|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU TỈNH TÂY NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 61/2024/HNGĐ-ST Ngày: 21-11-2024 V/v tranh chấp “Ly hôn và con chung” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vui.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Tẻo;
- Bà Lê Thị Sinh Phương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Oanh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Tuyết Trinh - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bến Cầu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 140/2024/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn và con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2024/QĐXXST-HN ngày 05 tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Ngọc L, sinh năm: 1996.
Địa chỉ: Ấp L, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh.
- Bị đơn: Anh Cao Văn T, sinh năm 1995.
Địa chỉ: Ấp P, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh.
Hiện đang chấp hành án tại Trại giam C.
Tất cả vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Ngọc L trình bày: Chị và anh Cao Văn T tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2018, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh. Vợ chồng chung sống có 02 con chung tên Cao Mỹ D, sinh ngày 09/6/2018, Cao Tuấn A, sinh ngày 15/3/2020; hiện chị đang nuôi dưỡng.
Trong thời gian chung sống, anh chị phát sinh mâu thuẫn, do anh T không phụ giúp kinh tế gia đình, thường xuyên tụ tập ăn chơi, vi phạm pháp luật, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Anh T đã bị Tòa án xét xử và đang chấp hành án tại Trại giam C. Chị nhận thấy tình cảm vợ chồng đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu được ly hôn với anh T.
Về con chung: Chị yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung, không yêu cầu anh T cấp dưỡng.
Về tài sản chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết.
Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết.
Do bận công việc nên chị L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Bị đơn anh Cao Văn T trình bày: Tại biên bản lấy lời khai ngày 28 tháng 10 năm 2024, anh thống nhất với lời trình bày của chị L về thời gian chung sống, có đăng ký kết hôn, con chung, tài sản chung và nợ chung. Trong thời gian chung sống, vợ chồng không có mâu thuẫn gì nhưng do anh T phải đi chấp hành án nên chị L yêu cầu ly hôn. Nay anh đồng ý ly hôn.
Về con chung: Anh đồng ý cho chị L được quyền trực tiếp nuôi dưỡng các con; anh không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết.
Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết.
Do đang chấp hành án tại Trại giam C nên anh T có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định pháp luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56, 58, 81, 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016:
Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Ngọc L đối với anh Cao Văn T. Con chung, giao cho L được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Cao Mỹ D, sinh ngày 09/6/2018, cháu Cao Tuấn A, sinh ngày 15/3/2020. Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con do chị L không yêu cầu. Tài sản, chị L và anh T khai không có, không yêu cầu nên không xem xét giải quyết; Nợ chung, chị L và anh T khai không có nên không xem xét giải quyết.
Về án phí: Chị L phải chịu án phí sơ thẩm hôn nhân và gia đình theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Chị Nguyễn Thị Ngọc L và anh Cao Văn T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt là phù hợp với Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Ngọc L và anh Cao Văn T kết hôn trên cơ sở hôn nhân tự nguyện, có đăng ký kết hôn nên được pháp luật công nhận là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ.
[3] Xét tình trạng hôn nhân của anh chị thấy rằng: Anh chị chung sống từ năm 2018, trong thời gian sống chung anh chị phát sinh nhiều mâu thuẫn do anh T không chăm lo kinh tế gia đình, vợ con, vi phạm pháp luật và đang chấp hành hình phạt tù tại Trại giam C. Tại biên bản biên bản lấy lời khai ngày 28/10/2024 anh T đồng ý ly hôn. Do đó, có đủ căn cứ cho rằng mâu thuẫn giữa chị L và anh T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị L là phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[4] Về con chung: Chị L yêu cầu được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Cao Mỹ D, sinh ngày 09/6/2018 và cháu Cao Tuấn A, sinh ngày 15/3/2020, anh T đồng ý nên Hội đồng xét xử cần giao con cho chị L được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp theo quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình. Riêng việc cấp dưỡng nuôi con, chị L không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
[5] Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị Ngọc L và anh Cao Văn T khai không có, không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
[6] Về nợ chung: Chị Nguyễn Thị Ngọc L và anh Cao Văn T khai không có nên không xem xét giải quyết.
[7] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[8] Về án phí: Chị L phải chịu án phí theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 56, 81, 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Ngọc L với anh Cao Văn T. Chị L được ly hôn với anh T.
-
Về con chung: Giao cho chị L được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Cao Mỹ D, sinh ngày 09/6/2018 và cháu Cao Tuấn A, sinh ngày 15/3/2020. Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con do chị L không yêu cầu.
Anh T có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
- Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị Ngọc L và anh Cao Văn T khai không có, không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
- Về nợ chung: Chị Nguyễn Thị Ngọc L và anh Cao Văn T khai không có nên không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Chị L phải chịu 300.000 đồng tiền án phí sơ thẩm hôn nhân gia đình. Khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0012337 ngày 11-10-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bến Cầu. Ghi nhận chị L đã nộp đủ tiền án phí.
Các đương sự có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh theo trình tự phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Vui |
5
Bản án số 61/2024/HNGĐ-ST ngày 21/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU TỈNH TÂY NINH về tranh chấp ly hôn và con chung
- Số bản án: 61/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Ly hôn và con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/11/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nghiện ma túy
