|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐƯỜNG TỈNH LAI CHÂU Bản án số: 61/2024/HS-ST Ngày 15 tháng 10 năm 2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐƯỜNG, TỈNH LAI CHÂU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Triệu Trung Tá.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tẩn A Nao, ông Vàng Văn Ngọc
Thư ký phiên tòa: Bà Cao Thị Hóa - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tam Đường tỉnh Lai Châu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu tham gia phiên tòa: Ông Đặng Văn Hữu - Kiểm sát viên.
Trong ngày 15 tháng 10 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 66/2024/TLST - HS ngày 05 tháng 9 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 61/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Đình T, tên gọi khác: Không có tên gọi khác, sinh ngày 13/10/1973; Nơi sinh: Huyện H, tỉnh Thái Bình; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Bản C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Viên chức; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Đình K, đã chết và bà Nguyễn Thị T1, đã chết; Bị cáo có vợ là Nguyễn Phương A, sinh năm 1980 và 01 con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 12/6/2024 đến ngày 15/6/2024 được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú đến nay có mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Phương A, sinh năm 1980. Địa chỉ: Bản C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Lai Châu. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 12/06/2024, Nguyễn Đình T, sinh năm 1973 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu SUZUKI IMPULSE, BKS: 25B1-166.47 của chị Nguyễn Phương A, sinh năm 1980 (Phương A là vợ của T) đi từ nơi ở của mình đến bản M, thị trấn T, huyện T, tỉnh Lai Châu để tìm mua H sử dụng cho bản thân. Khi đi đến bản M, thị trấn T, T gặp một người đàn ông khoảng 40 tuổi không biết tên, tuổi, lai lịch của người này nhìn giống người nghiện ma túy nên T hỏi mua Heroine của người này, qua trao đổi Thuấn mua được của người đàn ông này 02 gói Heroine mỗi gói đều được gói bằng mảnh nilon màu xanh buộc thắt nút một đầu với giá 500.000 đồng. Mua được H, T cất giấu 01 gói Heroine vào trong túi quần đùi phía trong bên phải đang mặc, gói còn lại T cầm trên tay trái rồi điều khiển xe mô tô đi tìm địa điểm để sử dụng, còn người đàn ông đã bán ma túy cho T đi đâu làm gì, T không biết. Khi T điều khiển xe mô tô đi đến ngõ C, đường T, thuộc bản Mường Mớ, thị trấn T, huyện T, tỉnh Lai Châu thì bị tổ công tác công an thị trấn T phát hiện, bắt quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng vào hồi 09 giờ 00 cùng ngày.
Kết luận giám định số 37/KL - GĐVV ngày 12/6/2024 của giám định viên theo vụ việc và bản Kết luận giám định số 744/ KL - KTHS ngày 14/6/2024 của Phòng K1 - Công an tỉnh L đã khẳng đinh: 02 gói chất bột, màu trắng thu giữ của Nguyễn Đình T có tổng khối lượng 0,277 gam; là chất ma túy, loại: Heroine.
Bản cáo trạng số: 56/CT-VKSTĐ ngày 04 tháng 9 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu đã truy tố bị cáo Nguyễn Đình T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu đã truy tố, không oan, không sai.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đề nghị Hội đồng xét xử xem xét trả lại cho gia đình chị 01 xe mô tô là vật chứng của vụ án vì đó là tài sản chung của vợ chồng anh chị.
Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
Về hình phạt: Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Đình T từ 12 tháng đến 18 tháng tù.
Về vật chứng: Đối với 0,277 gam Heroine là vật chứng vụ án đã lấy toàn bộ để giám định không hoàn lại, nên không đề cập xử lý. Đề nghị tịch thu, tiêu hủy vỏ phong bì niêm phong ban đầu, 02 mảnh nilon màu xanh gói vật chứng ban đầu. Tịch thu bán sung quỹ nhà nước 01 xe mô tô SUZUKI nhãn hiệu IMPULSE màu đỏ - đen, BKS 25B1-166.47, số khung: RLSCF4EY1E0100719, số máy: F4F3-100717, loại xe cũ đã qua sử dụng.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là viên chức thu nhập thấp, là người nghiện ma túy nên khó có khả năng thi hành hình phạt tiền nên đề nghị không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Về án phí: Đề nghị hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Bị cáo không tranh luận đối đáp với đại diện Viện kiểm sát, ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho mình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, Điều tra viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của mình theo quy định tại Điều 37 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Kiểm sát viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của mình theo quy định tại Điều 42 của Bộ luật Tố tụng hình sự; các tài liệu, chứng cứ được thu thập theo đúng trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định. Nên các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử là hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là hoàn toàn phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do vậy có đủ cơ sở xác định bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội như sau: Vào hồi 9 giờ 00 phút ngày 12/6/2024, tại khu vực bản M, thị trấn T, huyện T, tỉnh Lai Châu. Bị cáo Nguyễn Đình T đang có hành vi tàng trữ trái phép 02 gói Heroine có tổng khối lượng là 0,277 gam với mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị phát hiện, bắt quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách quản lý độc quyền các chất ma túy của Nhà nước. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Do vậy, phải chịu trách nhiệm hình sự do mình đã gây ra. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đường truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ.
Bị cáo không có tiền án, tiền sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải về hành vi của mình, bị cáo trong quá trình công tác đã được Giấy khen của Ủy ban nhân dân huyện T các năm 2007, 2022; được tặng giấy khen của Liên đoàn lao động huyện T năm 2009 và giấy khen giai đoạn 2004 - 2009. Bố đẻ bị cáo được UBND tỉnh T tặng bằng khen vì đã có thành tích trong kháng chiến chống Pháp, mẹ đẻ bị cáo được Trung ương đoàn TNCSHCM tặng Kỷ niệm chương TNXP - xây dựng CNXH đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội gây mất trật tự trị an, đặc biệt tại địa phương bị cáo sinh sống, làm việc. Quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên được chấp nhận.
[3] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là viên chức thu nhập thấp, là người nghiện ma túy nên khó có khả năng thi hành hình phạt tiền nên không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
[4] Về xử lý vật chứng: Đối với 0,277 gam Heroine đã lấy toàn bộ để giám định không hoàn lại, nên Hội đồng xét xử không xem xét. Đối với 02 mảnh nilon màu xanh dùng để gói Heroine, phong bì niêm phong không còn giá trị nên tịch thu tiêu hủy toàn bộ. Đối với 01 xe mô tô SUZUKI nhãn hiệu IMPULSE màu đỏ - đen, BKS 25B1-166.47, số khung: RLSCF4EY1E0100719, số máy: F4F3-100717 thu giữ của bị cáo là tài sản chung của vợ chồng bị cáo và đây là phương tiện phạm tội nên tịch thu bán sung quỹ nhà nước. Do đó yêu cầu của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không được chấp nhận.
[5] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c Khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136; Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình T 12 tháng tù. Bị cáo được khấu trừ 03 ngày tạm giữ, còn phải chấp hành 11 tháng 27 ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
- Xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy 02 mảnh nilon màu xanh, vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu. Tịch thu bán sung quỹ nhà nước 01 xe mô tô SUZUKI nhãn hiệu IMPULSE màu đỏ - đen, BKS 25B1-166.47, số khung: RLSCF4EY1E0100719, số máy: F4F3-100717.
- Án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Triệu Trung Tá |
Bản án số 61/2024/HS-ST ngày 15/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐƯỜNG, TỈNH LAI CHÂU về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 61/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐƯỜNG, TỈNH LAI CHÂU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tàng trữ ma túy
