Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TIÊN LÃNG

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

Bản án số: 61/2024/HNGĐ-ST

Ngày 27-9-2024

V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Huyền Trang;

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Hữu Bình;

Ông Vũ Đức Bình.

- Thư ký phiên toà: Bà Trương Thị Thuý - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lãng tham gia phiên tòa:

Ông Bùi Văn Tuân - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 98/2024/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 6 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 55/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 27 tháng 8 năm 2024 (Quyết định hoãn phiên tòa số 44/2024/QĐST-HNGĐ, ngày 13 tháng 9 năm 2024), giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị D, sinh năm 19xx; nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Hải D, vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Bùi Gia P, sinh năm 19xx; nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn (chị Phạm Thị D) trình bày:

Chị Phạm Thị D và anh Bùi Gia P tự nguyện kết hôn với tại Uỷ ban nhân dân xã T, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng từ ngày 16 tháng 5 năm 2011. Anh chị chung sống hoà thuận được khoảng 01 năm đầu thì phát sinh mâu thuẫn do tính tình không hợp, vợ chồng bất đồng quan điểm sống; một phần, do anh P ham chơi, không quan tâm đến gia đình, vợ con nên anh chị thường xuyên cãi nhau, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Mâu thuẫn vợ chồng anh chị đã được gia đình hai bên hoà giải nhiều lần nhưng không có kết quả. Do mâu thuẫn căng thẳng, anh chị sống ly thân nhau từ tháng 04 tháng 2012 đến nay, không quan tâm đến nhau. Nay, xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị D đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh P. Anh chị có 01 con là Phạm Ngọc M, sinh ngày 14 tháng 8 năm 2011. Từ khi anh chị sống ly thân đến nay cháu M do chị D trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Khi ly hôn, chị D đề nghị Tòa án giao tiếp tục giao cháu M cho chị trực tiếp nuôi dưỡng. Việc cấp dưỡng cho con chị xin tự thỏa thuận với anh P. Anh chị không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Bùi Gia P trình bày, xác nhận lời khai của chị D về thời gian kết hôn, thời gian sống ly thân, con chung, tài sản chung là đúng và thừa nhận vợ chồng anh chị đã sống ly thân thời gian dài, không còn tình cảm với nhau. Tuy nhiên, vì mong muốn con chung có đủ cả bố và mẹ nên anh không đồng ý ly hôn. Vì vậy, anh không có quan điểm về người trực tiếp nuôi con, cấp dưỡng cho con sau khi ly hôn cũng như về tài sản chung.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Thẩm phán đã thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, thông báo về việc thu thập được chứng cứ, tài liệu, mở phiên họp, hoà giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử đúng quy định về thẩm quyền, thời hạn, trình tự, thủ tục tố tụng; phiên toà được mở đúng thời hạn, Hội đồng xét xử thực hiện đúng quy định tại Chương XIV của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn không tham gia phiên họp, phiên hòa giải, vắng mặt tại phiên tòa không có lý do là thực hiện chưa đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 266, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị D: Xử cho chị D được ly hôn anh Bùi Gia P. Về con chung: Giao cho chị Phạm Thị D trực tiếp nuôi dưỡng con Bùi Phạm Ngọc M, sinh ngày 14 tháng 8 năm 2011. Về việc cấp dưỡng cho con và về tài sản chung do đương sự không yêu cầu Toà án giải quyết nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giải quyết. Chị D phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về tố tụng:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Chị Phạm Thị D khởi kiện xin ly hôn anh Bùi Gia P và nhận trực tiếp nuôi con chung (cháu Bùi Phạm Ngọc M). Anh P có nơi cư trú tại: Thôn Tiên Cựu, xã Tiên Cường, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, quan hệ tranh chấp của vụ án là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tiên Lãng.

[2] Về việc vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn (chị D) vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn (anh P) vắng mặt tại phiên toà làn thứ hai không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 227 và khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt chị D và anh P.

- Về nội dung:

[3] Về quan hệ hôn nhân: Lời khai của các đương sự phù hợp với nhau, phù hợp với các tài liệu xác minh tại gia đình, địa phương và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, sự phù hợp đó thể hiện: Chị D, anh P tự nguyện kết hôn với nhau tại Uỷ ban nhân dân xã Tiên Cường vào ngày 16 tháng 5 năm 2011 là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại khoản 1 Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình. Trong thời gian chung sống, do tính tình không hợp, vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn, bất hoà; bản thân anh chị và hai bên gia đình đã hoà giải nhiều lần nhưng không có kết quả. Mặt khác trong thời gian dài anh chị sống ly thân nhau (từ tháng 4 năm 2012 đến nay) anh P không đưa ra được giải pháp nào để hoà giải, vợ chồng về đoàn tụ và thừa nhận vợ chồng không còn quan tâm đến nhau. Do đó có đủ căn cứ xác định, tình trạng hôn nhân của chị D, anh P đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu của chị D, xử cho chị D được ly hôn anh P.

[4] Về con chung: Anh chị xác nhận có 01 con là Bùi Phạm Ngọc M, sinh ngày 14 tháng 8 năm 2011. Từ khi anh chị sống ly thân đến nay cháu M do chị D trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc tốt; chị D hiện làm công nhân có thu nhập và nơi ở ổn định; ngoài việc tự mình chị D còn được gia đình hỗ trợ trong việc chăm sóc cháu M; anh P sống một mình, lại làm nghề lao động tự do, không rõ về công việc và thu nhập; quá trình giải quyết vụ án anh P cũng không có quan điểm về người trực tiếp nuôi con; cháu M có nguyện vọng được ở với mẹ. Từ những phân tích trên có đủ căn cứ khẳng định chị D đủ điều kiện nhận trực tiếp nuôi con và điều kiện trực tiếp nuôi con của chị D hiện tại hơn anh P. Để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho con, căn cứ khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu nhận trực tiếp nuôi con của chị D, giao con Bùi Phạm Ngọc M cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng. Về nghĩa vụ cấp dưỡng cho con, các đương sự không ai yêu cầu Tòa án giải quyết, xét thấy quyền lợi của con vẫn được đảm bảo nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[5] Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu Toà án giải quyết về tài sản chung nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[6] Về án phí: Căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, chị D phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228; Điều 266; Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 6; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án,

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Phạm Thị D được ly hôn anh Bùi Gia P.
  2. Về con chung: Giao con Bùi Phạm Ngọc M, sinh ngày 14 tháng 8 năm 2011 cho chị Phạm Thị D trực tiếp nuôi dưỡng. Thời hạn nuôi con tính từ ngày 27 tháng 9 năm 2024 cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Việc cấp dưỡng cho con, các đương sự xin tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.

    Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

  3. Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  4. Về án phí: Chị Phạm Thị D phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, án phí ly hôn sơ thẩm. Chị D đã nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, tiền tạm ứng án phí, theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0009049, ngày 20/6/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiên Lãng. Như vậy, chị D đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết, thông báo theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND, VKSND thành phố Hải Phòng;
  • - VKSND huyện Tiên lãng;
  • - Chi cục THADS huyện Tiên Lãng;
  • - UBND xã Tiên Cường, huyện Tiên Lãng (ĐKKH số 25/2011);
  • - Đương sự;
  • - Lưu: HCTP, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Huyền Trang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 61/2024/HNGĐ-ST ngày 27/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 61/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger