Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN KRÔNG PẮC

TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 61/2024/HNGĐ-ST

Ngày 30-8-2024

V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG PẮC, TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Tâm

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phan Xuân Ngọc - Hiệu trưởng trường THCS Lê Văn Tám, huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk.

Bà Nguyễn Thị Lan- Cán bộ hưu trí thị trấn Phước An, huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nông Thị Lường - Thư ký Tòa án Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Quỳnh Hoa – Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 8 năm 2024, tại hội trường Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 539/2023/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 12 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 53/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 16/7/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 39/2024/QĐST-HNGĐ ngày 14/8/2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phan Thị Thúy T, sinh năm 1992. (Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn Đ, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1992 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn B, xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện, quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án nguyên đơn chị Phan Thị Thúy T trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Phan Thị Thúy T và anh Nguyễn Văn T1 đến với nhau trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 24/01/2014.

Sau khi cưới vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian sau đó phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau, chồng quá vô tâm, ít quan tâm tới con cái . Vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Chị T cũng đã cố gắng để giữ một mái ấm gia đình nhưng mỗi ngày phải sống cùng anh T1 thì chị T nhận thấy quá mệt mỏi. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng thật sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị T nguyện vọng xin được ly hôn với anh Nguyễn Văn T1.

- Về con chung: Chị Phan Thị Thúy T có nguyện vọng được nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung là Nguyễn Thị Bảo C, sinh ngày 10/03/2014 cho đến khi con chung trưởng thành.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Phan Thị Thúy T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung và nợ chung: Chị Phan Thị Thúy T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn anh Nguyễn Văn T1: Trong quá trình giải quyết vụ án đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng cố tình vắng mặt không tham gia tố tụng nên Tòa án không ghi được lời khai.

Qua xác minh về tình trạng hôn nhân giữa chị Phan Thị Thúy T và anh Nguyễn Văn T1 thì Chính quyền địa phương cho biết: Chị Phan Thị Thúy T và anh Nguyễn Văn T1 là vợ chồng, có chung sống tại Buôn Đ, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Quá trình chung sống, chị T và anh T1 không có đơn yêu cầu ban tự quản thôn hòa giải, can thiệp về hôn nhân nên ban tự quản thôn không nắm được chị T và anh T1 có mâu thuẫn hay không và nguyên nhân vì sao. Nhưng chị T và anh T1 đã sống ly thân với nhau từ năm 2022, anh T1 đi đâu và làm gì không rõ. Chị T và anh T1 có 01 con chung. Hiện nay cháu đang sinh sống cùng chị T tại địa phương.

Kết quả xác minh tại Ban tự quản thôn B, xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk được biết: Anh T có đăng ký thường trú tại địa phương, sau khi kết hôn về chung sống ở bên nhà vợ. Đến năm 2022, anh T về sinh sống cùng cha mẹ đẻ tại địa phương đến nay.

* Ý kiến của Kiểm sát viên:

  • - Về tố tụng: Thẩm phán xác định đúng quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết vụ án; xác định đúng tư cách tham gia tố tụng của các đương sự; việc thu thập chứng cứ, trình tự giải quyết vụ án theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS).

Trong quá trình thụ lý, giải quyết, xét xử vụ án thì Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật. Bị đơn không chấp hành các quy định của Pháp luật.

  • - Về nội dung: Qua các các tài liệu, chứng cứ thu thập trong hồ sơ vụ án, đề nghị HĐXX Áp dụng khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khản 1 Điều 39 BLTTDS. Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật hôn nhân gia đình:

Về quan hệ hôn nhân cho chị Phan Thị Thúy T được ly hôn với anh Nguyễn Văn T1.

Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thị Bảo C, sinh ngày 10/03/2014 cho chị Phan Thị Thúy T chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi cháu C đủ 18 tuổi.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Phan Thị Thúy T không yêu cầu nên không đề cập giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị Phan Thị Thúy T không yêu cầu nên không đề cập giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định:

[1] Về tố tụng và quan hệ pháp luật cần giải quyết: Chị Phan Thị Thúy T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, tranh chấp về nuôi con với anh Nguyễn Văn T1 có nơi cư trú tại thôn B, xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Quan hệ pháp luật cần giải quyết là Ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Quá trình giải quyết Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nhưng bị đơn anh Nguyễn Văn T1 cố tình vắng mặt, tại phiên tòa lần thứ hai anh Nguyễn Văn T1 vẫn vắng mặt. Nguyên đơn chị Phan Thị Thúy T có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 228; Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về hôn nhân: Chị Phan Thị Thúy T với anh Nguyễn Văn T1 tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 24/01/2014. Hôn nhân của chị T, anh T1 là hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau, chồng không quan tâm gia đình. Mặc dù đã được gia đình động viên, hòa giải nhưng tình cảm vợ chồng không được cải thiện, vợ chồng sống ly thân từ năm 2022 cho đến nay nhưng hai bên không có biện pháp gì khắc phục mâu thuẫn vợ chồng. Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, Tòa án nhiều lần động viên chị Phan Thị Thúy T trở lại đoàn tụ với anh Nguyễn Văn T1 nhưng không thành. Chị Phan Thị Thúy T vẫn giữ nguyên yêu cầu xin được ly hôn với anh Nguyễn Văn T1. Đối với anh Nguyễn Văn T1, mặc dù Tòa án đã tống đạt hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn cố tình vắng mặt nên không ghi nhận ý kiến được. HĐXX xét thấy, tình trạng vợ chồng đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, HĐXX cần giải quyết cho chị Phan Thị Thúy T được ly hôn với anh Nguyễn Văn T1 .

[2.2] Về con chung: Chị Phan Thị Thúy T xác nhận, chị và anh Nguyễn Văn T1 có con chung là cháu Nguyễn Thị Bảo C, sinh ngày 10/04/2014. HĐXX xét thấy, quá trình giải quyết vụ án, cháu C có nguyện vọng được ở cùng chị T. Anh Nguyễn Văn T1 không hợp tác nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của anh T1. Mặt khác qua xác minh tại chính quyền địa phương xác nhận: Hiện nay cháu C đang sinh sống cùng chị T, chị T có nguyện vọng tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo cháu C cho đến khi cháu C đủ 18 tuổi. Xét nguyện vọng của cháu C và yêu cầu của chị Phan Thị Thúy T, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con, nghĩa vụ của cha mẹ đối với con chưa thành niên. Căn cứ vào Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình, HĐXX cần giao cháu Nguyễn Thị Bảo C, sinh ngày 10/04/2014 cho chị Phan Thị Thúy T tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với pháp luật.

[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Phan Thị Thúy T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.

[2.4] Về tài sản chung, nợ chung: Chị Phan Thị Thúy T không yêu cầu giải quyết nên HĐXX không xem xét.

[2.5] Về án phí: Chị Phan Thị Thúy T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm.

[3] Xét thấy quan điểm của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở nên cần chấp nhận toàn bộ quan điểm của Viện kiểm sát.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
  • - Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56; các Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình;
  • - Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phan Thị Thúy T:
    • - Về quan hệ hôn nhân: Chị Phan Thị Thúy T được ly hôn với anh Nguyễn Văn T1.
    • - Về con chung: Giao con chung là Nguyễn Thị Bảo C, sinh ngày 10/04/2014 cho chị Phan Thị Thúy T chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu C đủ 18 tuổi.
    • - Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Phan Thị Thúy T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh Nguyễn Văn T1 được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở.

Vì lợi ích của con chung, cha, mẹ hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.

  1. Về án phí: Chị Phan Thị Thúy T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai số AA/2023/0005452 ngày 28/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk.
  2. Thông báo quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đắk Lắk;
  • - VKSND huyện Krông Pắc;
  • - Chi cục THADS huyện Krông Pắc;
  • - Các đương sự;
  • - Cổng thông tin điện tử Tòa án (nếu có);
  • - UBND xã Hòa An;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(ĐÃ KÝ)

Nguyễn Thành Tâm

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 61/2024/HNGĐ-ST ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG PẮC, TỈNH ĐẮK LẮK về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 61/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG PẮC, TỈNH ĐẮK LẮK
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: LY HON VÀ TRANH CHẤP VỀ NUÔI CON
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger