|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 61/2024/HS-ST Ngày: 28 - 11-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC, TỈNH THANH HÓA
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Nghi
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Tiến Thanh
Ông Nguyễn Văn Thư
-Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Khánh Trâm
- Thư ký Toà án nhân dân huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hoá.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Ông Ngô Tiến Dũng - Kiểm sát viên.
Ngày 28/11/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 60/2024/HSST ngày 31 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 64/2024/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trương Văn T, sinh năm 1998; tại xã L, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. Nơi ĐKNKTT: Thôn L, xã L, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; số thẻ CCCD [...]; con ông Trương Văn C (đã chết), con bà: Trương Thị T1, sinh năm 1972; có vợ là Kiều Thị L, sinh năm 1998 và có 01 con, sinh năm 2022; tiền sự: Không; tiền án: Không
Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam, hiện đang bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
- Người bị hại: Cháu Đỗ Xuân Thế A, sinh ngày 19/9/2008, (đã chết)
Người đại diện hợp pháp cho gia đình bị hại: Ông Đỗ Xuân T2, sinh năm 1976 và bà Trần Thị L1, sinh năm 1976, (bố mẹ đẻ)
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đỗ Xuân T2, sinh năm 1976, (bố đẻ)
Trú tại: Thôn L, xã L, huyện H, tỉnh Thanh Hóa,
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Cháu Trương Gia K, sinh năm 2016,
Người đại diện hợp pháp: Ông Trương Văn T3, sinh năm 1983 (bố đẻ)
Trú tại: Thôn L, xã L, huyện H, Thanh Hóa, (có mặt)
Người làm chứng:
- Chị Kiều Thị L, sinh năm 1998, (vợ bị cáo có mặt)
- Anh Đỗ Xuân Tuấn L2, sinh năm 2002, (vắng mặt)
- Ông Kiều Văn H, sinh năm 1977, ( có mặt)
- Chị Bùi Khánh L3, sinh năm 2006, (vắng mặt)
- Chị Phạm Thị Kim N, sinh năm 1986, (vắng mặt)
- Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1965, (vắng mặt)
- Bà Lê Thị H1, sinh năm 1958, (vắng mặt)
- Bà Đỗ Thị S, sinh năm 1971, (vắng mặt)
Nơi cư trú: Thôn L, xã L, huyện H, tỉnh Thanh Hóa,
Trú tại: Thôn L, xã L, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
Trú tại: Thôn N, xã T, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
Trú tại: Thôn Đ, xã T, huyện T, Thanh Hóa;
Trú tại: Thôn L, xã L, huyện H, tỉnh Thanh Hóa
Trú tại: Thôn K, xã L, huyện H, tỉnh Thanh Hóa
Trú tại: Thôn L, xã L, huyện H, tỉnh Thanh Hóa
Trú tại: Thôn K, xã L, huyện H, tỉnh Thanh Hóa
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trương Văn T không có giấy phép lái xe mô tô theo quy định. Khoảng 15 giờ ngày 04/8/2024, thấy xe mô tô biển số đăng ký 36B8-163.40 (dung tích xi lanh 109.5cm³) của vợ là chị Kiều Thị L, sinh năm 1998, cư trú ở thôn L, xã L, huyện H, tỉnh Thanh Hóa đang để ở sân nhà. Thăng rủ cháu Trương Gia K, sinh năm 2016, là con anh trai ruột, cùng cư trú ở thôn L đi câu cá rồi điều khiển xe mô tô biển số đăng ký 36B8-163.40 chở cháu K cầm cần câu ngồi sau xe đi từ nhà theo đường liên thôn L để đến địa điểm câu cá. Khi đi đến đoạn đường phía trước nhà ông Đỗ Xuân T2, sinh năm 1976, cư trú ở thôn L, do không tập trung quan sát và không làm chủ tốc độ nên xe mô tô do T điều khiển đâm va với xe mô tô biển số đăng ký 36E1-458.94 (dung tích xi lanh 109.5cm³) do cháu Đỗ Xuân Thế A, sinh năm 2008 là con ông T2 đang điều khiển đi từ trong ngõ nhà mình ở phía bên phải đường theo chiều đi của xe mô tô do T điều khiển ra đường liên thôn. Hậu quả, cháu Đỗ Xuân Thế A bị thương nặng phải đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đ và Bệnh viện H2 nhưng do tiên lượng xấu nên gia đình xin đưa về và cháu Đỗ Xuân Thế A đã chết vào hồi 05 giờ 45 phút ngày 05/8/2024 tại gia đình; Trương Văn T và cháu Trương Gia K cũng bị thương phải đưa đi cấp cứu, điều trị tại các cơ sở y tế; 02 xe mô tô bị hư hỏng.
Ngay sau khi nhận được tin báo, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, thu giữ các dữ liệu điện tử từ camera an ninh và ban hành các Quyết định trưng cầu giám định số 597/QĐ-ĐTTH, số 598/QĐ-ĐTTH cùng ngày 05/8/2024 - trưng cầu Phòng K1 Công an tỉnh T giám định tử thi cháu Đỗ Xuân Thế A để xác định nguyên nhân chết; giám định các phương tiện để xác định điểm va chạm, vị trí va chạm, vận tốc và chiều hướng di chuyển của các phương tiện; đề nghị Bệnh viện Đa khoa huyện H xét nghiệm, xác định nồng độ cồn và chất ma túy trong cơ thể Trương Văn T.
Kết quả khám nghiệm hiện trường và thu giữ các dữ liệu điện tử, xác định: Địa điểm xảy ra tai nạn tại đường liên thôn thuộc địa phận thôn L, xã L, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. Mặt đường được làm bằng bê tông rộng 3m53, bằng phẳng, không có vạch kẻ phân chia thành các làn đường đi riêng biệt; hai bên đường có đông dân cư sinh sống; lề đường phía Nam - trước nhà ông T2 là dãy hàng cây xanh; phần loe cổng ngõ nhà ông T2 rộng nhất 5m40, hẹp nhất 2m37. Vị trí xảy ra tai nạn cách mép đường bên phải theo chiều đi của xe mô tô do T điều khiển 1m15.
Kết quả khám nghiệm và giám định tử thi cháu Đỗ Xuân Thế A tại Kết luận giám định tử thi số 3015/KLGĐTT-PC09 ngày 16/8/2024 của Phòng K1 kết luận:
Kết quả khám nghiệm: Các vết xây xước da, bầm tụ máu tại vùng đầu, mặt, hông, chân phải. Chấn thương sọ não tụ, ngấm máu tổ chức dưới da đầu vùng trán đỉnh hai bên, thái dương chẩm phải và tổ chức liên kết bề mặt cơ thái dương phải; vỡ xương hộp sọ; tụ máu dưới màng cứng; xuất huyết khoang dưới nhện; phù não.
Nguyên nhân chết: Chấn thương sọ não.
Kết quả khám nghiệm và giám định các phương tiện có liên quan tại Kết luận giám định số 3063/KL-KTHS ngày 21/8/2024 của Phòng K1 kết luận:
Va chạm giữa xe mô tô biển số đăng ký 36B8-163.40 với xe mô tô biển số đăng ký 36E1-458.94: Điểm va chạm đầu tiên tại mặt và má trái lốp trước tương ứng hàng chữ "DOT SNAP", cạnh vành tương ứng xe mô tô biển số đăng ký 36B8-163.40 (ảnh 5,6,7) với mặt ngoài ốp nhựa bên trái thân xe (phần trước), mặt trước ngoài bên trái lốc máy xe mô tô biển số đăng ký 36E1-458.94 (ảnh 21,22,23).
Tại thời điểm va chạm, xe mô tô biển số đăng ký 36E1-458.94 chuyển động từ phải qua trái, chếch ngược chiều so với chuyển động của xe mô tô biển số đăng ký 36B8-163.40.
Vị trí va chạm giữa hai phương tiện nằm trước đầu vết cà trượt (3), được thể hiện trong biên bản khám nghiệm hiện trường và sơ đồ hiện trường, thuộc phần đường bên phải theo chiều từ Nhà văn hóa thôn L4 đi thị trấn H.
Không đủ cơ sở xác định vận tốc của phương tiện nào lớn hơn tại thời điểm xảy ra va chạm.
Không đủ cơ sở xác định va chạm giữa xe mô tô biển số đăng ký 36B8-163.40 với cháu Đỗ Xuân Thế A.
Kèm theo kết luận giám định: 01 (một) bản ảnh khám phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông nói trên.
Kết quả xét nghiệm của Bệnh viện Đa khoa huyện H, xác định: Không có nồng độ cồn, ma túy trong máu và nước tiểu của Trương Văn T.
Kết quả xem xét dấu vết trên thân thể cháu Trương Gia K, ghi nhận: Vùng trán phía trên lông mày trái có 01 vết xây xước da chảy máu kích thước 02cm x 02cm; trán trái có vết sưng nề kích thước 03cm x 03cm; vùng má bên trái có 01 vết xây xước chảy máu kích thước 02cm x 02cm; vùng lưng có 01 vết xước da chảy máu tại kích thước 03cm x 01cm. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ban hành Quyết định trưng cầu giám định số 615a/QĐ-ĐTTH và Quyết định dẫn giải số 615b/QĐ-ĐTTH cùng ngày 09/8/2024 - trưng cầu Trung tâm P giám định thương tích do tai nạn giao thông gây nên cho cháu K nhưng cháu K và gia đình cháu K kiên quyết từ chối giám định.
Về vật chứng, tài sản của vụ án: Xe mô tô biển số đăng ký 36B8 - 163.40 là tài sản riêng do chị Kiều Thị L mua để sử dụng và đứng tên chủ xe trước khi kết hôn với Trương Văn T; trong quá trình sử dụng cũng ít khi mang về nhà để đi mà chủ yếu để trên nhà bô đẻ là ông Kiều Văn H, vợ chồng chung sống chị L không biết bị cáo T chưa có giấy phép lái xe mô tô và khi T lấy xe điều khiển đi vào ngày 04/8/2024 thì chị L đang ngủ với con nhỏ trong nhà nên không biết việc bị cáo sử dụng phương tiện riêng của mình.
Xe mô tô biển số đăng ký 36E1 - 458.94 là tài sản do cháu Đỗ Xuân Tuấn L2, sinh năm 2002 là anh trai cháu Đỗ Xuân Thế A mua lại của chị Bùi Khánh L3, sinh năm 2006, cư trú ở thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa để đi học ở Hà Nội nhưng chưa sang tên chủ xe. Do có việc nên trước đó cháu L2 mang xe về để đi lại, sau đó do có việc đột xuất nên vội ra Hà Nội và để xe ở nhà định lần sau về mang đi; chìa khóa xe cháu L2 để ở phòng ngủ của mình; trước đó cháu L2 chưa bao giờ cho cháu Thế A điều khiển xe trên vì chưa đủ tuổi điều khiển xe. Cháu L2 và gia đình không biết cháu Thế A lấy xe đi lúc nào trong ngày 04/8/2024, chỉ đến khi nhận được tin báo thì gia đình và cháu L2 mới biết cháu Thế A điều khiển xe đi bị tai nạn giao thông.
Xét thấy không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại xe mô tô biển số đăng ký 36B8 -163.40 cho chị Kiều Thị L và trả lại xe mô tô biển số đăng ký 36E1-458.94 cho cháu Đỗ Xuân Tuấn L2.
02 đĩa DVD-R lưu giữ dữ liệu điện tử thu giữ từ camera an ninh ghi lại hình ảnh có liên quan đến vụ việc được niêm phong và lưu giữ trong hồ sơ vụ án.
Về bồi thường thiệt hại: Trong quá trình điều tra vụ án, Trương Văn T đã đến gia đình bị hại tự nguyện xin lỗi và thỏa thuận sẽ bồi thường toàn bộ thiệt hại cho gia đình cháu Đỗ Xuân Thế A với tổng số tiền hai bên thống nhất là 100.000.000 đồng, bị cáo đã đưa trước số tiền 50.000.000 đồng, số tiền 50.000.000 đồng còn lại T cam kết sẽ đưa trước ngày giỗ đầu cháu Đỗ Xuân Thế A. Đại diện hợp pháp gia đình bị hại và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho Trương Văn T.
Chị Kiều Thị L, cháu Đỗ Xuân Tuấn L2, cháu Trương Gia K và gia đình cháu K không yêu cầu bồi thường thiệt hại.
Tại bản Cáo trạng số: 63/CT – VKS HL ngày 31 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc, truy tố bị cáo Trương Văn T, về tội: “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc, không bổ sung, thay đổi và vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo.
- Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ Điều 260 của Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo Trương Văn T phạm tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
+ Hình phạt chính: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38; Điều 54; khoản 1, khoản 2 Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trương Văn T, mức án từ 27 tháng đến 30 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 54 tháng đến 60 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú và gia đình bị cáo giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
+ Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về trách nhiệm dân sự và biện pháp tư pháp:
Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận, thống nhất về việc bồi thường thiệt hại của bị cáo và gia đình và gia đình bị hại.
Chị Kiều Thị L, cháu Đỗ Xuân Tuấn L2, cháu Trương Gia K và gia đình cháu không yêu cầu bồi thường thiệt hại nên không xem xét, giải quyết.
-Về vật chứng: Lưu giữ 02 đĩa DVD-R chứa dữ liệu điện tử thu giữ từ camera an ninh ghi lại hình ảnh có liên quan đến vụ việc trong hồ sơ vụ án.
- Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH-14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định.
Người đại diện hợp pháp cho bị hại vắng mặt tại phiên tòa nhưng không có yêu cầu thay đổi khác về mức bồi thường mà các bên đã thống nhất thỏa thuận trước đó. Về hình phạt gia đình bị hại có đơn đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo để có cơ hội cải tạo tại địa phương.
Bị cáo không có ý kiến đề nghị tranh luận về tội danh và việc áp dụng pháp luật hình sự, về các tình tiết giảm nhẹ TNHS đối với bị cáo được đề nghị. Bị cáo nhận thấy hành vi phạm tội của mình đã gây ra là không oan sai, việc điều khiển phương tiện xe mô tô chưa có giấy phép lái xe là sai nên đã dẫn đến hậu quả cho gia đình bị hại là không mong mốn, bị cáo mong được Hội đồng xét xử cho bị cáo hưởng lượng khoan hồng và giảm nhẹ hình phạt mức thấp nhất, tạo điều kiện cho bị cáo được cải tạo tại địa phương để tiếp tục thực hiện nghĩa vụ thăm hỏi, động viên và bồi thường cho gia đình bị hại.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về việc chấp hành pháp luật tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình giải quyết vụ án là đúng quy định của pháp luật, các quyết định tố tụng được ban hành đúng thẩm quyền, trình tự tố tụng. Quá trình điều tra không có khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, đảm bảo tính khách quan trong hoạt động điều tra, truy tố, bảo đảm quyền và nghĩa vụ cho những người tham gia tố tụng khi khai báo. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiền hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về căn cứ xác định hành vi phạm tội: Trương Văn T không có giấy phép lái xe mô tô theo quy định. Sự việc xảy ra vào khoảng 15h ngày 04/8/2024, T tự ý lấy xe mô tô BKS: 36B8-163.40 của chị L để ở nhà để điều khiển xe mô tô chở theo cháu Trương Gia K ngồi sau chạy trên trục đường liên thôn thuộc địa phận thôn L, xã L, huyện H, tỉnh Thanh Hóa, hướng đi thị trấn H. Do không tập trung quan sát phần đường xe đi phía trước và không làm chủ tốc độ, phương tiện của xe để có thể dừng lại một cách an toàn khi đến nơi đường giao nhau cùng mức (vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, theo quy định tại khoản 23 Điều 8, khoản 1 Điều 12 Luật Giao thông đường bộ và khoản 3 Điều 5 Thông tư số 31/2019/TT- BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G). Nên xe mô tô do T điều khiển đã đâm va vào xe mô tô BKS: 36E1- 458.94 do cháu Đỗ Xuân Thế A điều khiển. Hậu quả cháu Đỗ Xuân Thế A bị ngã va đập xuống đường bị thương nặng được đưa đi cấp cứu tại các tuyến điều trị trong tỉnh và Trung ương, nhưng vì chấn thương nặng nên dẫn đến tử vong vào hồi 05 giờ 45 phút ngày 05/8/2024 tại gia đình.
[2.2]. Tại bản Kết luận giám định số 3063/KL-KTHS ngày 21/8/2024 của Phòng K1 kết luận: Điểm va chạm đầu tiên giữa xe mô tô BKS: 36B8-163.40 với xe mô tô BKS: 36E1-458.94: là tại vị trí mặt và má trái lốp trước tương ứng hàng chữ "DOT SNAP", cạnh vành tương ứng xe mô tô BKS: 36B8-163.40 (ảnh 5,6,7) với mặt ngoài ốp nhựa bên trái thân xe (phần trước), mặt trước ngoài bên trái lốc máy xe mô tô BKS: 36E1- 458.94 (ảnh 21,22,23). Tại thời điểm va chạm, xe mô tô BKS: 36E1-458.94 chuyển động từ phải qua trái, chếch ngược chiều so với chuyển động của xe mô tô BKS: 36B8-163.40. Vị trí va chạm giữa hai phương tiện nằm trước đầu vết cà trượt (3), được thể hiện trong biên bản khám nghiệm hiện trường và sơ đồ hiện trường, thuộc phần đường bên phải theo chiều từ Nhà văn hóa thôn L4 đi thị trấn H. Không đủ cơ sở xác định vận tốc của phương tiện nào lớn hơn tại thời điểm xảy ra va chạm. Không đủ cơ sở xác định va chạm giữa xe mô tô BKS: 36B8-163.40 với cháu Đỗ Xuân Thế A.
[2.3]. Căn cứ Kết luận giám định tử thi số 3015/KLGĐTT-PC09 ngày 16/8/2024 của Phòng K1 kết luận: Các vết xây xước da, bầm tụ máu tại vùng đầu, mặt, hông, chân phải. Chấn thương sọ não tụ, ngấm máu tổ chức dưới da đầu vùng trán đỉnh hai bên, thái dương chẩm phải và tổ chức liên kết bề mặt cơ thái dương phải; vỡ xương hộp sọ; tụ máu dưới màng cứng; xuất huyết khoang dưới nhện; phù não. Nguyên nhân dẫn đến bị hại chết do chấn thương sọ não. Như vậy, với hành vi điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ của Trương Văn T, có đủ căn cứ để khẳng định, việc cháu Đỗ Xuân Thế A bị tai nạn giao thông dẫn đến hậu quả chết là xe mô ô tô do bị cáo T trực tiếp điều khiển khi tham gia giao thông gây ra. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
[3]. Tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi đó đã xâm phạm đến tính mạng của người khác, gây tổn hại về vật chất, tổn thất về tinh thần, xâm phạm đến trật tự công cộng và an toàn công cộng được pháp luật bảo vệ. Do đó, cần phải xử lý nghiêm để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
[4]. Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tặng nặng TNHS theo Điều 52 của BLHS 2015.
[4.1]. Về tình tiết giảm nhẹ TNHS: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, thể hiện thái độ ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội do mình gây ra, đã tự nguyện thỏa thuận bồi thường thiệt hại và được gia đình người bị hại có đơn đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; bên cạnh đó người đại diện hợp pháp và bị hại cũng có một phần lỗi, vì bị hại chưa đủ điều kiện về độ tuổi để điều khiển xe mô tô, khi điều khiển phương tiện từ trong nhà chạy ra giao nhau với đường chính không dừng lại để quan sát mặc dù bị khuất tầm nhìn, đại diện hợp pháp của người bị hại không quản lý tốt đối với phương tiện, không nhắc nhở, giáo dục để ngăn chặn hành vi của con, em mình sử dụng xe mô tô trái quy định của pháp luật. Do đó, cần xem xét, áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Ngoài các tình tiết giảm nhẹ trên thì không còn căn cứ xem xét tình tiết giảm nhẹ nào khác.
[5]. Căn cứ tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội. Thấy bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội thuộc trường hợp lỗi vô ý, có nơi cơ trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ và không có tình tiết tăng nặng TNHS theo Điều 52 của BLHS, điều khiển phương tiện mà trong máu, khí thở không có chất cấm sử dụng, có thái độ cầu thị ăn năn hối cải, có khả năng tự cải tạo tại địa phương và việc cho hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự và an toàn xã hội. Nên không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội, mà chỉ cần áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo theo khoản 1 và khoản 2 Điều 65 của BLHS cũng đảm bảo trong công tác đấu tranh và phòng ngừa tội phạm.
[6]. Về bồi thường thiệt hại: Trong giai đoạn điều tra vụ án, Trương Văn T và gia đình đã tự nguyện thỏa thuận bồi thường toàn bộ thiệt hại cho gia đình cháu Đỗ Xuân Thế A, với tổng số tiền hai bên thống nhất 100.000.000 đồng. Do hoàn cảnh khó khăn nên mới bồi thường số tiền 50.000.000 đồng, số tiền 50.000.000 đồng còn lại các bên thống nhất cam kết với nhau sẽ bồi thường trước ngày giỗ đầu của cháu Đỗ Xuân Thế A. Tại phiên tòa người đại diện hợp pháp cho gia đình bị hại vắng mặt nhưng không có ý kiến bằng văn bản thay đổi, bổ sung mức yêu cầu bồi thường. Bị cáo đề nghị Tòa án ghi nhận mức yêu cầu bồi thường mà hai bên đã thống nhất. Thấy việc thỏa thuận, thống nhất bồi thường trước đó của bị cáo và gia đình bị hại là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét thêm và ghi nhận sự tự nguyện mức bồi thường trên của các bên làm căn cứ yêu cầu thi hành án.
[7]. Đối với cháu Đỗ Xuân Tuấn L2 và cháu Trương Gia K bị thương nhẹ nhưng đại diện hợp pháp của các gia đình từ chối yêu cầu bồi thường thiệt hại nên miễn xét.
[8]. Xử lý vật chứng: Tiếp tục lưu giữ 02 đĩa DVD - R lưu giữ dữ liệu điện tử thu giữ từ camera an ninh ghi lại hình ảnh có liên quan đến vụ việc được niêm phong và lưu giữ trong hồ sơ vụ án.
[9]. Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của BLTTHS, điểm a, điểm f khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm, đối với đề nghị ghi nhận việc thỏa thuận bồi thường thì bị cáo không phải nộp án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 50, Điều 54 và khoản 1, khoản 2 Điều 65 của Bộ luật Hình sự 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tuyên bố: Bị cáo Trương Văn T phạm tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”
Xử phạt: Bị cáo Trương Văn T, mức án 30 (ba mươi) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND xã L, huyện H, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể buộc người đó phải chấp hành phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước đó và tổng hợp hình phạt với bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện thống nhất bồi thường giữa bị cáo và gia đình bị hại với số tiền bồi thường là 100.000.000 đồng, đã bồi thường số tiền 50.000.000 đồng, còn phải tiếp tục bồi thường số tiền 50.000.000 đồng.
Trường hợp bị cáo Trương Văn T vi phạm cam kết bồi thường như các bên đã thống nhất thỏa thuận và được Tòa án ghi nhận thì người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền yêu cầu thi hành án để thi hành theo quy định của pháp luật.
Về xử lý vật chứng: Tiếp tục lưu giữ 02 đĩa DVD-R có chứa đựng dữ liệu điện tử thu giữ từ camera an ninh ghi lại hình ảnh có liên quan đến vụ án được niêm phong lưu trong hồ sơ vụ án.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của BLTTHS, điểm a, điểm f khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 61, 62 và Điều 331 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người đại diện hợp pháp của người bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền làm đơn kháng cáo bản án liên quan đến quyền lợi của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi án có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6; Điều 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Văn Nghi |
Bản án số 61/2024/HS-ST ngày 28/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC, TỈNH THANH HÓA về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 61/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
