Oh”. Một lúc sau V2 đến phòng trọ số 09 đưa cho KA 70.000 (Bảy mươi nghìn) đồng vào khe cửa. Do hết ma túy nên KA nói V2 về nhà chút xíu L đem ma túy xuống giao. Khoảng 10 phút sau thì L đem 01 (một) đoạn ống nhựa chứa ma túy đá đến giao cho V2 tại nhà của V2 thuộc tổ 10, khu phố AB, phường A, thị xã BL. V2 nhờ Nguyễn Quốc C1 chuyển khoản từ tài khoản Zalo Pay tên “Thăng Trầm” 130.000 (Một trăm ba mươi nghìn) đồng đến tài khoản 0865712860 ngân hàng Quân đội (MB) tên Trần Thị Liễu cho L. Sau đó KA đưa cho L 70.000 (bảy mươi nghìn) đồng tiền nhận của V2.
- + Ngoài ra trước đó ngày 21 tháng 5 năm 2024, V2 liên lạc hỏi mua của L 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng ma túy, do L bận nên nhờ KA lấy ma túy đem đến nhà giao cho V2. V2 nhận ma túy và chuyển 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng từ tài khoản ứng dụng Momo của V2 vào tài khoản ứng dụng Momo của Trần Thị KA để trả tiền mua ma túy.
- Đến khoảng 13 giờ ngày 17 tháng 6 năm 2024, L bán cho Đỗ Thị N1 01 (một) đoạn ống nhựa chứa ma túy đá tại phòng trọ số 09, với giá 190.000 (Một trăm chín mươi nghìn) đồng. Trước đó L và KA nhiều lần bán ma túy cho Nương tại phòng trọ nhưng L, KA và Nương không nhớ thời gian, số lượng, giá tiền cụ thể.
Ngoài ra, L và KA nhiều lần bán ma túy cho nhiều người khác nhưng không biết nhân thân, địa chỉ của những người mua và không nhớ thời gian, số lượng, giá tiền cụ thể.
Tại bản Kết luận giám định số 652/KL-KTHS ngày 21 tháng 6 năm 2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Phước, kết luận:
- “ - Tinh thể màu trắng (ký hiệu M và M2) bên trong có 08 (tám) đoạn ống hút nhựa và 01 (một) gói nylon được niêm phong gửi giám định đều là ma túy, loại Methamphetamine có khối lượng là:
- + M = 1,1801 gam (một phẩy một tám không một gam).
- + M2 = 1,2012 gam (một phẩy hai không một hai gam).
- - Chất màu nâu (ký hiệu M1) bên trong ống thủy tinh được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng là 0,0041 gam (không phẩy không không bốn một gam)”.
Từ khi bị phát hiện, trong quá trình điều tra, truy tố Nguyễn Vĩnh L khai nhận rõ việc mua ma túy phân nhỏ cất giấu để bán cho người khác và Trần Thị KA khai nhận rõ giúp sức cho L bán ma túy cho nhiều người.
Cáo trạng số: 56/CT-VKS ngày 30 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã BL: Truy tố Nguyễn Vĩnh L và Trần Thị KA về tội Mua bán trái phép chất ma tuý quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên Quyết định truy tố như cáo trạng; Căn cứ tính chất mức độ phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251, Điều 17, Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Nguyễn Vĩnh L từ 08 (tám) năm đến 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma tuý.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251, Điều 17, Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Trần Thị KA từ 07 (bảy) năm đến 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma tuý.
Vật chứng của vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử, xử lý vật chứng theo cáo trạng truy tố.
Các bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đều hối hận về hành vi mà mình đã thực hiện, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên và các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã BL, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã BL, Kiểm sát viên, Tòa án nhân dân thị xã BL, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định của pháp luật.
[2] Tại phiên toà các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố. Xét lời nhận tội của các bị cáo phù hợp về thời gian, địa điểm và quá trình thực hiện tội phạm, phù hợp với các tài liệu chứng cứ, vật chứng có trong hồ sơ vụ án đã thu thập được. Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận:
Trong khoảng thời gian từ ngày 10 tháng 6 năm 2024 đến ngày 17 tháng 6 năm 2024, Nguyễn Vĩnh L bán ma túy cho nhiều người, cụ thể như sau: Khoảng 13 giờ ngày 14 tháng 6 năm 2024 bán cho Nguyễn V2 AK 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng; khoảng 17 giờ ngày 14 tháng 6 năm 2024 bán cho Đặng Thị Bảo L 500.000 (Năm trăm nghìn) đồng; khoảng 23 giờ ngày 16 tháng 6 năm 2024 bán cho Nguyễn Tuấn V 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng; khoảng 12 giờ ngày 17 tháng 6 năm 2024 Lam tiếp tục chuyển khoản mua 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng ma túy, L đồng ý bán, nhận tiền nhưng do bận nên chưa kịp giao ma túy cho Lam; khoảng 13 giờ ngày 17 tháng 6 năm 2024 bán cho Đỗ Thị N1 190.000 (Một trăm chín mươi nghìn) đồng.
Trong khoảng thời gian từ ngày 21 tháng 5 năm 2024 đến ngày 17 tháng 6 năm 2024, Trần Thị KA giúp sức cho Nguyễn Vĩnh L bán ma túy cho nhiều nhười, cụ thể như sau: Ngày 21 tháng 5 năm 2024 bán cho Nguyễn Tuấn V 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng; ngày 10 tháng 6 năm 2024 bán cho Nguyễn V2 AK 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng; ngày 11 tháng 6 năm 2024 tiếp tục bán cho Nguyễn V2 AK 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng; ngày 16 tháng 6 năm 2024 bán cho Điểu HO 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng; khoảng 23 giờ ngày 16 tháng 6 năm 2024 KA lấy tiền 70.000 (Bảy mươi nghìn) đồng do Nguyễn Tuấn V trả để mua ma túy, sau đó L đem ma túy giao cho V2 và lấy thêm 130.000 (Một trăm ba mươi nghìn) đồng.
Ngoài ra trước đó, Nguyễn Vĩnh L và Trần Thị KA còn bán ma túy cho nhiều người khác nhưng không nhớ thời gian, số lượng và giá tiền cụ thể.
Đến khoảng 13 giờ 40 phút ngày 17 tháng 6 năm 2024, Nguyễn Vĩnh L cất giấu 08 (tám) đoạn ống nhựa, 01 (một) gói nylon chứa ma túy để bán kiếm lời và 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng còn bám dính ma túy thì bị phát hiện thu giữ tại nơi ở thuộc tổ 10, khu phố AB, phường A, thị xã BL, tỉnh Bình Phước.
Với tổng khối lượng ma túy giám định được là 2,3812 gam Methamphetamine.
Hành vi của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Mua bán trái phép chất ma túy với tình tiết định khung hình phạt là phạm tội từ hai lần trở lên được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân thị xã BL truy tố Nguyễn Vĩnh L và Trần Thị KA phạm tội Mua bán trái phép chất ma tuý quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[3] Khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện lỗi cố ý, biết rõ hành vi mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng với mục đích tư L cá nhân nên vẫn thực hiện. Hành vi của các bị cáo xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của nhà nước về chất ma túy, gây mất an ninh trật tự tại địa phương và gây ra nhiều tệ nạn xã hội khác, cần xử phạt tù với mức án nghiêm mới có tác dụng răn đe, giáo dục.
[4] Nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Nguyễn Vĩnh L và Trần Thị KA được hưởng tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Các bị cáo Nguyễn Vĩnh L và Trần Thị KA không có tình tiết tăng nặng.
[5] Đối với vật chứng của vụ án:
- - Tịch thu sung ngân sách Nhà nước đối với 01 (một) điện thoại OPPO A38 màu đen gắn sim 0865.712.860 tạm giữ của Nguyễn Vĩnh L trong lúc bắt người phạm tội quả tang, L sử dụng để liên lạc mua bán trái phép chất ma túy.
- - Tịch thu sung ngân sách Nhà nước đối với 01 (một) điện thoại OPPO Reno 6Z 5G gắn sim 0327.156.352 tạm giữ của Trần Thị KA trong lúc bắt người phạm tội quả tang, KA sử dụng liên lạc bán trái phép chất ma túy.
- - Tịch thu sung ngân sách Nhà nước đối với 3.605.000 (Ba triệu sáu trăm linh năm nghìn) đồng tạm giữ của Nguyễn Vĩnh L trong lúc bắt người phạm tội quả tang là tiền Nguyễn Vĩnh L bán ma túy mà có.
- - 01 (một) xe mô tô FANTOM, biển số 93C1-11414, số máy VTTJL1P50FMGT, số khung: VTTDCG0N4TT000018 tạm giữ của Nguyễn Vĩnh L trong lúc bắt người phạm tội quả tang. Qua xác minh, số máy và số khung trên là của xe FANTOM, biển số 84H2-7053 do ông Kim Văn, sinh năm 1955, đăng ký thường trú ấp Kinh Xáng, xã Hiếu Tử, huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh đứng tên đăng ký, ông Văn mua xe này vào năm 2005, hiện ông Văn không sinh sống tại nơi đăng ký thường trú không rõ đang ở đâu. Đối với, biển số 93C1-11414 được Công an huyện Q, tỉnh Bình Phước cấp cho xe Yamaha Sirius do ông Nguyễn Văn Ấm, đăng ký thường trú tổ 01, ấp 01, xã Minh Tâm, huyện Q, tỉnh Bình Phước đứng tên đăng ký, ông Ấm đã chết năm 2023. Nguyễn Vĩnh L khai mua xe mô tô này vào năm 2023 của một người đàn ông không rõ nhân thân, địa chỉ với giá 1.700.000 (Một triệu bảy trăm nghìn) đồng khi mua không có giấy chứng nhận đăng ký và biển số xe. Sau khi mua xe, L nhặt được biển số 93C1-11414 ở bãi rác gần phòng trọ và gắn vào sử dụng mua bán ma túy nên Cơ quan điều tra tách chiếc xe mô tô tiếp tục làm rõ xử lý theo quy định.
- - Tịch thu, tiêu hủy:
- + 01 (một) phong bì niêm phong chứa mẫu vật hoàn lại sau giám định ký hiệu M2 có khối lượng 1,0630 gam Methamphetamine trong 01 (một) gói ny lon miệng khóa miết.
- + 01 (một) phong bì niêm phong chứa mẫu vật hoàn lại sau giám định ký hiệu M có khối lượng 1,0433 gam Methamphetamine trong 01 (một) gói ny lon miệng khóa miết.
- + 01 (một) phong bì niêm phong chứa mẫu vật hoàn lại sau giám định ký hiệu M1 là 01 đoạn ống thủy tinh, mẫu vật M1 đã sử dụng hết cho công tác giám định.
- + 01 (một) phong bì niêm phong chứa 01 (một) gói ny lon miệng kéo dính màu đen có chữ BERRLES; 08 (tám) đoạn ống hút nhựa trong suốt.
- + 01 (một) phong bì niêm phong chứa 01 (một) gói ny lon.
- + 01 (một) chai nhựa có chữ STING, nắp chai màu đỏ, trên nắp đục 02 (hai) lỗ, 01 (một) lỗ gắn ống hút nhựa màu đen là dụng cụ sử dụng ma túy của L, tạm giữ trong lúc bắt quả tang.
- + 02 (hai) kéo bằng kim loại kích thước 10,4 x 4,6 cm; 04 đoạn ống nhựa màu vàng có 01 (một) đầu cắt nhọn; 01 (một) đoạn ống nhựa màu vàng có 01 (một) đầu hàn kín 01 (một) đầu hở; 11 (mười một) đoạn ống nhựa màu trắng; 01 (một) ống nhựa màu vàng; 01 (một) kéo bằng kim loại màu bạc kích thước 14,1 x 5,2 cm; 01 (một) bật lửa gaz không có nắp; 01 (một) bật lửa gaz có chữ “HOA VIỆT”; 01 (một) bật lửa bằng kim loại màu vàng; 11 (mười một) ống thủy tinh cùng kích thước chiều dài 19,8 cm, đường kính 0,6 cm; 01 (một) ví da màu đen của Nguyễn Vĩnh L tạm giữ trong lúc bắt quả tang, L dùng phân chia ma túy để bán.
- [6] Những vấn đề liên quan:
- - Về nguồn gốc ma túy Nguyễn Vĩnh L khai mua của Trần Công Tâm (Tâm Xô). Kết quả sao kê số tài khoản 0865712860 ngân hàng Quân đội (MB) cấp cho Trần Thị Liễu, Nguyễn Vĩnh L sử dụng xác định nhiều lần chuyển tiền vào tài khoản số 29799851367 ngân hàng Quân đội (MB) và số tài khoản 9851367 ngân hàng Thương mại cổ phần Á Châu (ACB) của Trần Công Tâm. Hiện Trần Công Tâm đã bị Cơ quan điều tra bắt ngày 20/11/2024 đang được điều tra làm rõ xử lý sau.
- - Kết quả giám định ma túy Methamphetamine bám dính trên ống thủy tinh thu giữ của Nguyễn Vĩnh L có khối lượng 0,0041 gam. Công an thị xã BL đã ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 843/QĐ-XPHC ngày 14 tháng 10 năm 2024, xử phạt Nguyễn Vĩnh L 3.500.000 (Ba triệu năm trăm nghìn) đồng về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- - Kết quả xét nghiệm nước tiểu của Đặng Thị Bảo L, Nguyễn V2 AK, Nguyễn Tuấn V, Đỗ Thị N1, Điểu HO, Điểu Đang Huy, Nguyễn Bảo Long dương tính với ma túy. Lam, K, Nương, V2, Huy, Long, Hoàng khai mua ma túy của L về và đã sử dụng hết nên Công an thị xã BL đã ra Quyết định xử phạt hành chính, xử phạt mỗi người 1.500.000 (Một triệu năm trăm nghìn) đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
- - Ông Châu Nghiệp CF cho Nguyễn Vĩnh L thuê phòng số 09 để ở, L cho Trần Thị KA ở cùng. Ông Cường không biết việc L, KA cất giấu và bán ma túy nên không xử lý.
- - Bà Trần Thị Liễu là mẹ của Nguyễn Vĩnh L, đứng tên tài khoản số 0865712860, ngân hàng Quân đội MB. Do L không có căn cước công dân nên đã nhờ bà Liễu đứng tên để mở tài khoản ngân hàng, sau đó L là người sử dụng tài khoản này. Việc L sử dụng tài khoản Ngân hàng do bà Liễu đứng tên để thực hiện giao dịch chuyển tiền mua bán trái phép chất ma túy bà Liễu không biết nên không xử lý.
- - Kết quả test nước tiểu của Nguyễn Vĩnh L và Trần Thị KA ngày 17 tháng 6 năm 2024 là dương tính với ma túy. Việc Nguyễn Vĩnh L đổ ma túy vào bộ dụng cụ sử dụng ma túy là để sử dụng một mình. Sau đó L đem cất bộ dụng cụ còn ma túy dưới chân bàn trong phòng. Trần Thị KA tự lấy bộ dụng cụ và sử dụng L không biết, nên không xử lý Nguyễn Vĩnh L về hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.
- - Nguyễn Quốc Cường cho Nguyễn Tuấn V mượn tiền và sử dụng tài khoản của Cường để chuyển tiền 130.000 (Một trăm ba mươi nghìn) đồng cho Nguyễn Vĩnh L trả tiền mua ma túy, anh Cường không biết nên không xử lý.
- [7] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã BL tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
- [8] Án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tội danh và hình phạt:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Vĩnh L và Trần Thị KA phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251, Điều 17, Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Vĩnh L 08 (tám) năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma tuý, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17 tháng 6 năm 2024.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251, Điều 17, Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Trần Thị KA 07 (bảy) năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma tuý, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17 tháng 6 năm 2024.
2. Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- - Tịch thu sung ngân sách Nhà nước đối với 01 (một) điện thoại OPPO A38 màu đen gắn sim 0865.712.860 tạm giữ của Nguyễn Vĩnh L trong lúc bắt người phạm tội quả tang, L sử dụng để liên lạc mua bán trái phép chất ma túy.
- - Tịch thu sung ngân sách Nhà nước đối với 01 (một) điện thoại OPPO Reno 6Z 5G gắn sim 0327.156.352 tạm giữ của Trần Thị KA trong lúc bắt người phạm tội quả tang, KA sử dụng liên lạc bán trái phép chất ma túy.
- - Tịch thu sung ngân sách Nhà nước đối với 3.605.000 (Ba triệu sáu trăm linh năm nghìn) đồng tạm giữ của Nguyễn Vĩnh L trong lúc bắt người phạm tội quả tang là tiền Nguyễn Vĩnh L bán ma túy mà có.
- - Đối với 01 (một) xe mô tô FANTOM, biển số 93C1-11414, số máy VTTJL1P50FMGT, số khung: VTTDCG0N4TT000018 tạm giữ của Nguyễn Vĩnh L trong lúc bắt người phạm tội quả tang. Ghi nhận việc Cơ quan điều tra tách chiếc xe mô tô tiếp tục làm rõ xử lý theo quy định.
- - Tịch thu, tiêu hủy:
- + 01 (một) phong bì niêm phong chứa mẫu vật hoàn lại sau giám định ký hiệu M2 có khối lượng 1,0630 gam Methamphetamine trong 01 (một) gói ny lon miệng khóa miết.
- + 01 (một) phong bì niêm phong chứa mẫu vật hoàn lại sau giám định ký hiệu M có khối lượng 1,0433 gam Methamphetamine trong 01 (một) gói ny lon miệng khóa miết.
- + 01 (một) phong bì niêm phong chứa mẫu vật hoàn lại sau giám định ký hiệu M1 là 01 đoạn ống thủy tinh, mẫu vật M1 đã sử dụng hết cho công tác giám định.
- + 01 (một) phong bì niêm phong chứa 01 (một) gói ny lon miệng kéo dính màu đen có chữ BERRLES; 08 (tám) đoạn ống hút nhựa trong suốt.
- + 01 (một) phong bì niêm phong chứa 01 (một) gói ny lon.
- + 01 (một) chai nhựa có chữ STING, nắp chai màu đỏ, trên nắp đục 02 (hai) lỗ, 01 (một) lỗ gắn ống hút nhựa màu đen là dụng cụ sử dụng ma túy của L, tạm giữ trong lúc bắt quả tang.
- + 02 (hai) kéo bằng kim loại kích thước 10,4 x 4,6 cm; 04 đoạn ống nhựa màu vàng có 01 (một) đầu cắt nhọn; 01 (một) đoạn ống nhựa màu vàng có 01 (một) đầu hàn kín 01 (một) đầu hở; 11 (mười một) đoạn ống nhựa màu trắng; 01 (một) ống nhựa màu vàng; 01 (một) kéo bằng kim loại màu bạc kích thước 14,1 x 5,2 cm; 01 (một) bật lửa gaz không có nắp; 01 (một) bật lửa gaz có chữ “HOA VIỆT”; 01 (một) bật lửa bằng kim loại màu vàng; 11 (mười một) ống thủy tinh cùng kích thước chiều dài 19,8 cm, đường kính 0,6 cm; 01 (một) ví da màu đen của Nguyễn Vĩnh L tạm giữ trong lúc bắt quả tang, L dùng phân chia ma túy để bán.
(Biên bản giao nhận vật chứng số 0002852, quyển số 0058 ngày 02 tháng 12 năm 2024 giữa Công an thị xã BL và Chi cục Thi hành án Dân sự thị xã BL).
3. Án phí: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Mỗi bị cáo phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Ngọc Mai Phương |
12
Bản án số 61/2024/HS-ST ngày 03/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BL, TỈNH BÌNH PHƯỚC về mua bán trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 61/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BL, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy
