|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ GẠO TỈNH TIỀN GIANG -Bản án số: 61/2024/HS-ST -Ngày: 27/9/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ GẠO, TỈNH TIỀN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- * Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Tài;
- * Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Hoa Kiều
- Bà Lê Thị Ngọc Ánh
- * Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Sỹ Đăng Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang.
- * Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo tham gia phiên tòa: ông Ngô Thành Khánh Duy kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 43/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 9 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 16/2024/HSST- QĐ ngày 24 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo đối với bị cáo:
NGUYỄN THANH T, sinh ngày 14 tháng 9 năm 1999, tại tỉnh Tiền Giang. Số căn cước công dân: [...], cấp ngày 21 tháng 3 năm 2023. Nơi cấp: Cục C2 về TTXH. Nơi cư trú: ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Giới tính: Nam. Nghề nghiệp: Không. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 01/12. Con ông Nguyễn Văn T1 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1971 (đã chết). Bị cáo có 01 người anh ruột sinh năm 1997, bị cáo chưa có vợ, con. Tiền sự: không, Tiền án: 02 lần . Ngày 26/11/2018, Nguyễn Thanh T bị Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo tuyên phạt 02 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”, chưa được xóa án tích. Ngày 20/4/2022, Nguyễn Thanh T bị Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang tuyên phạt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chưa được xóa án tích. Bị cáo bị tạm giam từ ngày 05/12/2023 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện C. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Văn T1, sinh ngày 01/01/1973 (có mặt)
Địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Tiền Giang
* Người làm chứng:
- Huỳnh Minh K, sinh ngày 12/5/1997 (vắng mặt)
- Ngô Phương B, sinh ngày 07/3/1996 (vắng mặt)
- Đinh Công G, sinh ngày 22/11/1990 (vắng mặt)
- Trần Nguyễn Bảo C, sinh ngày 15/9/1998 (vắng mặt)
- Hồ Thanh D, sinh năm 03/7/1995 (vắng mặt)
- Võ Hoàng P, sinh ngày 07/8/1993 (có mặt)
Địa chỉ: Ấp Mỹ An, xã Mỹ Phong, Thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang
Địa chỉ: Ấp Tân Thạnh, xã Tân Hương, huyện Châu Thành, Tiền Giang
Địa chỉ: Ấp Mỹ Trường, xã Mỹ Tịnh An, huyện Chợ Gạo, Tiền Giang
Địa chỉ: Ấp Mỹ Khương, xã Mỹ Tịnh An, huyện Chợ Gạo, Tiền Giang
Địa chỉ: Ấp Mỹ An A, xã Mỹ Tịnh An, huyện Chợ Gạo, Tiền Giang
Địa chỉ: ấp L, xã L, huyện C, Tiền Giang
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 12 giờ 00 phút ngày 18/7/2023, tại nhà ông Nguyễn Văn T1 lực lượng Công an xã P phối hợp với Công an huyện C tiến hành kiểm tra hành chính, phát hiện trong phòng ngủ lúc này có 02 người gồm Nguyễn Thanh T (là con ruột ông Nguyễn Văn T1) và Dương Thị Mỹ D1, sinh năm 2002, ngụ ấp X, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang (là bạn gái của T). Qua kiểm tra phát hiện trong ngăn đá tủ lạnh để trong phòng của T có 18 gói nylon màu trắng được hàn kín, bên trong chứa nhiều tinh thể trong suốt nghi là ma túy; trong tủ quần áo đặt trong phòng ngủ của T có 02 gói nylon màu trắng được hàn kín, bên trong chứa nhiều tinh thể trong suốt nghi là ma túy.
Tiến hành mở rộng kiểm tra phát hiện trong tủ cây gần nhà bếp có 02 gói nylon màu trắng được hàn kín, bên trong chứa nhiều tinh thể trong suốt nghi là ma túy. Lực lượng kiểm tra tiến hành lập biên bản, thu giữ vật chứng và chuyển cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C thụ lý xác minh giải quyết theo quy định.
Theo bản kết luận giám định số 135 ngày 21/7/2023 của Phòng K3 Công an tỉnh T xác định:
- Gói 1: Một túi niêm phong mã số NS3A 099272 được niêm phong có ghi chữ “TRÍ”, các chữ kí ghi họ tên: Dương Thị Mỹ D1, Hồ Duy B1 trên túi niêm phong. Bên trong có: 15 (mười lăm) gói nylon màu trắng, có viền màu xanh một đầu được bóp kín (loại túi zip), đều chứa nhiều tinh thể trong suốt (kí hiệu M1.1) và 03 (ba) gói nylon màu trắng, có viền màu đỏ một đầu được bóp kín (loại túi zip), đều chứa nhiều tinh thể trong suốt (kí hiệu M1.2, M1.3 và M1.4). Các mẫu tinh thể trong suốt gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 53,1698 gam, loại Methamphetamine (trong đó: mẫu kí hiệu M1.1 có khối lượng 2,8240 gam, mẫu kí hiệu M1.2 có khối lượng 24,5036 gam, mẫu kí hiệu M1.3 có khối lượng 20,4109 gam, và mẫu kí hiệu M1.4 có khối lượng 5,4313 gam).
- Gói 2: Một túi niêm phong mã số NS4A 168532 được niêm phong có ghi chữ “TRÍ”, các chữ kí ghi họ tên: Dương Thị Mỹ D1, Hồ Duy B1 trên túi niêm phong. Bên trong có: 01 gói nylon màu trắng, có viền màu xanh một đầu được bóp kín (loại túi zip), chứa nhiều tinh thể trong suốt (kí hiệu M2.1) và 01 gói nylon màu trắng, có viền màu trắng một đầu được bóp kín (loại túi zip), chứa nhiều tinh thể trong suốt (kí hiệu M2.2). Các mẫu tinh thể trong suốt gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 1,9784 gam, loại Methamphetamine (trong đó: mẫu kí hiệu M2.1 có khối lượng 0,2250 gam, mẫu kí hiệu M2.2 có khối lượng 1,7534 gam).
- Gói 3: Một túi niêm phong mã số NS3A 099271 được niêm phong có ghi chữ “TRÍ”, các chữ kí ghi họ tên: Dương Thị Mỹ D1, Hồ Duy B1 trên túi niêm phong. Bên trong có: 01 gói nylon màu trắng, có viền màu trắng một đầu được bóp kín (loại túi zip), có dòng chữ: “BÔNG BẠCH TUYẾT, TĂM BÔNG, Cotton Buds” dán trên gói nylon, chứa 01 gói nylon màu trắng được hàn kín, chứa nhiều tinh thể trong suốt (kí hiệu M3.1); và 01 gói nylon màu trắng hàn kín được dán bằng 02 đoạn băng keo màu vàng, chứa nhiều tinh thể trong suốt (kí hiệu M3,2). Các mẫu tinh thể trong suốt gửi giám định không tìm thấy thành phần phần chất ma túy, có tổng khối lượng 77,3079 gam (trong đó: mẫu kí hiệu M3.1 có khối lượng 24,1977 gam, mẫu kí hiệu M3.2 có khối lượng 53,1102 gam).
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, Nguyễn Thanh T trình bày căn nhà của ông Nguyễn Văn T1 là do T quản lý, sinh sống và nuôi gà tại đây. T không thừa nhận số ma túy lực lượng Công an thu giữ là của T, không trình bày mục đích tàng trữ trái phép chất ma túy làm gì nhưng căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ nhận thấy có đủ cơ sở quy kết khối lượng ma túy này là của Nguyễn Thanh T. Ngày 20/11/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Nguyễn Thanh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 3 Điều 249 Bộ luật Hình sự và áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam.
Quá trình điều tra, Nguyễn Thanh T không thừa nhận hành vi phạm tội, tuy nhiên trong giai đoạn truy tố, bị cáo xin khai nhận hành vi phạm tội 02 lần mua ma túy về sử dụng với nội dung như sau:
- - Lần 1: Vào khoảng 17 giờ ngày 15/7/2023 (trước khi bị kiểm tra hành chính khoảng 03 ngày), do cần ma túy để sử dụng nên Nguyễn Thanh T điều khiển xe mô tô đi đến khu vực cua tử thần thuộc Phường C, thành phố T, tỉnh Long An gặp một người thanh niên (không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể) mua 2.500.000 đồng ma túy, mục đích đem về sử dụng. Sau khi nhận được ma túy, T cất giữ và đem về nhà sử dụng. T cất giấu 02 gói ma túy vào tủ quần áo, còn lại bao nhiêu thì T cất vào tủ lạnh, đã có lấy ra sử dụng từ 01 đến 02 gói (không nhớ rõ). Khi sử dụng chỉ sử dụng một mình đến ngày 18/7/2023 thì bị lực lượng Công an xã P kiểm tra hành chính phát hiện.
- - Lần 2: Vào ngày 01/12/2023 (trước khi bị bắt giam khoảng 04 ngày), T đến khu vực cua tử thần thuộc Phường C, thành phố T, tỉnh Long An gặp một người thanh niên (không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể) mua 3.000.000 đồng ma túy, mục đích đem về sử dụng. T đem ma túy về nhà lấy 01 gói ra sử dụng còn 05 gói T cất vào đèn pin để ở bàn trước cửa phòng đến ngày 05/12/2023 thì bị lực lượng Công an phát hiện.
Theo bản kết luận giám định số 214/KL-KTHS ngày 07/12/2023 của Phòng K3 Công an tỉnh T xác định: 05 gói nylon trong suốt được hàn kín, có viền màu đỏ một đầu (loại túi zip), gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 42,7666 gam loại Methamphetamine.
Tại Cáo trạng số 48/CT-VKSCG ngày 15/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang truy tố Nguyễn Thanh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát huyện C giữ nguyên quyết định truy tố về tội danh và điều luật áp dụng như nội dung Cáo trạng; qua phân tích, đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g, h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T từ 14 năm đến 15 năm tù.
Và đề nghị xử lý vật chứng như sau:
Đề nghị tịch thu tiêu hủy: 03 bì thư kí hiệu lần lượt vụ số: 135/1, 135/2 và 135/3 ghi ngày 21 tháng 7 năm 2023 chứa ma túy còn lại sau giám định, 01 bì thư được niêm phong ký hiệu vụ số 214 ghi ngày 07/12/2023 chứa ma túy và các vỏ gói nylon còn lại sau giám định, 01 hộp nhựa có nắp màu xanh, 01 cân tiểu ly, 02 túi nylon màu vàng và xanh bên trong chứa nhiều gói nylon túi nhựa, 50 ống thủy tinh màu trắng, hình trụ tròn, 01 túi vải chứa nhiều gói nylon bên trong không chứa gì.
Trả lại bị cáo: 01 điện thoại di động cảm ứng hiệu Samsung màu đen, 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng hiệu Samsung màu đỏ và 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng hiệu Oppo.
Trả lại ông Nguyễn Văn T1 số tiền 30.000.000 đồng trong bì thư số 1;
Trả lại cho bị cáo số tiền 2.650.000 đồng trong bì thư số 1; số tiền 19.550.000 đồng trong bì thư số 2; số tiền 612.500 đồng, 01 tờ tiền đôla M mệnh giá 2 USD; 01 tờ tiền đô la Singapore trong bì thư số 3.
Tịch thu tiêu hủy: 03 bì thư ký hiệu lần lượt vụ số 135/1, 135/2 và 135/3 ghi ngày 21/7/2023 chứa ma túy còn lại sau giám định; 01 bì thư được niêm phong ký hiệu vụ số 214 ghi ngày 07/12/2023 chứa ma túy và các vỏ gói nylon còn lại sau giám định; 01 hộp nhựa có nắp màu xanh, 01 cân tiểu ly (không hoạt động), 02 túi nylon màu vàng và xanh bên trong chứa nhiều gói nylon, 04 kéo kim loại, 21 ống hút nhựa, 01 gói nylon không chứa gì, 01 máy ép mũ, 01 gắp kim loại, 03 hộp quẹt gas, 01 camera hiệu Yoosee, 01 bộ chuyển đổi ADAPTERA5 màu đen, 01 đèn pin (không hoạt động), 01 túi nhựa, 50 ống thủy tinh màu trắng, hình trụ tròn, 01 túi vải chứa nhiều gói nylon bên trong không chứa gì, 01 túi xách có dây đeo, 01 hộp nhựa không màu.
Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến tranh luận, bị cáo thống nhất với cáo trạng và bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, về hình phạt, xử lý vật chứng. Bị cáo có lời nói sau cùng: bị cáo biết mình có hành vi vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, tạo điều kiện cho bị cáo sớm trở về phụ giúp gia đình, trở thành người có ích cho xã hội để làm lại cuộc đời.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, lời trình bày của bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, ý kiến của Kiểm sát viên;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo xuất trình các tài liệu, chứng cứ phù hợp với quy định của pháp luật. Các Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can, Quyết định tạm giữ, Lệnh tạm giam đều căn cứ vào những quy định của Bộ luật Hình sự và Bộ luật Tố tụng hình sự và được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn. Các biên bản thu giữ, niêm phong tang vật, mở niêm phong lấy mẫu giám định, Quyết định trưng cầu giám định, Kết luận giám định đều được các Cơ quan tiến hành tố tụng tuân thủ nghiêm ngặt theo đúng trình tự quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Việc tống đạt các văn bản tố tụng cho bị can, bị cáo được đảm bảo, đúng thời gian, đúng pháp luật. Hội đồng xét xử tiến hành phiên tòa đúng trình tự theo quy định Bộ luật Tố tụng hình sự, đảm bảo việc xét xử trang nghiêm, đảm bảo quyền cho những người tham gia tố tụng tại phiên tòa. Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định của pháp luật.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo và ông T1, người làm chứng Võ Hoàng P có mặt; người làm chứng Ngô Phương B, Hồ Thanh D có đơn xin vắng mặt; người làm chứng còn lại vắng mặt không lý do mặc dù đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để tham gia phiên tòa. Nhận thấy, việc vắng mặt người làm chứng nêu trên không ảnh hưởng đến việc xét xử đối với bị cáo, bị cáo đồng ý tiếp tục xét xử nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự tiếp tục phiên tòa xét xử đối với bị cáo.
[3] Về hành vi phạm tội:
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận: Vào ngày 18/7/2023 và ngày 05/12/2023, tại nhà của ông Nguyễn Văn T1, lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và ma túy Công an huyện C phối hợp lực lượng Công an xã P, huyện C tiến hành kiểm tra, phát hiện Nguyễn Thanh T có 02 lần cất giấu nhiều gói nylon chứa tinh thể màu trắng là ma tuý, có tổng khối lượng 97,9148 gam loại Methamphetamine. Mục đích T cất giấu ma túy là để sử dụng. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với kết quả khám nghiệm hiện trường, vật chứng thu giữ được cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
[3] Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Điều luật quy định:
“3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 15 năm:
b) Heroine, C1, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 30 gam đến dưới 100 gam;”
Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Hành vi của bị cáo rất nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy, gây mất trật tự xã hội. Bị cáo đã thành niên, nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy, sử dụng trái phép chất ma túy là có hại cho sức khỏe của bản thân và vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Bị cáo tìm mua ma túy 02 lần và cất giấu nhiều gói nylon chứa chất ma tuý, có tổng khối lượng 97,9148 gam loại Methamphetamine, mục đích để bị cáo sử dụng trong khi bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự nên bị cáo phải chịu trách nhiệm về hành vi phạm tội của bị cáo và xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục các bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và giáo dục chung cho mọi người.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng, nhân thân, đồng phạm:
- + Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- + Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng “phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Bị cáo có 01 tiền án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” đã bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” chưa được xóa án tích mà còn tiếp tục phạm tội do cố ý nên lần phạm tội này thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm.” Do đó, bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng theo quy định tại điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- + Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, có 02 tiền án như nêu trên và từng bị xử phạt vi phạm hành chính, cụ thể;
- - Ngày 29/12/2020, Nguyễn Thanh T có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy bị Công an xã M xử phạt 750.000 đồng tại Quyết định số 19/QĐ-XPHC, đóng phạt ngày 07/01/2021.
- - Ngày 14/4/2021, có hành vi tàng trữ, cất giấu trong người đồ vật, phương tiện giao thông các loại dao, búa, các loại công cụ, phương tiện khác thường dùng trong lao động, sinh hoạt hàng ngày nhằm mục đích gây rối trật tự công cộng, cố ý gây thương tích cho người khác và sử dụng trái phép chất ma túy bị Công an xã P ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 750.000 đồng và bị Ủy ban nhân dân xã P ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 2.500.000 đồng tại Quyết định số 55/QĐ-UBND, đóng phạt ngày 05/8/2021.
- - Ngày 25/12/2023, có hành vi tàng trữ, cất giấu các loại vũ khí thô sơ, công cụ hỗ trợ hoặc các loại công cụ, phương tiện khác có khả năng sát thương xử phạt 4.000.000 đồng.
- + Đồng phạm: Trong vụ án này không đồng phạm.
[6] Các vấn đề khác:
Ngày 05/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra tiến hành bắt Nguyễn Thanh T để tạm giam. Qua kiểm tra túi xách T đeo trên người phát hiện T cất giữ 01 viên đạn bằng kim loại kích thước 25 mm (ký hiệu A3). Lực lượng Công an tiến hành khám xét khẩn cấp nhà ở của Nguyễn Thanh T thuộc ấp P, xã P, huyện C. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu giữ: 01 khẩu súng ngắn dạng súng ổ quay (ký hiệu A1); 06 viên đạn bằng kim loại (ký hiệu A2); 01 viên đạn (ký hiệu A4); 11 vỏ đạn bằng kim loại (ký hiệu A5, A6, A7, A8, A9, A10); 06 viên pháo các loại và 05 gói nylon bên trong chứa nhiều tinh thể màu trắng.
Theo bản kết luận giám định số 1873/KL-KTHS ngày 15/12/2023 của Phòng K3 Công an tỉnh T xác định:
- + Khẩu súng gửi giám định ký hiệu A1 nguyên là súng đồ chơi nguy hiểm hiệu "SMITH & WESSON", hiện tại khẩu súng đã được cải tạo lại buồng chứa đạn và bộ phận kim hỏa để bắn được với loại đạn thể thao cỡ (5.6x15.5) mm, hiện tại súng còn đầy đủ các bộ phận, lắp ráp đúng vị trí và bắn được đạn nổ. Khẩu súng gửi giám định ký hiệu A1 là vũ khí có tính năng, tác dụng tương tự vũ khí quân dụng và là vũ khí quân dụng.
- + Đạn gửi giám định ký hiệu A2, A3 là đạn thể thao cỡ (5.6x15.5) mm và không phải vũ khí quân dụng. Loại đạn này thường sử dụng để bắn cho một số loại súng cỡ nòng 5,6mm như: Súng ám sát hình bút, TOZ8... các loại súng chế tạo thủ công có đường kính buồng đạn 6mm và khẩu súng gửi giám định.
- + Đạn gửi giám định ký hiệu A4 là đạn quân dụng cỡ (5,56x45) mm và thuộc vũ khí quân dụng. Loại đạn này thường sử dụng để bắn cho một số loại súng: AR15...
- + Vỏ đạn gửi giám định ký hiệu A5 là vỏ đạn của đạn quân dụng cỡ (7.62x39) mm, loại đạn này thường để bắn cho một số loại súng: AK47, AKM, CKC, RPK, RPD...
- + Vỏ đạn gửi giám định ký hiệu A6 là vỏ đạn của đạn gây tiếng nổ cỡ (7.62x39) mm, loại đạn này thường sử dụng để bắn cho một số loại súng: AK47, AKM, CKC, RPK, RPD...
- + Vỏ đạn gửi giám định ký hiệu A7 là vỏ đạn của đạn quân dụng cỡ (7.62x25) mm, loại đạn này thường sử dụng để bắn cho một số loại súng: K54...
- + Mẫu vật gửi giám định ký hiệu A8 là vỏ đạn của một số loại súng đồ chơi nguy hiểm dạng ổ quay.
- + Vỏ đạn gửi giám định ký hiệu A9, A10 là vỏ đạn của đạn thể thao cỡ (5.6x15.5) mm, loại đạn này thường sử đụng để bắn cho một số loại súng cỡ nòng 5,6 mm như: Súng ám sát hình bút, TOZ8... các loại súng chế tạo thủ công có đường kính buồng đạn 6 mm và khẩu súng gửi giám định.
- + 11 vỏ đạn gửi giám định ký hiệu từ A5 đến A10 không phải do khẩu súng gửi giám định ký hiệu A1 bắn ra.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, Nguyễn Thanh T khai nhận khẩu súng và 06 viên đạn lực lượng Công an thu giữ tại phòng ngủ của T là do T nhận giữ dùm của một người bạn tên N (không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể) vào ngày 04/12/2023 và nếu có ai mua thì bán. Nhận thấy vụ việc có dấu hiệu tội phạm “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” theo quy định tại Điều 304 Bộ luật Hình sự. Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 17 Luật Tổ chức Cơ quan điều tra hình sự, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã chuyển vụ việc và các vật chứng liên quan đến phần vũ khí quân dụng đến Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh T thụ lý giải quyết theo thẩm quyền.
Theo bản kết luận giám định số 1878/KL-KTHS ngày 14/12/2023 của Phòng K3 Công an tỉnh T xác định: 06 vật hình cầu gửi giám định là pháo nổ, khi đốt phát ra tiếng nổ lớn, có tổng khối lượng là 57,8208 gam.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, Nguyễn Thanh T khai nhận 06 viên pháo do T mua của một người không rõ họ tên, địa chỉ trên địa bàn tỉnh Long An, sau đó T đem về nhà cất giữ mục đích để dành đến Tết sẽ đốt. Nhận thấy, Nguyễn Thanh T có hành vi tàng trữ trái phép 06 vật hình cầu là pháo nổ có tổng khối lượng 57,8208 gam, T chưa có tiền án, tiền sự về hành vi này. Căn cứ quy định tại Điều 191, Điều 305 Bộ luật Hình sự, hành vi tàng trữ pháo nổ của Nguyễn Thanh T chưa đủ cơ sở xử lý hình sự. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C chuyển hồ sơ xử phạt hành chính hành vi tàng trữ pháo nổ của Nguyễn Thanh T theo thẩm quyền.
Ngoài ra tại thời điểm kiểm tra trong nhà của ông T1 còn có 04 đối tượng khác gồm: Nguyễn Hữu K1, sinh ngày 10/9/2000, ngụ ấp P, xã P, huyện C; Huỳnh Minh K; Võ Hoàng P; Hồ Thanh D có địa chỉ như trên. Qua làm việc, K khai nhận đi đến gặp T để hỏi mua ma túy. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành giám định nội dung tin nhắn, cuộc gọi điện thoại của T và các đối tượng nhưng không có tài liệu thể hiện trực tiếp việc T mua bán trái phép chất ma túy. Bên cạnh đó, qua làm việc, chị Dương Thị Mỹ D1, sinh năm 2002, ngụ ấp X, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang (là bạn gái của T) trình bày: trong thời gian sống như vợ chồng với T, D1 biết T có bán ma túy cho một số đối tượng, Cơ quan điều tra tiến hành đối chất nhưng T không thừa nhận. Quá trình điều tra T và tại phiên tòa, T không thừa nhận việc mua bán trái phép chất ma túy cho các đối tượng. Do đó không đủ cơ sở quy kết khối lượng ma túy Nguyễn Thanh T mua về nhằm mục đích mua bán cho các đối tượng.
Đối với hành vi tàng trữ dao tự chế, dao xếp, bình xịt hơi cay vào ngày 18/7/2023 của Nguyễn Thanh T, Công an huyện C đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi tàng trữ, cất giấu các loại vũ khí thô sơ, công cụ hỗ trợ hoặc các loại công cụ, phương tiện khác có khả năng sát thương số tiền 4.000.000 đồng.
Đối với người thanh niên bán ma túy cho T, do T khai không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể nên không thể điều tra làm rõ, sau này điều tra có căn cứ sẽ xử lý sau.
[7] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng...” do đó bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, bị cáo không có nghề nghiệp ổn định và đang bị tạm giam. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[8] Về xử lý vật chứng:
Đối với 03 bì thư ký hiệu lần lượt vụ số 135/1, 135/2 và 135/3 ghi ngày 21/7/2023 chứa ma túy còn lại sau giám định; 01 bì thư được niêm phong ký hiệu vụ số 214 ghi ngày 07/12/2023 chứa ma túy và các vỏ gói nylon còn lại sau giám định; 01 hộp nhựa có nắp màu xanh, 01 cân tiểu ly (không hoạt động), 02 túi nylon màu vàng và xanh bên trong chứa nhiều gói nylon, 04 kéo kim loại, 21 ống hút nhựa, 01 gói nylon không chứa gì, 01 máy ép mũ, 01 gắp kim loại, 03 hộp quẹt gas, 01 camera hiệu Yoosee, 01 bộ chuyển đổi ADAPTERA5 màu đen, 01 đèn pin (không hoạt động), 01 túi nhựa, 50 ống thủy tinh màu trắng, hình trụ tròn, 01 túi vải chứa nhiều gói nylon bên trong không chứa gì, 01 túi xách có dây đeo, 01 hộp nhựa không màu là chất ma túy còn lại sau khi giám định và các vật dụng bị cáo sử dụng để cất giấu ma túy, sử dụng ma túy nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 điện thoại di động cảm ứng hiệu S màu đen, 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng hiệu Samsung màu đỏ và 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng hiệu Oppo là điện thoại của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội nên Hội đồng xét xử đồng ý trả lại cho bị cáo.
Đối với số tiền 32.650.000 đồng niêm phong trong bì thư số 1 trong đó có số tiền 30.000.000 đồng, bị cáo và ông T1 trình bày thống nhất là tiền của ông T1 gửi cho bị cáo cất giữ dùm nên Hội đồng xét xử quyết định trả lại ông T1, còn lại số tiền 2.650.000 đồng là tiền của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nên Hội đồng xét xử quyết định trả lại cho bị cáo.
Đối với số tiền 19.550.000 đồng niêm phong trong bì thư số 2; số tiền 612.500 đồng, 01 tờ tiền đôla M mệnh giá 2 USD; 01 tờ tiền đô la Singapore niêm phong trong bì thư số 3 là tiền của cá nhân bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nên Hội đồng xét xử quyết định trả lại cho bị cáo.
[9] Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận thấy:
- + Đại diện Viện kiểm sát phát biểu về các chứng cứ buộc tội, tình tiết giảm nhẹ của bị cáo, về mức hình phạt, Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là tương xứng với nhân thân, hậu quả của bị cáo đã gây ra nên Hội đồng xét xử có xem xét khi nghị án.
- + Về xử lý vật chứng, Viện kiểm sát đề nghị là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[10] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo có tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
[11] Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo và người có quyền, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án đến Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang để yêu cầu xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Về hình phạt:
- - Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự;
- * Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T 14 (Mười bốn) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 05/12/2023;
- Về vật chứng:
- Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự;
- Căn cứ khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự;
- - Tịch thu tiêu hủy: 03 bì thư ký hiệu lần lượt vụ số 135/1, 135/2 và 135/3 ghi ngày 21/7/2023 chứa ma túy còn lại sau giám định; 01 bì thư được niêm phong ký hiệu vụ số 214 ghi ngày 07/12/2023 chứa ma túy và các vỏ gói nylon còn lại sau giám định; 01 hộp nhựa có nắp màu xanh, 01 cân tiểu ly (không hoạt động), 02 túi nylon màu vàng và xanh bên trong chứa nhiều gói nylon, 04 kéo kim loại, 21 ống hút nhựa, 01 gói nylon không chứa gì, 01 máy ép mũ, 01 gắp kim loại, 03 hộp quẹt gas, 01 camera hiệu Yoosee, 01 bộ chuyển đổi ADAPTERA5 màu đen, 01 đèn pin (không hoạt động), 01 túi nhựa, 50 ống thủy tinh màu trắng, hình trụ tròn, 01 túi vải chứa nhiều gói nylon bên trong không chứa gì, 01 túi xách có dây đeo, 01 hộp nhựa không màu.
- - Trả lại cho ông Nguyễn Văn T1 số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) thu giữ niêm phong trong bì thư số 1;
- - Trả lại bị cáo Nguyễn Thanh T các tài sản gồm:
- + Số tiền 22.812.500 đồng (gồm số tiền 2.650.000 đồng niêm phong trong bì thư số 1, số tiền 19.550.000 đồng niêm phong trong bì thư số 2; số tiền 612.500 đồng niêm phong trong bì thư số 3), 01 tờ tiền đôla Mỹ mệnh giá 2 USD; 01 tờ tiền đô la Singapore trong bì thư số 3 (Cả 3 bì thư đều được niêm phong có đóng dấu mộc tròn của Phòng K3 và chữ ký của Nguyễn Ngọc Q, Giám định viên và Võ Tuấn K2, Điều tra viên Công an huyện C);
- + 01 điện thoại di động cảm ứng hiệu Samsung màu đen, 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng hiệu Samsung màu đỏ và 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng hiệu Oppo.
- Về án phí hình sự sơ thẩm:
- Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự;
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định án phí, lệ phí Tòa án.
- Bị cáo Nguyễn Thanh T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, người có quyền, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án đến Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang để yêu cầu xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
|
* Nơi nhân:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Phạm Văn T2 |
Bản án số 61/2024/HS-ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ GẠO, TỈNH TIỀN GIANG về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 61/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ GẠO, TỈNH TIỀN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án hình sự sơ thẩm Nguyễn Thanh T
