TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ TỈNH HẬU GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 61/2024/DS-ST
Ngày: 20 - 9 - 2024
V/v: “Tranh chấp hụi”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ
TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa: Ông Trần Văn Lẫm
Các hội thẩm nhân dân:
Ông Phạm Ngọc Anh
Bà Trần Thị Út
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Huỳnh Mỹ Phương, Thư ký Tòa án nhân dân
huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.
Trong ngày 20 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 80/2024/TLST-DS, ngày 18 tháng 7 năm 2024 về việc “Tranh chấp hụi”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 148/2024/QĐXXST - DS, ngày 11 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị Hồng X, sinh năm: 1966.
Địa chỉ: Ấp A, thị trấn V, huyện L, tỉnh Hậu Giang. Có mặt.
2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị M, sinh năm: 1967
Địa chỉ: Ấp A, thị trấn V, huyện L, tỉnh Hậu Giang. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 09/5/2024 quá trình thu thập chứng cứ và tại phiên tòa nguyên đơn bà Trần Thị Hồng X trình bày:
Vào năm 2020, 2021, 2022 bà có tham gia tổng cộng 13 chân hụi 1.000.000 đồng/tháng do bà Nguyễn Thị M làm chủ, tất cả các chân hụi bà đóng hụi sống đầy đủ cho bà M nhưng chưa được hốt, sau đó bà M ngưng khui hụi. Sau khi bà M ngưng khui hụi thì ngày 10/5/2023 âm lịch bà và bà M tính lại số tiền hụi bà được hưởng là 232.000.000 đồng và bà M có làm biên nhận nợ bà số tiền 232.000.000 đồng. Sau khi bà M làm biên nhận thì bà M có trả cho bà số tiền 6.000.000 đồng còn nợ lại 226.000.000 đồng. Bà đã nhiều lần yêu cầu bà M trả số tiền 226.000.000 đồng nhưng bà M vẫn chưa trả. Nay bà khởi kiện yêu cầu bà M trả cho bà số tiền hụi là 226.000.000 đồng.
Tại văn bản ngày 08/8/2024 bị đơn bà Nguyễn Thị M trình bày: Năm 2020, 2021, 2022 bà Trần Thị Hồng X có tham gia 13 chân hụi 1.000.000 đồng/tháng do bà làm chủ, trong danh sách chơi hụi ghi tên 6 Xuyến, 13 chân hụi này bà X có đóng hụi sống nhưng chưa hốt, đến tháng 5/2023 do bà bị bệnh nên không có kêu hụi nữa và ngưng khui hụi. Sau khi ngưng hụi thì bà X có cộng lại số tiền chơi hụi và có kêu bà ký tên vào biên nhận ngày 10/5/2023, do tin tưởng nên bà có ký tên vào biên nhận ngày 10/5/2023 âm lịch bà còn nợ bà X số tiền 232.000.000 đồng, nhưng thực tế bà và bà X chưa tính lại số tiền hụi bà nợ bà X. Bà thừa nhận bà X đã đóng hụi sống được 153.400.000 đồng, sau đó bà đã trả cho bà X được 6.000.000 đồng, còn nợ 147.400.000 đồng, bà đồng ý trả cho bà X số tiền 147.400.000 đồng, đây là số tiền thực tế bà X đã đóng hụi sống cho bà. Do bị bệnh nên bà xin bà X cho mỗi tháng trả 500.000 đồng, nếu có nhiều hơn sẽ trả nhiều hơn cho đến khi hết số nợ 147.400.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Đây là vụ án “Tranh chấp hụi” theo Điều 26, Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
[2] Nội dung vụ án: Vào năm 2020, 2021, 2022 bà Trần Thị Hồng X có tham gia 13 chân hụi do bà Nguyễn Thị M làm chủ, bà X có đóng hụi sống cho bà M nhưng chưa được hốt. Ngày 10/5/2023 giữa bà X và bà M tính lại thì bà M còn nợ bà X số tiền 232.000.000 đồng, sau đó bà M đã trả được 6.000.000 đồng còn nợ lại 226.000.000 đồng, nay bà X yêu cầu bà M trả số tiền 226.000.000 đồng. Còn bà Nguyễn Thị M thừa nhận bà X có tham gia 13 chân hụi là đúng, do bà bị bệnh nên ngung khui hụi, bà có ký tên vào biên nhận nợ bà X số tiền 232.000.000 đồng nhưng thực tế bà X chỉ đóng hụi sống được số tiền 153.400.000 đồng, bà đã trả cho bà X được 6.000.000 đồng còn nợ lại 147.400.000 đồng. Bà đồng ý trả cho bà X số tiền 147.400.000 đồng, mỗi tháng xin trả 500.000 đồng nếu có nhiều thì sẽ trả nhiều hơn.
[3] Qua thẩm vấn công khai tại phiên tòa cùng các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận thấy: Từ năm 2020, 2021, 2022 bà Trần Thị Hồng X có tham gia tổng cộng 13 chân hụi 1.000.000 đồng/tháng do bà Nguyễn Thị M làm chủ, do thời gian tham gia hụi đã lâu nên bà X không nhớ rõ từng chân hụi mở ngày tháng năm nào có bao nhiêu người tham gia, thời gian kêu hụi, đóng hụi ngày tháng năm nào. Trong tổng số 13 chân hụi bà M làm chủ thì bà X có đóng hụi sống nhưng không nhớ cụ thể số tiền đóng, ngày đóng là ngày nào. Khi bà M ngưng khui hụi thì ngày 10/5/2023 âm lịch giữa bà X và bà M tính lại số tiền bà X được hưởng cho các lần đóng hụi sống là 232.000.000 đồng và bà M có ký tên vào biên nhận. Sau đó bà M có trả được 6.000.000 đồng còn nợ lại 226.000.000 đồng.
[4] Đối với bị đơn bà Nguyễn Thị M thừa nhận bà X có tham gia 13 chân hụi 1.000.000 đồng/tháng như bà X trình bày là đúng. Tổng 13 chân hụi bà X đóng hụi sống được 153.400.000 đồng nên bà đồng ý trả cho bà X số tiền 153.400.000 đồng. Hội đồng xét xử nhận thấy bà M thừa nhận các chân hụi 1.000.000 đồng/tháng do bà làm chủ là hụi có lãi do các thành viên của dây hụi thoả thuận theo khoản 1 Điều 21 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của chính phủ quy định về họ, hụi, biêu, phường. Điểm d khoản 2 Điều 15 Nghị định 19/2019/NĐ-CP quy định thành viên trong hụi có lãi được hưởng lãi từ thành viên lãnh hụi. Bà X đã đóng hụi sống các thành viên khác đã hốt nên bà X được hưởng lãi theo thoả thuận giữa các thành viên trong dây hụi. Do đó bà M cho rằng chỉ đồng ý trả lại số tiền hụi thực tế bà X đã đóng số tiền 153.400.000 đồng là không có căn cứ.
[5] Mặt khác theo bà X trình bày khi bà M ngưng khui hụi thì ngày 10/5/2023 âm lịch giữa bà X và M tính lại thì số tiền hụi sống bà X đã đóng và được hưởng là 232.000.000 đồng, bà M có ký tên vào biên nhận. Quá trình thu thập chứng cứ và tại phiên toà bà M thừa nhận có ký tên vào biên nhận ngày 10/5/2023 âm lịch nhưng bà M cho rằng bà tin tưởng bà X nên mới ký tên vào biên nhận ngày 10/5/2023 âm lịch thực tế giữa bà và bà X chưa tính lại số tiền hụi bà nợ bà X. Biên nhận ngày 10/5/2023 âm lịch thể hiện nội dung “ Tôi Nguyễn Thị M có thiếu số tiền hụi Hồng Xiếu 232.000.000 đồng ”, bà M là người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, biết đọc, biết viết nên bà cho rằng do tin tưởng bà X nên mới ký tên vào biên nhận là không có cơ sở. Bên cạnh đó bà M cũng thừa nhận sau khi ký tên vào biên nhận nợ ngày 10/5/2023 âm lịch thì bà có trả bà X số tiền 6.000.000 đồng chứng tỏ bà M thừa nhận nợ bà X số tiền 232.000.000 đồng nên mới trả cho bà X số tiền 6.000.000 đồng.
[6] Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử buộc bà Nguyễn Thị M có nghĩa vụ trả cho bà Trần Thị Hồng X số tiền hụi còn nợ theo biên nhận ngày 10/5/2023 âm lịch là 232.000.000 đồng, bà M đã trả cho bà X được 6.000.000 đồng nên bà M còn phải trả cho bà X số tiền 226.000.000 đồng.
[7] Về án phí dân sự: Bà Nguyễn Thị M phải chịu theo quy định.
[8] Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 3 Điều 26, Điều 35, 147, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Căn cứ: Điều 471, 357 Bộ luật dân sự năm 2015.
Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ quy định về họ, hụi, biêu, phường.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Trần Thị Hồng X về việc yêu cầu bà Nguyễn Thị M trả số tiền hụi còn nợ là 226.000.000 đồng.
Buộc bị đơn bà Nguyễn Thị M có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn bà Trần Thị Hồng X số tiền 226.000.000 đồng (hai trăm hai mươi sáu triệu đồng).
Kể từ ngày bà Trần Thị Hồng X có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án. Lãi suất chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468, nếu không thỏa thuận được thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn bà Nguyễn Thị M phải chịu 11.300.000 đồng (mười một triệu ba trăm nghìn đồng).
Nguyên đơn bà Trần Thị Hồng X được nhận lại 5.650.000 đồng (năm triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0010151 ngày 18/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Mỹ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nguyên đơn bà Trần Thị Hồng X, bị đơn bà Nguyễn Thị M có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 20/9/2024.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Lẫm |
Bản án số 61/2024/DS-ST ngày 20/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp hụi
- Số bản án: 61/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hụi
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ TỈNH HẬU GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bà x yêu cầu bà m trả tiền
