Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐOAN HÙNG

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 61/2024/HNGĐ-ST

Ngày 20 tháng 9 năm 2024

V/v: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG, TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Bùi Thị Duyên

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngọc Quang

Bà Phan Phương Huệ

- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Tuyết Mai – Thư ký Toà án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Tiến Thành – Kiểm sát viên

Ngày 20 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 99/2024/TLST- HNGĐ ngày 17 tháng 7 năm 2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 32/2024/QÐST-HNGĐ, ngày 09 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Phùng Thị Huyền T, sinh năm 1999; Vắng mặt

Địa chỉ: Khu N, xã H, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ.

Bị đơn: Anh Lê Văn N, sinh năm 1997; Vắng mặt

Địa chỉ: Khu N, xã H, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và nội dung tự khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Phùng Thị Huyền T trình bày:

Chị và anh Lê Văn N tự nguyện kết hôn với nhau vào ngày 15 tháng 9 năm 2017, có đăng ký kết hôn tại UBND xã N cũ nay là UBND xã H, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. Sau khi kết hôn vợ chồng chị cùng đi làm tại thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Trong thời gian chung sống, vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc được 03 năm, sau đó thì xảy ra nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân vợ chồng mâu thuẫn là do anh N có tính gia trưởng, hay đánh đập chị. Khi vợ chồng chị xảy ra mâu thuẫn cũng đã được gia đình hòa giải, khuyên bảo nhưng không giải quyết được. Đến nay, chị xác định tình cảm vợ chồng không còn và không thể hàn gắn lại được, hôn nhân không có hạnh phúc nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh N.

Về con chung: Chị và anh N có 01 con chung là cháu Lê Hoàng N1, sinh ngày 23/6/2018. Hiện nay con chung của anh chị đang sống cùng bố mẹ anh N tại xã H, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. Sau khi ly hôn chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con và yêu cầu anh N phải cấp dưỡng nuôi con là 2.000.000đ/tháng, kể từ khi ly hôn cho đến khi cháu N1 đủ 18 tuổi.

Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là anh Lê Văn N đã được Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng anh N vắng mặt.Tòa án đã tiến hành xác minh tại UBND xã H và làm việc với bà Cao Thị Thu H là mẹ đẻ của anh N. Kết quả xác minh và làm việc phù hợp với lời khai của chị T về quan hệ hôn nhân, quá trình chung sống, mâu thuẫn vợ chồng và con chung. Bà Cao Thị Thu H cho biết gia đình đã nhận thay anh N các văn bản tố tụng do Tòa án tống đạt. Sau khi nhận được các văn bản, gia đình đã liên lạc, thông báo ngay cho anh N được biết nội dung. Anh N có thể hiện ý kiến là do công việc làm ăn xa nên anh N không về Tòa án làm việc được.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Đoan Hùng phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn là chị T đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn là anh N không không thực hiện quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1,3 Điều 228, khoản 1 Điều 238 và khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 107, Điều 110, Điều 116, Điều 117 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Phùng Thị Huyền T được ly hôn anh Lê Văn N.

Về con chung: Giao cho chị Phùng Thị Huyền T được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Lê Hoàng N1, sinh ngày 23/6/2018. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Lê Văn N phải cấp dưỡng nuôi con là 2.000.000 đồng/ tháng. Phương thức cấp dưỡng theo tháng.

Về tài sản chung, công nợ chung, công sức đóng góp không xem xét giải quyết trong vụ án này.

Về án phí: Chị T phải chịu 300.000.đ tiền án phí dân sự sơ thẩm. Anh Nhất là người có nghĩa vụ cấp dưỡng phải chịu 300.000. đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn là chị Phùng Thị Huyền T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn đối với bị đơn là anh Lê Văn N, nơi cư trú tại khu N, xã H, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. Do vậy, xác định vụ án có quan hệ tranh chấp về Hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa, nguyên đơn là chị Phùng Thị Huyền T vắng mặt nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt còn bị đơn là anh Lê Văn N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt lần thứ 2 không có lý do. Do vậy, Toà án đã Quyết định đưa vụ án ra xét xử vắng mặt các bên đương sự là hoàn toàn phù hợp các quy định tại a,b khoản 2 Điều 227, khoản 1,3 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Phùng Thị Huyền T và anh Lê Văn N đã được UBND xã N cũ nay là UBND xã H đăng ký kết hôn ngày 15/9/2017 trên cơ sở tự nguyện, không vi phạm điều cấm của Pháp luật đây là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc được một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân nhâu mẫu là do vợ chồng có những quan điểm bất đồng, không tôn trọng lẫn nhau dẫn đến những va chạm và tình cảm bị rạn nứt. Lời khai của của chị T và kết quả thu thập tài liệu chứng cứ cho thấy cuộc sống hôn nhân giữa chị T và anh N đã xảy ra mâu thuẫn trầm trọng, kéo dài, vợ chồng không còn yêu thương tôn trọng lẫn nhau. Nếu cứ tiếp tục rằng buộc hôn nhân giữa hai bên cũng không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, yêu cầu của chị T đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nhất L có căn cứ phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình nên cần được chấp nhận.

[2.2] Về con chung: Chị T và anh N có 01 con chung là cháu Lê Hoàng N1, sinh ngày 23/6/2018. Sau khi ly hôn, chị T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và yêu cầu anh N phải cấp dưỡng nuôi dưỡng con chung là 2.000.000 đồng/ tháng. Kết quả xác minh thu thập chứng cứ cho thấy cháu N1 còn nhỏ cần phải được đảm bảo quyền lợi về mọi mặt để cháu được học tập, phát triển toàn diện vì vậy cần giao cháu N1 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và anh N phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu N1 với mức như chị T yêu cầu là phù hợp với thực tế, phù hợp quy định pháp luật.

[2.3] Về tài sản chung, vay nợ chung, công sức đóng góp: Chị T và anh N đều vắng mặt tại phiên tòa nên Tòa án không xem xét giải quyết trong vụ án này.

[3.] Về án dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn là chị Phùng Thị Huyền T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật. Bị đơn là anh Lê Văn Nhất L người có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung nên cũng phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1,3 Điều 228, khoản 1 Điều 238 và khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82,Điều 83, Điều 107, Điều 110, Điều 116, Điều 117 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Phùng Thị Huyền T được ly hôn anh Lê Văn N.
  2. Về con chung: Giao cho chị Phùng Thị Huyền T được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Lê Hoàng N1, sinh ngày 23/6/2018. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Lê Văn N phải cấp dưỡng nuôi con là 2.000.000 đồng/ tháng, kể từ khi ly hôn cho đến khi cháu N1 thành niên. Phương thức cấp dưỡng theo từng tháng.

    Sau khi ly hôn, anh N không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

  3. Về tài sản chung, công nợ chung, công sức đóng góp không xem xét giải quyết trong vụ án này.
  4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Phùng Thị Huyền T phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số: 0002265 ngày 17 tháng 7 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đoan Hùng. Xác nhận chị T đã nộp đủ án phí.

    Anh Lê Văn N phải chịu 300.000. đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn chị Phùng Thị Huyền T và bị đơn anh Lê Văn N vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc niêm yết hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND Huyện, Tỉnh;
  • - Chi cục THADS huyện Đoan Hùng;
  • - UBND xã Hùng Xuyên;
  • - Lưu hồ sơ, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Đã ký

Bùi Thị Duyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 61/2024/HNGĐ-ST ngày 20/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG, TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 61/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG, TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp về hôn nhân và gia đình
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger