TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC BÌNH TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 61/2024/DSST Ngày: 30-9-2024. V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng, xử lý tài sản thế chấp” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC BÌNH-TỈNH BÌNH THUẬN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán- Chủ toạ phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Thảo
- - Các Hội thẩm nhân dân: 1/Bà Phạm Thị Bích Lệ
- 2/Ông Bá Đình Tâm
- - Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị Chiêm Vân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Như Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Huyện Bắc Bình, xét xử sơ thẩm công khai đối với vụ án thụ lý số 144/2023/TLST–DS ngày 20 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng và xử lý tài sản thế chấp” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 70/2024/QĐXXST-DS ngày 26/8/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 62/2024/QÐST-DS ngày 14/9/2024 giữa các bên đương sự:
- - Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần V1 (Viết tắt: V2)
- - Kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn: Công ty TNHH M.
- Địa chỉ: Tầng E, khối nhà E, Tòa nhà Cộng Hòa G, số B, đường C, phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Lê Tuấn A- chức vụ: chuyên viên (có đơn xin xét xử vắng mặt)
- (Văn bản ủy quyền số 23/2024/UQ.GLX-VBS ngày 02/01/2024)
- Địa chỉ: số A, đường T, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận
- - Bị đơn: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1991 (vắng mặt)
- Chị Phan Thị Ngọc T, sinh năm 1995 (vắng mặt)
- Địa chỉ: thôn A, xã S, huyện B, tỉnh Bình Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn khởi kiện nhận ngày 28/8/2023 cũng như quá trình tố tụng đại diện nguyên đơn và đại diện của người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn trình bày: Ngày 10/01/2022 Ngân hàng thương mại cổ phần V1 (viết tắc V2) do chi nhánh B ký hợp đồng tín dụng với ông Nguyễn Văn H và bà Phan Thị Ngọc T hợp đồng tín dụng số LN2112294991502 cho ông H và bà T vay số tiền 749.000.000 đồng (Bảy trăm bốn mươi chín triệu đồng), thời hạn vay 180 tháng (tính từ ngày 11/01/2022 đến ngày 11/01/2037), mục đích vay: Mua bất động sản, lãi suất cho vay tại thời điểm giải ngân là 8,99%/năm, cố định trong 24 tháng đầu tiên, sau đó điều chỉnh định kỳ 3 tháng 1 lần, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn, kỳ hạn trả nợ gốc mỗi tháng 1 lần vào ngày 15, bắt đầu từ ngày 15/02/2022 trả tiền nợ gốc mỗi tháng là 4.170.000 đồng và lãi kèm theo, kỳ cuối trả 2.570.000 đồng, lãi suất được điều chỉnh theo 3 tháng 1 lần + biên độ 3%.
Đảm bảo nợ vay ông H, bà T có thỏa thuận ngày 10/01/2022 cùng Ngân hàng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản nhà ở gắn liền trên đất đối với quyền sử dụng đất thửa đất số 160, tờ bản đồ 114, tọa lạc khu phố L, thị trấn L, huyện B, tỉnh Bình Thuận thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DD 530354 do sở Tài nguyên môi trường tỉnh B cấp ngày 28/9/2021 tên Nguyễn H1 và Nguyễn Thị P được Chi nhánh Văn phòng Đ cập nhật biến động theo hồ sơ chuyển nhượng sô 000037.CN981 ngày 05/01/2022 tên ông Nguyễn Văn H. Hợp đồng thế chấp số 0100 ngày 10/10/2022 đã được công chứng và đăng ký bảo đảm ngày 11/01/2022 tại Chi nhánh văn phòng Đ.
Từ khi vay ông Nguyễn Văn H và bà Phan Thị Ngọc T trả gốc và lãi theo thỏa thuận đến 14/11/2022:Tiền gốc 37.530.002 đồng, tiền lãi là 50.018.864 đồng. Kể từ ngày 15/11/2022 ông H và bà T không thực hiện nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi tính đến ngày 30/9/2024 nợ gốc còn phải trả là 711.469.998 đồng và lãi tính đến ngày 03/5/2024 là 159.096.055 đồng.
Ngân hàng yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Nguyễn Văn H và vợ là bà Phan Thị Ngọc T phải trả nợ vay cho ngân hàng theo hợp đồng đã ký, nếu không trả được hoặc trả không đầy đủ thì tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp phát mãi thi hành án.
Sau khi Tòa án thụ lý vụ án, ngày 02/01/2024 công ty M có văn bản số 33 /2024/CV-GLX DT-VPS đề nghị xác định công ty TNHH M(gọi tắc là công ty M) là người được kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng do khoản nợ vay của ông H và bà T Ngân hàng thương mại cổ phần V1 đã bán nợ cho bên công ty M theo hợp đồng mua bán nợ số 10/2023/VPB-Galaxy ngày 29/12/2023 nên đề nghị ông H và bà T phải có nghĩa vụ trả nợ đối với hợp đồng tín dụng số LN2112294991502 cho công ty M, nếu không trả được thì công ty M đề nghị phát mãi tài sản đã được đăng ký bảo đảm cho khoản nợ vay.
*Bị đơn ông Nguyễn Văn H và bà Phan Thị Ngọc T đã được Tòa án tống đạt thông báo thụ lý, thông báo tiếp cận công khai chứng cứ, hòa giải hợp lệ nhưng ông H và bà T vắng mặt không có lý do, không gởi chứng cứ ý kiến gì về yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn nên vụ án không hòa giải được và đưa ra xét xử.
Tại phiên tòa: Đại diện người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn công ty M có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt và yêu cầu bị đơn phải trả nợ theo hợp đồng tín dụng đã ký giữa nguyên đơn với bị đơn là khoản nợ của hợp đồng số LN2112294991502 ngày 10/01/2022 cho công ty M. Trường hợp bị đơn không trả được nợ hoặc trả không đủ đề nghị xử lý tài sản theo hợp đồng thế chấp số 0100 ngày 10/01/2022 đã được đăng ký bảo đảm ngày 11/01/2022 để bảo đảm thanh toán nợ vay đã ký.
Bị đơn vẫn vắng mặt tại phiên tòa 2 lần không có ý kiến về khởi kiện của nguyên đơn cũng như yêu cầu của người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn.
Đại diện Viện kiểm sát có ý kiến về quan điểm giải vụ án như sau:
- + Về tuân theo pháp luật của Thẩm phán đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự quy định về thụ lý đúng thẩm quyền, xác định quan hệ tranh chấp, tư cách tham gia tố tụng, thời hạn giải quyết, trình tự thủ tục hòa giải, tuy nhiên vi phạm thời hạn chuyển giao hồ sơ sang VKS
- + Về tuân theo pháp luật của hội đồng xét xử: Tại phiên tòa Hội đồng xét xử thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự
- + Về chấp hành pháp luật của đương sự: Nguyên đơn chấp hành theo quy định pháp luật tố tụng dân sự, bị đơn không chấp hành pháp luật mặt dù được triệu tập hợp lệ nhưng không có lý do, nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn là phù hợp quy định Điều 228 và Điều 238 BLTTDS.
- + Về nội dung vụ án:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm b khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 157, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự Điều 117, 298, 299, 303, 307, 319, 320, 321, 323, 463, 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015 Điều 90, 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng 2010; Điều 166, khoản 1 Điều 179 Luật Đất đai năm 2013 Nghị quyết số 32630/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Chấp nhận toàn bộ yêu yêu cầu của Công ty TNHH M, buộc ông Nguyễn Văn H, bà Phan Thị Ngọc T có nghĩa vụ trả số tiền tổng cộng 919.266.175 đồng, trong đó nợ gốc là 711.469.998 đồng, nợ lãi tính đến ngày 30/9/2024 là 207.796.177 đồng. Lãi suất tiếp tục được tính kể từ ngày xét xử trên số dư nợ gốc theo mức lãi suất nợ quá hạn do các bên thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay số LN2112294991502 ngày 10/01/2022.
Trường hợp ông Nguyễn Văn H, bà Phan Thị Ngọc T không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì Công ty TNHH M có quyền yêu cầu phát mại tài sản thế chấp tại Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 0100 ngày 10/01/2022 đăng ký thế chấp tại Chi nhánh Văn phòng Đ đối với thửa đất số 160, tờ bản đồ số 114, tọa lạc tại địa chỉ khu phố L, thị trấn L, huyện B, tỉnh Bình Thuận thuộc quyền sở hữu/sử dụng của ông Nguyễn Văn H và bà Phan Thị Ngọc T theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DD 530354, số vào sổ CS 05596 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 28/9/2021, thay đổi thông tin chủ sở hữu/sử dụng ngày 05/01/2022. Trường hợp sau khi xử lý tài sản bảo đảm nếu không đủ để trả khoản nợ gốc và toàn bộ tiền lãi phát sinh thì ông Nguyễn Văn H, bà Phan Thị Ngọc T phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả hết nợ cho Công ty TNHH M. Nếu sau khi xử lý tài sản bảo đảm mà thừa thì Công ty TNHH M phải có nghĩa vụ trả lại cho bà ông Nguyễn Văn H, bà Phan Thị Ngọc T.
- Về án phí, chi phí tố tụng: Đương sự chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà, xét ý kiến của các đương sự và ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn ông Nguyễn Văn H và bà Phan Thị Ngọc T được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt 2 lần không có lý do, đại diện người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn có đơn xin xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử xử vắng mặt đại diện của người kế thừa quyên nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn và bị đơn là đúng quy định tại Điều 227 và điểm b khoản 2 Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự.
Trong quá trình thụ lý, Nguyên đơn đã chuyển giao nghĩa vụ và quyền đối với khoản nợ của ông H và bà T cho bên công ty M theo hợp đồng mua bán nợ nên công ty M yêu cầu ông H và bà T phải trả nợ cho công ty M, Tòa án xác lập công ty M là người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn là có căn cứ, phù hợp quy định tại Điều 74 BLTTDS.
[2]Về nội dung khởi kiện về nợ gốc và lãi: Đối với hợp đồng tín dụng số LN2112294991502 ngày 10/01/2022 Ngân hàng thương mại cổ phần V1 (viết tắc V2) do đại diện chi nhánh B ký với vợ chồng ông Nguyễn Văn H, bà Phan Thị Ngọc T, nội dung thỏa thuận như sau: V2 cho ông H và bà T vay số tiền 749.000.000 (Bảy trăm bốn mươi chín triệu) đồng, mục đích vay: Mua bất động sản, thời hạn vay 180 tháng kể từ ngày 11/01/2022, lãi suất 8,99,5%/năm và lãi suất được điều chỉnh theo 3 tháng 1 lần theo lãi suất cơ sở VNĐ đối với khoản vay có tài sản bảo đảm có hiệu lực tại thời điểm điều chỉnh trên wedsite: V2.com.vn cộng (+) biên độ +3%/năm, lãi suất cho vay áp dụng theo dư nợ gốc quá hạn 150% theo mức lãi suất cho vay trong hạn, lãi suất chậm trả áp dụng đối với tiền lãi chậm trả bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn nhưng không quá 10%/ năm. Ngoài ra, bên vay còn chịu các loại phí khác. Như vậy, căn cứ vào thẩm quyền ký kết và nội dung thỏa thuận, Hội đồng xét xử xét hợp đồng tín dụng số LN2112294991502 ngày 10/01/2022 được giao kết giữa bên có thẩm quyền là Ngân hàng V2 với vợ chồng ông Nguyễn Văn H, bà Phan Thị Ngọc T thể hiện ý chí thỏa thuận tự nguyện giữa hai bên, nội dung thỏa thuận về cho vay và trả lãi không trái pháp luật, không vi phạm điều cấm xã hội nên có hiệu lực. Bên Ngân hàng TMCP V1 đã thực hiện giải ngân cho ông H và bà T theo tài khoản thụ hưởng do ông H và bà T chỉ định là tên Nguyễn Hợi. Theo chứng cứ Ngân hàng cung cấp có căn cứ xác định hợp đồng LN2112294991502 ngày 10/01/2022 bên cho vay đã thực hiện giải ngân theo thỏa thuận. Đối với bị đơn là bên vay có nghĩa vụ chứng minh nhưng không chứng minh, không cung cấp chứng cứ khác và không ý kiến gì nên Hội đồng xét xử căn cứ chứng cứ trong hồ sơ khởi kiện, xét thấy rằng hợp đồng tín dụng số LN2112294991502 ngày 10/01/2022 bên vay đã vi phạm thỏa thuận tại khoản 6 Điều 2 Hợp đồng tín dụng về nghĩa vụ thanh toán trả nợ gốc và lãi từ ngày 15/11/2022. Bởi từ khi vay đến nay ông H và bà T chỉ thanh toán trả nợ gốc là 37.530.002 đồng, tiền lãi 50.018.864 đồng nên Ngân hàng TMCP V1 yêu cầu ông H và bà T thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng tín dụng đã ký là có căn cứ. Do hiện nay khoản nợ của hợp đồng LN2112294991502 ngày 10/01/2022 nguyên đơn V2 đã bán cho công ty TNHM mua bán nợ Galaxy theo hợp đồng mua bán số 10/2023/VPB-Galaxy ngày 29/12/2023 nên Công ty M tiếp tục kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn V2 yêu cầu vợ chồng ông H và bà T phải nợ cho công ty M đối với khoản nợ vay LN2112294991502 ngày 10/01/2022 theo hợp đồng đã ký tiên nợ gốc hiện nay là 711.469.998 (Bảy trăm mười một triệu bốn trăm sáu mươi chín nghìn chín trăm chín mươi chín đồng) và trả lãi suất theo lãi quá hạn trên số nợ gốc 711.469.998 đồng tính từ ngày 15/11/2022 theo lãi suất quá hạn là 150% của lãi trong hạn và lãi chậm trả 150%/theo lãi quá hạn tính từ ngày 15/11/2022 đến ngày 30/9/2024 đối với tiền lãi phải trả tính đến ngày 30/9/2024 là 207.796.177 đồng theo bản kê tính lãi như sau: Với tiền lãi trong hạn từ ngày 16/10/2022 đến ngày 15/11/2022 là 5.507.766 đồng, lãi quá hạn từ ngày 16/11/2022 đến ngày 10/01/2024 là 112.198.522 đồng (lãi 8,99%), lãi quá hạn tính từ ngày 11/01/2024 đến ngày 31/3/2024 là 31.215746 đồng (lãi điều chỉnh là 13%), lãi quá hạn từ ngày 01/4/2024 đến ngày 30/6/2024 là 28.055.634 đồng (lãi điều chỉnh 10,40%), lãi quá hạn từ ngày 01/7/2024 đến 30/9/2024 là 30.818.509 đồng (lãi điều chỉnh 11,30%) và yêu cầu tiếp tục trả lãi trên hợp đồng đã ký LN2112294991502 ngày 10/01/2022 kể từ ngày tiếp theo đến khi ông H và bà T thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ gốc là có căn cứ phù hợp quy định tại Điều 365; Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015. Điều 37 Luật hôn nhân và gia đình và Điều 30, Điều 49, Điều 91 và Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng và văn bản hợp nhất Số 07/VBHN-VPQH ngày 12/12/2017 và Thông tư 39/2016 TT-N ngày 30/12/2016.
[3]Đối với tài sản thế chấp bảo đảm nợ vay của vợ chồng ông Nguyễn Văn H, bà Phan Thị Ngọc T: Tại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DD530354 do sở Tài nguyên môi trường tỉnh B cấp ngày 28/9/2021 tên Nguyễn H1 và Nguyễn Thị P được Chi nhánh Văn phòng Đ cập nhật biến động theo hồ sơ chuyển nhượng sô 000037.CN981 ngày 05/01/2022 tên ông Nguyễn Văn H. Hợp đồng thế chấp số 0100 ngày 10/10/2022 đã được ông H và bà T ký đảm bảo khoản nợ vay của hợp đồng tín dụng số LN2112294991502 ngày 10/01/2022 có công chứng và đã đăng ký bảo đảm ngày 11/01/2022 tại Chi nhánh văn phòng Đ đã thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất, theo biên bản thẩm định tại chổ ngày 10/7/2024, thửa đất 160 tờ bản đồ 114 thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền trên đất số DD530354 có 1 căn nhà cấp 4B và nhà vệ sinh được xây dựng năm 2001 nên quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất được thế chấp có hiệu lực. Do khoản nợ của hợp đồng tín dụng có đảm bảo bằng tài sản do ông H đứng tên và ông H và bà T đã thống nhất là tài sản bảo đảm nợ vay của ông H và bà T nên công ty M yêu cầu phát mãi tài sản để thi hành nghĩa vụ trả nợ nếu không trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ quy định tại Điều 299, Điều 317, Điều 318, Điều 319, Điều 320 Bộ luật dân sự năm 2015 và Điều 166 và Điều 179 Luật đất đai năm 2013 và Điều 27, Điều 37 Luật hôn nhân và gia đình.
[4]Đối với quan điểm về giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát phù hợp quy định pháp luật.
[5]Về lệ phí thẩm định tại chổ: Chi phí thẩm định tại chổ là 6.739.000 đồng do Công ty TNHH M tạm ứng. do yêu cầu của công nguyên đơn có căn cứ chấp nhận nên bị đơn ông H và bà T phải chịu là 6.739.000 đồng theo quy định tại Điều 157 BLTTDS.
[6]Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên bị đơn vợ chồng ông Nguyễn Văn H, bà Phan Thị Ngọc T phải liên đới chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm theo quy định Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 quy định về mức thu, miễn giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30 tháng 12 năm 2016.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: - Khoản 3 Điều 26, điểm a, khoản 1 Điều 35; điểm a, khoản 1 Điều 39; Điều 74; điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 238; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Điều 30; Điều 49; Điều 91; Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng và văn bản hợp nhất số 07/VBHN-VPQH ngày 12/12/2017.
- Thông tư 39/2016 TT-N ngày 30/12/2016
- Điều 365; Điều 299; Điều 317; Điều 318; Điều 319; Điều 320; Điều 468 Bộ luật Dân sự.
- Điều 27 và Điều 37 Luật hôn nhân và gia đình.
- Điều 166 và Điều 179 Luật đất đai
- Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 quy định về mức thu, miễn giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30 tháng 12 năm 2016.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn do người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng là Công ty M đối với bị đơn ông Nguyễn Văn H, bà Phan Thị Ngọc T về tranh chấp hợp đồng tín dụng và xử lý tài sản thế chấp.
+Buộc vợ chồng ông Nguyễn Văn H và bà Phan Thị Ngọc T phải liên đới trả nợ đối với hợp đồng tín dụng số LN2112294991502 ngày 10/01/2022 cho công ty TNHM mua bán nợ Galaxy số tiền nợ gốc là 711.469.998 (Bảy trăm mười một triệu bốn trăm sáu mươi chín nghìn chín trăm chín mươi chín đồng) và tiền lãi là 207.796.177 đồng và tiếp tục trả lãi kể từ ngày tiếp theo 01/10/2024 cho đến khi thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận hợp đồng tín dụng số LN2112294991502 ngày 10/01/2022.
+Trường hợp vợ chồng ông Nguyễn Văn H và bà Phan Thị Ngọc T trả nợ không đủ hoặc không thực hiện trả nợ đối với hợp đồng LN2112294991502 ngày 10/01/2022 cho công ty TNHM mua bán nợ Galaxy thì quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DD530354 do sở Tài nguyên môi trường tỉnh B cấp ngày 28/9/2021 tên Nguyễn H1 và Nguyễn Thị P được Chi nhánh Văn phòng Đ cập nhật biến động theo hồ sơ chuyển nhượng sô 000037.CN981 ngày 05/01/2022 tên ông Nguyễn Văn H sẽ được phát mãi thi hành án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự ; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
-Về chi phí thẩm định: Ông Nguyễn Văn H và bà Phan Thị Ngọc T phải hoàn lại tiền thẩm định tại chổ 6.739.000 đồng cho Công ty TNHH M.
- Về án phí: Buộc ông Nguyễn Văn H và bà Phan Thị Ngọc T phải liên đới nộp tiền án phí DSST là 39.577.985 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả lại Ngân hàng thương mại cổ phần V1 số tiền tạm ứng án phí đã nộp 17.863.963 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001391 ngày 20/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự Huyện Bắc Bình.
- Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn và bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán–Chủ tọa phiên tòa Lê Thị Thanh Thảo |
Bản án số 61/2024/DSST ngày 30/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC BÌNH TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp hợp đồng tín dụng, xử lý tài sản thế chấp
- Số bản án: 61/2024/DSST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng, xử lý tài sản thế chấp
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC BÌNH TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ theo hợp đồng tín dụng đã ký và xử lý tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp nếu không trả được nợ
