Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC

TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 61/2024/HNGĐ-ST.

Ngày: 06/9/2024

V/v “Xin ly hôn

và nuôi con chung"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC - TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lâm Thanh Điền

Hội thẩm nhân dân:

  • 1/ Ông Ngô Rạng Đông
  • Chức vụ: Hội trưởng Hội khuyến học thành phố Phú Quốc.

  • 2/ Ông Nguyễn Phước Lộc
  • Chức vụ: Phó chủ tịch Hội người cao tuổi.

- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Lê Thị Trà My - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc: Ông Nguyễn Văn Tặng – Kiểm sát viên.

Trong ngày 06 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Phú Quốc, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 17/2024/TLST- HNGĐ, ngày 16 tháng 01 năm 2024 về việc: “Xin ly hôn và nuôi con chung”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày, 29/7/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 141/QĐST- HNGĐ, ngày 16/8/2024, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Bà Đặng Thị H, sinh năm 1988, có đơn xin vắng mặt

Địa chỉ: Tổ I, khu phố A, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.

* Bị đơn: Ông Nguyễn Trí H1, sinh năm 1984, vắng mặt

Địa chỉ: Tổ I, khu phố A, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.

* Con chung:

  1. Cháu Nguyễn Huỳnh Hải N, sinh ngày 05/12/2012, có đơn xin vắng mặt
  2. Cháu Nguyễn Huỳnh Phúc N1, sinh ngày 22/10/2016, có đơn xin vắng mặt

Cùng địa chỉ: Ấp G, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang.

Người giám hộ của cháu Hải N và Phúc N1: Bà Đặng Thị H, sinh năm 1988, có đơn xin vắng mặt.

Địa chỉ: Tổ I, khu phố A, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên hòa giải nguyên đơn bà Đặng Thị H trình bày: Nguyên vào năm 2012, bà H và ông H1 tự tìm hiểu yêu thương nhau chung sống vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại UBND xã V, huyện V và đã được UBND xã V cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 10 ngày 03/02/2012. Thời gian đầu vợ chồng chung sống vui vẻ hạnh phúc nhưng từ năm 2023 đến nay do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không có tiếng nói chung, thường xuyên cãi nhau xảy ra mâu thuẫn, bất đồng ý kiến ngày càng trầm trọng, dẫn đến cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc, lâu dần không còn tình cảm. Xét thấy tình cảm vợ chồng không hạnh phúc, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, bà H yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông H1.

Về con chung: Quá trình chung sống bà H với ông H1 có 02 người con chung tên là Nguyễn Huỳnh Hải N, sinh ngày 05/12/2012 và Nguyễn Huỳnh Phúc N1, sinh ngày 22/10/2016. Bà H đề nghị được quyền nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cả 02 cháu Hải N và Phúc N1 đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi).

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà Đặng Thị H không yêu cầu ông Nguyễn Trí H1 phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng bà.

Về tài sản chung: Bà Đặng Thị H xác nhận không có, không yêu cầu giải quyết.

Về nợ chung: Bà Đặng Thị H cam kết vợ chồng không có nợ ai và cũng không ai nợ vợ chồng, không yêu cầu giải quyết. Nếu có phát sinh tranh chấp thì sẽ tự chịu trách nhiệm trước pháp luật.

* Bị đơn ông Nguyễn Trí H1 được Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc triệu tập hợp lệ nhiều lần trong suốt quá trình giải quyết vụ án nhưng ông H1 không đến trụ sở Tòa án cũng không cung cấp bất cứ lời khai hay chứng cứ gì để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông, Tòa án đã phối hợp với chính quyền địa phương trực tiếp đến nơi cư trú để ghi lời khai, nhưng ông cố tính lánh mặt. Do đó, Tòa án không thể tiến hành ghi lời khai, công khai chứng cứ và hòa giải đối với ông H1 được.

XÉT THẤY:

Sau khi nghiên cứu các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa. Sau khi thảo luận nghị án Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng:

Bị đơn ông Nguyễn Trí H1 đã được Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc triệu tập hợp lệ đến phiên tòa xét xử lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Xét thấy việc vắng mặt liên tục không có lý do chính đáng của bị đơn ông Nguyễn Trí H1 nhằm gây khó khăn cho nguyên đơn, kéo dài việc giải quyết vụ án. Căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử thống nhất xét xử vắng mặt ông H1.

Nguyên đơn bà Đặng Thị H có đơn xin xét xử vắng mặt, căn cứ Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử thống nhất xét xử vắng mặt bà H.

[2]. Về quan hệ hôn nhân: Bà H và ông H1 kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã V, huyện V và đã được UBND xã V cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 10 ngày 03/2/2012, đây là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật HNGĐ năm 2014.

Bà H xác định tình cảm vợ chồng không thể đoàn tụ được với nhau, bà H vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn với ông H1. Tòa án đã giải thích và động viên bà về đoàn tụ gia đình cho con ăn học nên người nhưng bà kiên quyết ly hôn với ông H1.

Xét yêu cầu của bà H, Hội đồng xét xử xét thấy phù hợp, căn cứ các Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình 2014. Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà H về việc xin ly hôn với ông H1.

[3]. Về con chung: Bà H trình bày mong muốn của bản thân là muốn được chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cả 02 cháu là Nguyễn Huỳnh Hải N, sinh ngày 05/12/2012 và Nguyễn Huỳnh Phúc N1, sinh ngày 22/10/2016 đến tuổi trưởng thành (18 tuổi), bà H không yêu cầu ông H1 phải cấp dưỡng nuôi con cùng bà. Để đảm bảo cho sự phát triển về tinh thần, thể chất, trí tuệ của trẻ chưa thành niên; Căn cứ Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử thống nhất giao 02 cháu Hải N và Phúc N1 cho bà H tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến tuổi trưởng thành (18 tuổi).

Bà H được quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cản;

Vì lợi ích về mọi mặt của con, khi cần thiết có thể thay đổi việc cấp dưỡng nuôi con hoặc người trực tiếp nuôi con.

[4]. Về tài sản chung và công nợ chung: Bà H xác nhận không có, không yêu cầu giải quyết, Hội đồng xét xử miễn xét. Nếu có phát sinh tranh chấp, các bên liên quan có quyền khởi kiện bằng một vụ kiện dân sự khác.

[5]. Về án phí: Bà T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng các Điều 28, 35,147, 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Áp dụng Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Áp dụng khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Đặng Thị H được ly hôn với ông Nguyễn Trí H1;
  2. Về con chung:
  3. - Giao 02 cháu là Nguyễn Huỳnh Hải N, sinh ngày 05/12/2012 và Nguyễn Huỳnh Phúc N1, sinh ngày 22/10/2016 cho bà Đặng Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến tuổi trưởng thành (18 tuổi);

  4. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ông Nguyễn Trí H1 không phải cấp dưỡng nuôi con cùng bà Đặng Thị Huỳnh .
  5. Quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cản;

    Vì lợi ích về mọi mặt của con, khi cần thiết có thể thay đổi việc cấp dưỡng nuôi con hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng con chung.

  6. Về tài sản và công nợ chung: Bà Đặng Thị H xác nhận không có, không yêu cầu giải quyết. Nếu có phát sinh tranh chấp, các bên liên quan có quyền khởi kiện bằng một vụ kiện dân sự khác. Hội đồng xét xử miễn xét.
  7. Về án phí: Bà Đặng Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm và được khấu trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phú Quốc, theo lai thu số 0004369, ngày 05/01/2024. Nay chuyển thành án phí, bà H không phải nộp thêm.
  8. Ông H1 không phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a và Điều 9 luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.

Báo cho các đương sự (Nguyên đơn bà Đặng Thị H và bị đơn ông Nguyễn Trí H1) biết có quyền kháng cáo trong hạn luật định 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản sao bản án được niêm yết tại nơi cư trú cuối cùng để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử lại vụ án theo trình tự phúc thẩm./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Kiên Giang;
  • - VKSND thành phố Phú Quốc;
  • - THA DS thành phố Phú Quốc;
  • - UBND xã Vĩnh Thụy;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Lâm Thanh Điền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 61/2024/HNGĐ-ST ngày 06/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC TỈNH KIÊN GIANG về xin ly hôn và nuôi con chung

  • Số bản án: 61/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn và nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger