|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀNG ĐỊNH TỈNH LẠNG SƠN Bản án số: 61/2024/HS-ST Ngày 14 - 11 - 2024. |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do – Hạnh phúc ——————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀNG ĐỊNH, TỈNH LẠNG SƠN
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Bẩy.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Thanh Hà.
Bà Lương Thu Hương.
Thư ký phiên tòa: Bà Bế Thị Kiều - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Ông Đoàn Đức Trọng - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 11 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai, trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 58/2024/TLST - HS ngày 07 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 60/QĐXXST-HS, ngày 31 tháng 10 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn đối với các bị cáo:
1. Đinh Văn T, sinh ngày 06 tháng 02 năm 1991, tại huyện T, tỉnh Lạng Sơn. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa 03/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Văn C và bà Lộc Thị M; vợ, con chưa có; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 03/02/2021, bị Tòa án nhân dân huyện Tràng Định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 20 tháng, theo Quyết định số 03/2021/QĐ-TA đến nay chưa hết thời hạn được coi là chưa bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính; nhân thân: Ngày 27/3/2018, bị Công an huyện T xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc trái phép; Ngày 24/1/2019, có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy bị Công an huyện T xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo; bị cáo bị bắt tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Lạng Sơn từ ngày 14/6/2024 cho đến nay, có mặt.
2
2. Đinh Văn N, sinh ngày 14 tháng 9 năm 1996, tại huyện T, tỉnh Lạng Sơn. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa 06/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Văn L (đã chết) và bà Lý Thị C1; có vợ là Nông Thị D (đã ly hôn) và 01 con sinh năm 2017 hiện đang ở với mẹ; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 25/10/2021, bị Tòa án nhân dân huyện Tràng Định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 24 tháng, đến nay chưa hết thời hạn được coi là chưa bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính; nhân thân: Ngày 21/01/2014, có hành vi gây rối trật tự công cộng, bị Công an huyện T xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 2.500.000 đồng; ngày 03/4/2018, có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, bị Công an huyện T, tỉnh Cao Bằng xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo; ngày 09/5/2018, bị Tòa án nhân dân huyện Tràng Định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc trong thời hạn 02 năm, theo Quyết định số 09; ngày 05/8/2021, bị Công an xã T lập hồ sơ người chấp hành biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn; Ngày 28/10/2021, có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và bị Công an huyện T xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo; ngày 04/11/2021, có hành vi trộm cắp tài sản bị Công an huyện T xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng; bị cáo bị bắt tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Lạng Sơn từ ngày 20/6/2024 cho đến nay, có mặt.
3. Lý Văn H, sinh ngày 05 tháng 9 năm 1997, tại huyện T, tỉnh Lạng Sơn. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn A, xã T, huyện T, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa 12/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lý Văn Đ và bà Hoàng Thị P; có vợ là Nông Thu T1 và 01 con sinh năm 2020; tiền án; tiền sự: Không; nhân thân: Tại Bản án số 40/2016/HSST ngày 23/9/2016 của Tòa án nhân dân huyện Tràng Định xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội Cướp giật tài sản, đã được xóa án tích; bị cáo bị bắt tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Lạng Sơn từ ngày 20/6/2024 cho đến nay, có mặt.
- Những người làm chứng:
- Anh Chu Thanh N1, sinh năm 1989, vắng mặt;
- Anh Lương Quang K, sinh năm 1988, vắng mặt;
- Anh Hứa Viết B, sinh năm 1982, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
3
Hồi 09 giờ 00 phút ngày 14/6/2024, Công an huyện T làm nhiệm vụ tại khu vực thôn Bản Mới, xã Đ, huyện T, tỉnh Lạng Sơn phát hiện Đinh Văn T đang đi bộ cạnh đường có biểu hiện nghi vấn, tiến hành kiểm tra phát hiện tại túi quần bên trái Thiệu đang mặc có 01 gói chất bột màu trắng được gói bằng giấy trắng có dòng kẻ nghi là ma túy Heroin. Đinh Văn T khai nhận: Chất bột màu trắng trên là ma túy Heroin, T mua với Đinh Văn N và Lý Văn H để sử dụng và bán lại kiếm lời. Tổ công tác đã đưa Đinh Văn T cùng tang vật về trụ sở lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, tạm giữ, niêm phong tang vật là: 01 gói chất bột màu trắng được gói bằng giấy trắng có dòng kẻ và 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu OPPO màu đỏ số IMEI: 865720044560610, lắp 01 sim có số thuê bao 0389.206.803.
Căn cứ lời khai của Đinh Văn T, ngày 16/6/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã khởi tố vụ án đối với Đinh Văn T, ngày 20/6/2024 khởi tố bị can đối với Đinh Văn N, Lý Văn H về tội: Mua bán trái phép chất ma túy, theo quy định tại Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại Cơ quan điều tra, các bị cáo khai nhận như sau: Khoảng 06 giờ ngày 13/6/2024, Đinh Văn T đi ra quán nước ra khu vực ngã tư M thuộc Khu C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Lạng Sơn mua 02 gói ma túy Heroin giá 400.000 đồng với một người lạ mặt đem đến khu vực bụi cây cạnh đường thuộc thôn Bản Mới, xã Đ, huyện T, tỉnh Lạng Sơn xẻ một ít ma túy vừa mua ra để sử dụng bằng hình thức chích. Đến khoảng 08 giờ cùng ngày, khi đang đứng ở bụi cây cạnh đường thuộc thôn Bản Mới, Đ, T thì T gặp Chu Thanh N1 và Lương Quang K. N1 và K góp mỗi người 100.000 đồng rồi K một mình mua với T 01 gói ma túy Heroin giá 200.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, N1 cùng K đi lên khu đồi gần đó rồi chia nhau tự sử dụng hết. Đến khoảng 09 giờ cùng ngày, cũng tại địa điểm trên T tiếp tục bán cho Hứa Viết B 01 gói ma túy Heroin giá 200.000 đồng, sau khi mua được ma túy Bằng đem đi tự sử dụng. Số tiền do bán ma túy mà có, T đem đi tiêu sài cá nhân hết.
Khoảng 10 giờ ngày 12/6/2024, Lý Văn H đang uống nước tại khu vực bến xe thuộc khu B, thị trấn T, huyện T, thì gặp Đinh Văn N, cả 2 bàn bạc góp mỗi người 500.000 đồng để mua ma túy vừa để sử dụng, vừa để bán kiếm lời. Sau đó, cả hai đi xe khách đi đến khu vực ngã 3 đổi tiền thuộc thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn mua được với 01 người đàn ông làm nghề xe ôm (không rõ tên tuổi địa chỉ) 10 gói ma túy Heroin giá 1.000.000 đồng, sau đó N và H bắt xe khách về thôn Bản Mới, xã Đ, huyện T, đi bộ lên khu vực K để sử dụng ma túy và cất số ma túy còn lại để sử dụng dần. Từ ngày 12/6/2024 đến ngày 14/6/2024, H và N đã sử dụng hết 06 gói ma túy. Đến khoảng 08 giờ ngày 14/6/2024, H cùng N ra chỗ cất ma túy để sử dụng thì gặp Đinh Văn T hỏi mua ma túy, thấy vậy N và H đồng ý bán cho T 01 gói ma túy với giá 200.000 đồng, T mang số
4
ma túy này về chưa kịp sử dụng thì bị lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện bắt quả tang như đã nêu trên. Số ma túy 03 gói còn lại và 200.000 đồng bán ma túy, H và N chia nhau sử dụng và chi tiêu cá nhân hết.
Tại bản kết luận giám định số 689/KL-KTHS ngày 16/6/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh L kết luận: "Chất bột màu trắng có trong 01 gói giấy màu trắng có dòng kẻ đựng trong 01 phong bì ghi chữ "Tang vật nghi ma túy khi bắt quả tang của Đinh Văn T ngày 14/6/2024" gửi giám định là chất ma túy Heroin, có khối lượng 0,122 gam (đã trừ bì)".
Tại bản Cáo trạng số 57/CT-VKSTĐ ngày 07/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Đinh Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự; các bị cáo Đinh Văn N, Lý Văn H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố; công bố lời khai của những người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa đều được các bị cáo thừa nhận là đúng.
Tại phần luận tội, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tràng Định vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đinh Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251, Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Đinh Văn T từ 7 năm 6 tháng đến 8 năm 6 tháng tù. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Đinh Văn N, Lý Văn H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, áp dụng khoản 1 Điều 251, Điều 17, Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 55, Điều 58 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Đinh Văn N 2 năm 6 tháng đến 3 năm 6 tháng tù, bị cáo Lý Văn H từ 2 năm đến 3 năm tù; không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo; về xử lý vật chứng, đề nghị tịch thu tiêu hủy số ma túy đã bị thu giữ, vật chứng không có giá trị sử dụng, trả cho các bị cáo tài sản không dùng vào việc phạm tội; ngoài ra, cần áp dụng biện pháp tư pháp truy thu số tiền các bị cáo phạm tội mà có và các bị cáo phải chịu án phí theo quy định.
Phần tranh luận: Các bị cáo không có ý kiến tranh luận với Đại diện Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng, các bị cáo xin được mức án nhẹ để sớm được trở về với gia đình, hòa nhập cộng đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
5
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên huyện T trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay vắng mặt người làm chứng. Xét thấy việc vắng mặt người làm chứng không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự tiếp tục xét xử.
[3] Về lời khai nhận thực hiện hành vi phạm tội của các bị cáo tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy rằng: Các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người làm chứng, phù hợp với biên bản thu giữ đồ vật, đồng thời phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được trong hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở khẳng định, trong hai ngày 13/6/2024 và ngày 14/6/2024 Đinh Văn T đã 02 lần bán trái phép chất ma túy cho Lương Quang K và Hứa Viết B mỗi người 01 gói ma túy Heroin giá 200.000 đồng; Đinh Văn N, Lý Văn H cùng nhau góp tiền mua ma túy và bán lại 01 gói cho Đinh Văn T với giá 200.000 đồng. Hành vi của bị cáo Đinh Văn T đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự; hành vi của các bị cáo Đinh Văn N, Lý Văn H đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự như Cáo trạng đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[4] Xét đề nghị của Viện kiểm sát tại phiên tòa, ý kiến của các bị cáo và để có mức án phù hợp với hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử thấy rằng: Các bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, đủ nhận thức và thực hiện hành vi rất nghiêm trọng với lỗi cố ý, xâm phạm chế độ quản lý các chất ma túy của Nhà nước, là nguyên nhân gián tiếp gây ra tệ nạn xã hội và các tội phạm khác, do đó phải bị tuyên là có tội và chịu hình phạt. Ngoài ra, để phân hóa và cá thể hóa hình phạt, Hội đồng xét xử đánh giá vai trò của mỗi bị cáo trong từng hành vi của vụ án, các tình tiết về nhân thân, tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, thấy rằng:
[5] Đối với bị cáo Đinh Văn T là người trực tiếp mua ma túy 2 lần, có một lần mua của Đinh Văn N và Lý Văn H; trong đó có một lần mua với người không rõ tên tuổi và bán lại cho Lương Quang K và Hứa Viết B. Hành vi mua bán này của Đinh Văn T là nhiều lần và chịu trách nhiệm độc lập với các bị cáo Đinh Văn N và Lý Văn H. Đối với Đinh Văn N và Lý Văn H thì cả hai bị cáo đều thống nhất với nhau góp tiền mua ma túy về để sử dụng và bán lại kiếm lời
6
nhưng chứng minh được chỉ bán cho Đinh Văn T một lần và 01 gói. Do đó, Đinh Văn N và Lý Văn H đều có vai trò ngang nhau trong việc mua bán một lần.
[6] Về nhân thân: Các bị cáo Đinh Văn T, Đinh Văn N và Lý Văn H đều có nhân thân xấu; các bị cáo Đinh Văn T và Đinh Văn N còn có một tiền sự như đã nêu phần lý lịch. Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự; về tình tiết giảm nhẹ, các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Trên cơ sở đánh giá này, cần xử phạt các bị cáo mức án tương xứng với hành vi, vai trò các bị cáo đã thực hiện, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, mới đủ tính răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[7] Về hình phạt bổ sung: Qua kết quả xác minh các bị cáo không có việc làm và thu nhập ổn định, bản thân nghiện ma túy, vì vậy Hội đồng xét xử thấy không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.
[8] Về xử lý vật chứng, áp dụng Điều 46, Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2, 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định, vật chứng không có giá trị sử dụng; trả lại cho bị cáo tài sản không dùng vào việc phạm tội.
[9] Cần áp dụng biện pháp tư pháp truy thu số tiền do phạm tội mà có từ các bị cáo sung ngân sách Nhà nước.
[10] Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Đinh Văn T, Đinh Văn N nhưng không rõ tên tuổi, địa chỉ, nên không đủ căn cứ xác minh làm rõ. Đối với Lương Quang K và Chu Thanh N1, Hứa Viết B là người mua ma túy để sử dụng. Xét thấy hành vi của các đối tượng chưa đến mức xử lý về hình sự nên Công an huyện T đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính các đối tượng trên bằng hình thức Cảnh cáo là có căn cứ.
[11] Các bị cáo là người bị kết án thì phải chịu án phí theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và các bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Đinh Văn T;
7
Căn cứ khoản 1 Điều 251; Điều 17; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Đinh Văn N và Lý Văn H;
Áp dung Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2, khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 136; các Điều 331, 332 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh:
1.1. Tuyên bố bị cáo Đinh Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
1.2. Tuyên bố các bị cáo Đinh Văn N và Lý Văn H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
2. Về hình phạt:
2.1. Xử phạt bị cáo Đinh Văn T 07 (bẩy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 14/6/2024.
2.2. Xử phạt bị cáo Đinh Văn N 30 (ba mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 20/6/2024.
2.3. Xử phạt bị cáo Lý Văn H 30 (ba mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 20/6/2024.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
3. Về xử lý vật chứng:
3.1.Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong có chữ ký và đóng dấu theo quy định, bên trong có 01 (một) gói giấy đựng Heroin.
3.2 Trả lại cho bị cáo Đinh Văn T 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu OPPO màu đỏ, số IMEI 865720044560610 lắp sim số thuê bao 0389.206.803 đã qua sử dụng.
(Vật chứng được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tràng Định, theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/10/2024 giữa Chi cục Thi hành án dân sự và Công an huyện T).
4. Áp dụng biện pháp tư pháp: Tịch thu (truy thu) số tiền 400.000 (bốn trăm nghìn) đồng từ bị cáo Đinh Văn T; số tiền 100.000 (một trăm nghìn) đồng từ bị cáo Đinh Văn N và 100.000 (một trăm nghìn) đồng từ bị cáo Lý Văn H sung vào ngân sách Nhà nước.
8
5. Về án phí: Buộc các bị cáo Đinh Văn T, Đinh Văn N và Lý Văn H mỗi người phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung vào Ngân sách Nhà nước.
6. Quyền kháng cáo: Các bị cáo Đinh Văn T, Đinh Văn N và Lý Văn H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Bẩy |
Bản án số 61/2024/HS-ST ngày 14/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 61/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: DINH VAN THIEU VA DP - MUA BAN TRAI PHEP CHAT MA TUY
