TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GIÁ RAI TỈNH BẠC LIÊU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 61/2024/HSST Ngày 28 tháng 10 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GIÁ RAI TỈNH BẠC LIÊU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quang Khang
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Cao Thị Mỹ Phượng
Ông Nguyễn Thành Nhạn
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Trần Công Minh - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Hồng Mộng - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 68/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 76/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 10 năm 2024, đối với các bị cáo:
- Họ và tên: NGUYỄN VĂN B, sinh ngày 01/01/1989; tại tỉnh Hậu Giang; ĐKHKTT: ấp N, xã N, huyện H, tỉnh Bạc Liêu; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa (học vấn): 02/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1963 và bà Võ Thị T, sinh năm 1965; bị cáo có vợ tên Trần Thị N (là bị cáo trong vụ án) và 03 người con (lớn nhất sinh năm 2010, nhỏ nhất sinh năm 2019); Tiền án; tiền sự: Chưa có; Bị cáo bị tạm giam từ ngày 22/5/2024 (có mặt).
- Họ và tên: TRẦN THỊ N, sinh ngày 02/6/1989; tại tỉnh Bạc Liêu; ĐKHKTT: ấp N, xã N, huyện H, tỉnh Bạc Liêu; Nghề nghiệp: mua bán; Trình độ văn hóa (học vấn): Không biết chữ; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Kim H, sinh năm 1958 và bà Lâm Thị B1, sinh năm 1961; bị cáo có chồng tên Nguyễn Văn B (là bị cáo trong vụ án) và 03 người con (lớn nhất sinh năm 2010, nhỏ nhất sinh năm 2019); Tiền án; tiền sự: Chưa có; Bị cáo tại ngoại (có mặt).
- Người bào chữa cho các bị cáo: Ông Huỳnh Phước H1 là Luật sư Công ty L thuộc Đoàn luật sư tỉnh B (có mặt).
Bị hại: Ông Bùi Văn Đ, sinh năm 1988; Địa chỉ: ấp F, xã P, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 17 giờ ngày 21/5/2024, Nguyễn Văn B rủ rê Trần Thị N đi tìm tài sản để trộm bán lấy tiền tiêu xài thì N đồng ý.
Khoảng 22 giờ cùng ngày, Nguyễn Văn B dùng xe mô tô Yamaha, lắp biển số 94H2-3654 chở Trần Thị N đi từ nhà thuộc ấp N, xã N, huyện H lưu thông trên tuyến Quản lộ Phung Hiệp theo hướng Bạc Liêu – Cà Mau. Khi đến đoạn đường thuộc ấp F, xã P, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu, Nguyễn Văn B phát hiện ở máy hiên trước nhà ông Bùi Minh H2 có 02 xe mô tô không có người trông coi nên B dừng xe lại cách nhà ông H2 khoảng 100m rồi xuống xe đi đến vị trí 02 xe mô tô đang đậu, còn Trần Thị N thì điều khiển xe chạy qua lại trên lộ trước nhà ông H2 để quan sát nếu có người thì thông báo cho B.
Khi đến máy hiên nhà ông H2, Nguyễn Văn B dẫn xe mô tô biển số 94D1-522.68 (xe của ông Bùi Văn Đ) ra lộ để chạy đi nhằm chiếm đoạt xe, khi B dẫn xe đi cách vị trí ban đầu khoản 5m thì bị ông Bùi Văn N1 phát hiện, truy hô và báo Công an xã P bắt quả tang đối với Nguyễn Văn B, Trần Thị N.
Tại Kết luận định giá tài sản số 24/KL-HĐĐGTS ngày 23/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thuộc Ủy ban nhân nhân thị xã G kết luận: Xe mô tô biển số 94D1-522.68 có giá trị 11.214.000 đồng.
Ngoài ra, Nguyễn Văn B khai nhận còn 03 lần thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác, cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất: Khoảng tháng 3/2023, tại ấp Đ, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang, Nguyễn Văn B thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt xe mô tô Yamaha, loại xe Jupiter biển số 68L1-055.33 của Lê Tấn P. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã G đã chuyển tin báo cho Cơ quan điều tra Công an huyện A, tỉnh Kiên Giang.
Vụ thứ hai: Khoảng 18 giờ một ngày thuộc tháng 3/2024, Nguyễn Văn B thuê 01 người chạy xe honda ôm chở B đi từ nhà đến xã N, huyện H, tỉnh Bạc Liêu để tìm tài sản lấy trộm. Khi đến khu vực xã N, B thanh toán tiền xe rồi đi bộ đến ấp N, khi đến nhà ông Trương Văn K thì phát hiện 01 xe Wave biển số 94H2-3654, không người trông coi nên B đã lén lút chiếm đoạt xe trên đem về nhà. Sau đó, bị cáo lấy biển số xe của ông K lắp vào xe mô tô Y, loại xe Jupiter chiếm đoạt ở A, Kiên Giang. Khoảng 3 ngày sau khi chiếm đoạt xe của ông Trương Văn K thì Nguyễn Văn B đã bán xe cho người mua ve chai với số tiền 800.000 đồng.
Tại Kết luận định giá tài sản số 50/KL-HĐĐGTS ngày 05/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thuộc Ủy ban nhân nhân thị xã G kết luận đối với xe mô tô biển số 94H2-3654: Không xác định được giá trị, vì không đủ cơ sở (do không cung cấp được hiện trạng thực tế của tài sản, thời gian sử dụng tài sản đã quá thời gian khấu hao tài sản theo quy định).
Đối với xe mô tô biển số 94H2-3654, Trương Văn K xác định có giá trị khoảng 1.000.000 đồng. Nhưng ông K yêu cầu Nguyễn Văn B bồi thường 2.000.000 đồng để ông mua xe khác. Gia đình bị cáo đã bồi thường xong cho ông K số tiền 2.000.000 đồng.
Vụ thứ ba: Vào khoảng tháng 4/2024, trên đường thuộc Quản lộ Phụng Hiệp, địa phận huyện P, tỉnh Bạc Liêu, Nguyễn Văn B cùng Trần Thị N đã lén lút chiếm đoạt 01 xe mô tô không rõ đặc điểm, nhãn hiệu, xe không biển số kiểm soát.
Đối với vụ trộm trên, chưa xác định được bị hại, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã G đã chuyển tin báo đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P.
Cáo trạng số 56/CT-VKS-HS ngày 05 tháng 9 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu truy tố bị cáo Nguyễn Văn B và bị cáo Trần Thị N, về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn B và bị cáo Trần Thị N, đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn B và bị cáo Trần Thị N, phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58; Điều 17 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B từ 06 tháng đến 09 tháng tù. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58; Điều 17 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Thị N từ 06 tháng đến 09 tháng tù.
Luật sư bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn B và bị cáo Trần Thị N có ý kiến đề nghị: Thống nhất với hành vi và tội danh mà Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Giá Rai đã truy tố đối với các bị cáo. Tuy nhiên, bị cáo Nguyễn Văn B đã thành khẩn khai báo, khắc phục hậu quả cho Trương Văn K; Bị cáo Trần Thị N phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo. Mặt khác, trong vụ án này bị cáo B và bị cáo N có mối quan hệ vợ chồng, có hoàn cảnh gia đình khó khăn lại phải nuôi 03 con chưa thành niên. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử phạt bị cáo B dưới mức thấp nhất của khung hình phạt; áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự, cho bị cáo N được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo không khiếu nại hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Căn cứ vào lời khai bị cáo Nguyễn Văn B và bị cáo Trần Thị N tại phiên tòa sơ thẩm cùng các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có căn cứ xác định: Xuất phát từ sự đề xuất, rủ rê của bị cáo Nguyễn Văn B, vào khoảng 22 giờ ngày 21/5/2024 tại ấp F, xã P, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu bị cáo Nguyễn Văn B cùng bị cáo Trần Thị N đã cũng nhau lén lút thực hiện hành vi chiếm đoạt xe mô tô biển số 94D1-522.68 của ông Bùi Văn Đ. Qua định giá, giá trị tài sản các bị cáo chiến đoạt của bị hại có giá trị bằng 11.214.000 đồng.
[3] Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn B và bị cáo Trần Thị N là nguy hiểm cho xã hội, không những đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của bị hại mà còn gây mất trật tự trị an ở địa phương. Với hành vi và giá trị tài sản như đã nêu trên Cáo trạng số 56/CT-VKS-HS ngày 05 tháng 9 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu truy tố bị cáo Nguyễn Văn B và bị cáo Trần Thị N về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội; Cần phải được xử phạt nghiêm theo tội danh và hình phạt mà điều luật đã quy định để răn đe, giáo dục các bị cáo.
[4] Xét vai trò của các bị cáo: Bị cáo Nguyễn Văn B là người đề xuất rủ rê và trực tiếp chiếm đoạt tài sản của bị hại Nguyễn Văn Đ1; Bị cáo Trần Thị N tham gia với vai trò giúp sức, quan sát, cảnh giới cho bị cáo B khi thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của bị hại. Do đó, vai trò của bị cáo Trần Thị N là thấp hơn bị cáo Nguyễn Văn B.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Tuy nhiên, ngoài lần phạm tội này, vào tháng 3/2023, tại huyện A, tỉnh Kiên Giang bị cáo B còn thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của Lê Tấn P. Đối với hành vi này Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện A đã quyết định khởi bị can đối với Nguyễn Văn B và số tiền bị cáo khắc phục cho Trương Văn K không phải là khắc phục do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Do đó, bị cáo không được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả” và “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”; Bị cáo có ông ngoại là Liệt sĩ, không phải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật. Bị cáo đã thành khẩn khai báo nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Đối với bị cáo Trần Thị N: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo N có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với vai trò thứ yếu giúp sức nên Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 Điều 54 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật đã quy định.
[5] Về vật chứng: Đối với 02 chai nhựa, trong chai có xăng do các bị cáo mang theo làm nhiên liệu đi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản cần tịch thu tiêu hủy.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không yêu cầu các bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
[7] Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn B và bị cáo Trần Thị N, phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B 01 (một) năm tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính kể từ ngày 22/5/2024.
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 3 Điều 54; Điều 17 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Trần Thị N 03 (ba) tháng tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính kể từ ngày bị cáo bị bắt đi chấp hành án.
- Về xử lý vật chứng, áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 02 chai nhựa, trong đó 01 chai đựng đầy dung dịch màu xanh và 01 chai đựng ¼ dung dịch màu xanh (nghi 02 chai đựng dung dịch là xăng).
(vật chứng được quản lý tại Chi cục THADS thị xã G)
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Văn B, Trần Thị N mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trần Quang Khang |
Bản án số 61/2024/HSST ngày 28/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GIÁ RAI TỈNH BẠC LIÊU về hình sự (trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 61/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GIÁ RAI TỈNH BẠC LIÊU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Văn B và vợ là bị cáo Trần Thị N thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt xe mô tô của bị hại
