|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 61/2024/DS-PT
Ngày 22/8/2024
“v/v Tranh chấp Hợp đồng mua bán tài sản”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đặng Phúc Lâm.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hồng Ánh. Ông Phạm Duy Hải.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Phan Hải, Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh: Bà Vũ Ngọc Quyên, Kiểm sát viên tham gia phiên toà.
Trong ngày 22 tháng 8 năm 2024 tại Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 54/2024/TLPT-DS, ngày 01 tháng 8 năm 2024 về “Tranh chấp Hợp đồng mua bán tài sản”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 06/2024/DS-ST, ngày 17 tháng 6 năm 2024 của Toà án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 97/2024/QĐPT-DS ngày 02 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 98/2024/QĐ-PT ngày 14 tháng 8 năm 2024 của Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: ông Đoàn Quang N; sinh năm 1960. Nơi thường trú: Tổ B, khu T, phường P, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh. Có mặt, tại phiên toà.
- Bị đơn: ông Phạm Hữu P; sinh năm 1981. Nơi thường trú: Tổ 5 khu C, phường P, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh. Có mặt, tại phiên toà.
Người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn: Công ty L1 và cộng sự. Địa chỉ: Biệt thự E, Khu A, khu đô thị N (148 N), phường Y, quận C, thành phố Hà Nội. Có ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1995, nơi thường trú: Xóm F xã H, huyện H, tỉnh Nam Định; địa chỉ liên hệ: Công ty L1 và cộng sự - Biệt thự E1, Khu A, khu đô thị N, quận C, thành phố Hà Nội. Là Chuyên viên Công ty L1 và cộng sự, có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: ông Nguyễn Hồng A, Luật sư Công ty L1 và cộng sự. Địa chỉ: Biệt thự E, Khu A, khu đô thị N (148 N), phường Y, quận C, thành phố Hà Nội. Có mặt.
3. Người kháng cáo: Bị đơn - ông Phạm Hữu P.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện, bản tự khai, phần trình bày trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà sơ thẩm, ông Đoàn Quang N trình bày:
Năm 2023, ông Phạm Hữu P là người chuyên đi vận chuyển chở gỗ và cắt gỗ thuê đứng ra nhận bán gỗ keo cho ông Đoàn Quang N. Theo đó, chuyến hàng đầu tiên bán ngày 11/02/2023; tổng cộng đã bán được 42 chuyến hàng (từ 11/02/2023 đến 13/3/2023) với tổng khối lượng gỗ là 453,355 tấn (trong đó 95,755 tấn gỗ dăm keo; 289,020 tấn gỗ; 68,58 tấn củi kết); mỗi chuyến hàng đều được cân khối lượng đầy đủ. Tổng giá trị bán được là 559.212.000đ (năm trăm năm mươi chín triệu, hai trăm mười hai nghìn đồng).
Số tiền ông N đã ứng cho ông P sau khi đối trừ các khoản đã giao cho ông T và ông P, tại phiên toà hai ông nhất trí số tiền ông Ngọc ứ trước cho ông P là 8.000.000đ. Về phần ông N nhận của ông P cụ thể: 50.000.000đ tiền ông P trả vào ngày 20/3/2024; 100.000.000đ tiền ông H đưa. Tiền công vận chuyển chở gỗ và cắt gỗ thuê của ông P là 158.550.000đ. Tổng cộng là 308.550.000đ.
Tuy nhiên, kể từ thời điểm hoàn tất bán 42 chuyến hàng gỗ trên, ông N đã nhiều lần yêu cầu ông Phong thanh t số tiền bán gỗ nhưng ông P không thực hiện. Do đó, ông N đề nghị Tòa án buộc ông P phải trả cho ông số tiền cụ thể: 559.212.000đ - 308.550.000đ = 250.662.000đ; cộng với số tiền 8.000.000đ ông P ứng của ông N. Vậy tổng số tiền ông P có nghĩa vụ trả cho ông ngọc cụ thể: 250.662.000đ +8.000.000đ = 258.662.000đ (hai trăm năm mươi tám triệu sáu trăm sáu mươi hai nghìn đồng).
Tại bản tự khai, phần trình bày trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà sơ thẩm, ông Phạm Hữu P có quan điểm:
Trong khoảng thời gian tháng 02/2023, ông có chở gỗ keo cho ông Đoàn Quang N, do thời gian đã lâu nên ông P không nhớ chi tiết từng chuyến. Nay ông N khởi kiện yêu cầu ông P phải trả cho ông N số tiền là 258.662.000đ, ông thừa nhận việc ông phải trả cho ông N số tiền đi bán gỗ keo là 560.000.000đ (năm trăm sáu mươi triệu đồng). Nhưng ông P khẳng định ông đã trả hết tiền cho ông N; cụ thể như sau:
- Lần 1: trong vườn nhà ông N, ông P đã đưa cho ông N số tiền là 50.000.000đ;
- Lần 2: cũng trong vườn nhà ông N, ông P đưa cho ông N số tiền là 130.000.000đ;
- Lần 3: thời gian khoảng 15 ngày sau lần thứ hai, ông N lên chỗ ông H lấy 100.000.000đ (ông H là người thu mua gỗ của ông P, việc ông H đưa tiền cho ông N có sự xác nhận của ông P và ông Phùng Đắc L);
- Lần 4: ông P đưa cho ông N số tiền 100.000.000đ nữa là hôm ông P và ông N lên nhà ông H, ông H đưa cho ông P số tiền 50.000.000đ trước mặt ông N, khi ra về đến đầu đường ông P đưa cho ông N số tiền là 100.000.000đ. Như vậy, tổng số tiền ông P đã đưa cho ông N là 380.000.000đ.
Bên cạnh đó, ông N phải trả cho ông P tiền công cắt gỗ keo và tiền cước xe, cụ thể là 120.000.000đ tiền công cắt gỗ keo và 62.000.000đ tiền cước xe (tổng là 182.000.000đ). Tổng số tiền ông P đã thanh toán cho ông N là 562.000.000đ (Ông P cho rằng, ông P chỉ phải trả cho ông N 560.000.000đ, trong khi đó ông P đã trả cho ông N 562.000.000đ; như vậy, ông P đã trả cho ông N số tiền vượt quá là 2.000.000đ).
Trong bốn lần như trình bày về việc trả tiển ở trên, thì ông P đưa ra chứng cứ cụ thể là việc ông H đưa cho ông N số tiền 100.000.000đ (được ông N thừa nhận tại buổi hoà giải ngày 23/4/2024).
Những lần khác ông P trả tiền cho ông N ở trong vườn nhà ông N, không có người làm chứng và cũng có giấy tờ gì khác ghi nhận việc trả nợ.
Tại phiên toà, ông P chỉ thừa nhận là đã nhận ứng của ông N số tiền 8.000.000đ; ông P cũng nhất trí tiền công cắt gỗ và vận chuyển là 350.000đ/tấn, ông P đã chở 453 tấn gỗ x 350.000đ = 158.550.000đ.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 06/2024/DS-ST ngày 17/6/2024 của Toà án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: buộc ông Phạm Hữu P phải trả cho ông Đoàn Quang N số tiền 258.662.000đ (hai trăm năm mươi tám triệu sáu trăm sáu mươi hai nghìn đồng) và nghĩa vụ trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 28/6/2024, bị đơn - ông Phạm Hữu P có đơn kháng cáo đối với toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị Toà án cấp phúc thẩm xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.
Tại phiên toà phúc thẩm, ông Phạm Hữu P giữ nguyên nội dung kháng cáo và cung cấp chứng cứ là ông Trương Văn T1 cư trú tại thôn V, xã H, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh có đơn xác nhận đã trả tiền vận chuyển gỗ cho ông P với số tiền 100.000.000đ để ông P trả cho người chở gỗ (thời gian khoảng tháng 4/2022) sau đó ông P trả cho ai ông không biết. Do đó ông có quan điểm đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo, sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Nguyên đơn đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát có quan điểm về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm: Về tố tụng: Hội đồng xét xử phúc thẩm, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử
phúc thẩm vụ việc; Các đương sự đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật. Về nội dung: căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn - ông Phạm Hữu P, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN
[1] Về tố tụng: Kháng cáo của bị đơn - ông Phạm Hữu P thực hiện trong thời hạn luật định và hợp lệ, nên được xem xét, giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
Về xác định quan hệ pháp luật: Ông N và ông P thoả thuận với nhau về việc ông N có nghĩa vụ chuyển chở gỗ, cắt gỗ thuê và bán gỗ keo cho ông Phạm Hữu P, nay ông P không trả hết số tiền ông N đã bán gỗ keo cho ông P, nên quan hệ pháp luật là “tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản”. Cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật “kiện đòi tài sản” là không chính xác, nên cấp phúc thẩm xác định quan hệ pháp luật là “tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản” để giải quyết vụ án.
[2] Về nội dung:
- Ông Phạm Hữu P nhận chở, bán gỗ keo cho ông Đoàn Quang N trong khoảng thời gian từ ngày 11/02/2023 đến 13/3/2023 và đã thực hiện xong, với tổng số tiền là 560.000.000đ đã được cả nguyên đơn và bị đơn thừa nhận là đúng. Thoả thuận giữa ông P và ông N là phù hợp pháp luật theo quy định tại Điều 430 Bộ luật dân sự 2015, nên được hội đồng xét xử chấp nhận.
- Về nghĩa vụ thanh toán:
- + Ông N thừa nhận đã nhận tiền trực tiếp từ ông P là 50.000.000đ; nhận tiền từ ông H 100.000.000đ (trả thay ông P). Tiền công cắt gỗ và cước xe vận chuyển gỗ mà ông P đã làm theo yêu cầu của ông N, mà ông N có trách nhiệm trả cho ông P là 158.550.000đ. Như vậy tổng số tiền ông N đã nhận của ông P (bao gồm cả tiền ông N phải cho ông P) là 308.550.000đ, đối với nội dung này nguyên đơn, bị đơn và những người liên quan, đều đồng ý và thừa nhận về việc giao nhận, đối trừ với nhau khoản tiền trên, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
- + Ông N có quan điểm, ông có cho ông P ứng số tiền 8.000.000đ, tại phiên toà Sơ thẩm ông P cũng thừa nhận đã ứng của ông N số tiền này, nên việc ông N yêu cầu ông P phải trả ông số tiền 8.000.000đ là có căn cứ, nên được chấp nhận.
- + Ông P cho rằng ông đã trả cho ông N số tiền mặt là 380.000.000đ và khấu trừ tiền công cắt cây, tiền cước xe là 182.000.000đ; tổng số tiền ông P đã thanh toán cho ông N là 562.000.000đ. Hội đồng xét xử thấy; 1) đối với số tiền mặt, các bên thừa nhận đã giao cho nhau 150.000.000đ; ông P cho rằng còn đưa thêm cho ông N nhưng không nhớ; 2) đối với tiền công cắt gỗ và tiền cước xe vận chuyển là 350.000đ/tấn (453 tấn gỗ x 350.000đ = 158.550.000đ). Việc các bên giao nhận tiền cho nhau không lập biên
bản, không có người làm chứng và ông P cũng thừa nhận khi trả tiền cho ông N không có sổ sách ghi chép vì tin tưởng nhau, nhưng ông N không thừa nhận về những lần nhận số tiền 130.000.000₫ (lần 2) và 100.000.000đ (lần 4), ngoài lời khai của mình, ông P không đưa ra được chứng cứ nào chứng minh cho yêu cầu của mình, nên không căn cứ chấp nhận chấp nhận yêu cầu này của ông P.
Tại cấp phúc thẩm, bị đơn đưa ra đưa ra chứng cứ đó là ông T1 có đơn xác nhận đã trả tiền vận chuyển gỗ cho ông P với số tiền 100.000.000đ để ông P trả cho người chở gỗ (thời gian khoảng tháng 4/2022) sau đó ông P trả cho ai ông không biết. Về vấn đề này Hội đồng xét xử thấy, ông P khai ông T1 ở gần nhà ông P và không đi đâu, kể từ khi ông N khởi kiện ông cho đến nay. Tại cấp Phúc thẩm ông P mới đưa chứng cứ này ra mà không có lý do nào khác, nên Hội đồng xét xử không xem xét chứng cứ này theo quy định tại Điều Điều 287 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
Như vậy, tại cấp phúc thẩm bị đơn ông P không đưa được thêm căn cứ và chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình, nên không chấp nhận kháng cáo của ông P.
Hội đồng xét xử thấy, ông N đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình theo thoả thuận với ông P, nhưng ông P không thanh toán hết tiền cho ông N là vi phạm thoả thuận, nên ông P phải có nghĩa vụ thanh toán hết số tiền còn lại cho ông N theo quy định tại Điều 440 Bộ luật dân sự. Tại cấp sơ thẩm ông N chỉ yêu cầu ông P trả số tiền 559.212.000đ, số tiền ông N yêu cầu thấp hơn số tiền ông P có nghĩa vụ trả cho ông N. Do đo, ông N yêu cầu ông P phải trả số tiền còn nợ 258.662.000đ là có căn cứ, nên được chấp nhận.
Từ những nhận định trên Hội đồng xét xử thấy, Cấp sơ thẩm chấp nhận nhận yêu cầu khởi kiện và tuyên xử ông Phạm Hữu P có nghĩa vụ trả cho ông Đoàn Quang N số tiền 258.662.000đ (hai trăm năm mươi tám triệu sáu trăm sáu mươi hai nghìn đồng) là có căn cứ.
[3] Về án phí dân sự
- - Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận, nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
- - Cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị đơn - ông Phạm Hữu P, do đó, căn cứ quy định tại khoản 1, Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự, ông P phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1, Điều 308; Điều 313 Bộ luật tố tụng dân sự. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn - ông Phạm Hữu P và giữ nguyên Bản án sơ thẩm số
06/2024/DS-ST, ngày 17/6/2024 của Toà án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh.
Căn cứ khoản 2 Điều 26; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 430; Điều 440 của Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 26 và khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
-
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Đoàn Quang N, ông Phạm Hữu P có nghĩa vụ trả cho ông Đoàn Quang N số tiền 258.662.000đ (hai trăm năm mươi tám triệu sáu trăm sáu mươi hai nghìn đồng).
Kể từ ngày ông Đoàn Quang N có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
-
Về án phí:
- Ông Phạm Hữu P có nghĩa vụ nộp 12.933.100đ (mười hai triệu chín trăm ba mươi ba nghìn một trăm đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- Ông Phạm Hữu P có nghĩa vụ nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm, nhưng được trừ đi số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí ông Phạm Hữu P đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0002692 ngày 02/7/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày 22/8/2024).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Đặng Phúc Lâm |
Bản án số 61/2024/DS-PT ngày 22/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH về tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản
- Số bản án: 61/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng mua bán tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 22/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
