Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NAM ĐÀN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 61/2024/HS-ST

Ngày 15 - 8 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vương Hoàng Hào.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lê Anh Thơ.

Ông Phan Đình Nguyện.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Đặng Trường Sơn - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 53/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 6 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 62/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 7 năm 2024 và quyết định hoãn phiên tòa số 21/2024/QĐST-HS ngày 29 tháng 7 năm 2024, đối với bị cáo:

Lê Trọng S, sinh năm 1997 tại huyện N, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Xóm T, xã T, huyện N, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Trọng H và bà Nguyễn Thị L; vợ, con: Chưa có; tiền sự, tiền án: Không. Nhân thân: Ngày 25/6/2016, bị Công an huyện N xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc”, chấp hành xong ngày 28/6/2018; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 09/02/2024 đến ngày 18/02/2024 được tại ngoại. Có mặt.

- Bị hại: Ông Hồ Đình T, sinh năm 1983, nơi cư trú: Xóm A, xã K, huyện N, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Trịnh Phi H1, sinh năm 1975; nơi cư trú: Khối V, thị trấn N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 24 tháng 6 năm 2019, Lê Trọng S đến cửa hàng A tại khối X, thị trấn N, huyện N, tỉnh Nghệ An cầm cố chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu sơn đỏ đen, biển kiểm soát 37M1-835.00 của S cho anh Trịnh Phi H1 với số tiền 25.000.000 đồng và giao chiếc xe mô tô biển kiểm soát 37M1-835.00 cùng giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 032524 do Công an huyện N cấp ngày 21/06/2019 mang tên Lê Trọng S cho anh H1. Khoảng 03 ngày sau, S đến gặp anh H1 mượn lại chiếc xe mô tô đã cầm cố để sử dụng thì anh H1 đồng ý. Đến cuối tháng 7 năm 2019, S nảy sinh ý định bán chiếc xe mô tô nói trên nhưng do giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô anh H1 đang giữ nên S sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A57, màu xám, gắn thẻ sim số thuê bao 0961.837.803 truy cập vào ứng dụng mạng xã hội Zalo đặt làm giả giấy chứng nhận đăng ký cho xe mô tô BKS 37M1-835.00 với chi phí 1.500.000 đồng. Khoảng một tuần sau, tại khu vực Bưu điện thuộc khối P, thị trấn N, huyện N, tỉnh Nghệ An, S nhận giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô giả từ một người đàn ông (không xác định được lai lịch) và đưa cho người đàn ông này số tiền 1.500.000 đồng. Đến cuối tháng 8 năm 2019, tại Nhà văn hóa xóm A1, xã K, huyện N, tỉnh Nghệ An, S sử dụng giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô giả để bán chiếc xe mô tô BKS 37M1-835.00 cho anh Hồ Đình T với số tiền 38.000.000 đồng.

Ngày 09 tháng 02 năm 2024, Lê Trọng S đến Cơ quan điều tra - Công an huyện N đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội.

Tại Bản kết luận giám định số 82/KL-KTHS (Đ3-TL) ngày 28/03/2024 của Phòng K Công an tỉnh N, kết luận: “Chứng nhận đăng ký mô tô, xe máy số 032524; Tên chủ xe: Lê Trọng S, sinh năm 1997, địa chỉ: xóm A, N, N, Nghệ An, biển số đăng ký 37M1-835.00, đề ngày 21/6/2019 gửi giám định là giả”.

Bản Cáo trạng số 61/CT-VKSNĐ ngày 26/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An đã truy tố Lê Trọng S về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 và tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức” theo điểm d khoản 2 Điều 341 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lê Trọng S phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức”.

Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 341; khoản 1 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 54, Điều 55 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo mức án từ 3 đến 5 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, mức án từ 15 đến 17 tháng tù về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức”. Tổng hợp hình phạt của hai tội, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung từ 18 đến 22 tháng tù, được trừ thời gian bị tạm giữ từ ngày 09/02/2024 đến ngày 18/02/2024.

Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự, vật chứng: Không yêu cầu nên không xem xét.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố, không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.

Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo biết hành vi là sai, vi phạm nên xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ mức án cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa vắng mặt bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án (đã có đơn xét xử vắng mặt) nên việc vắng mặt này không ảnh hưởng, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án đúng theo quy định tại Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[3] Về tội danh, khung hình phạt: Tại phiên tòa bị cáo Lê Trọng S đã khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai của bị hại, người tham gia tố tụng và các tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để kết luận: Ngày 24 tháng 6 năm 2019, Lê Trọng S cầm cố chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu sơn đỏ đen, biển kiểm soát 37M1-835.00 cho anh Trịnh Phi H1 với số tiền 25.000.000 đồng nhưng chỉ để lại giấy chứng nhận đăng ký xe. Đến cuối tháng 7 năm 2019, Lê Trọng S truy cập vào ứng dụng mạng xã hội Zalo đặt làm giả giấy chứng nhận đăng ký cho xe mô tô biển kiểm soát 37M1-835.00. Đến cuối tháng 8 năm 2019, tại nhà văn hóa xóm A, xã K, huyện N, tỉnh Nghệ An, Lê Trọng S sử dụng giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô giả để bán chiếc xe mô tô BKS 37M1-835.00 cho anh Hồ Đình T chiếm đoạt số tiền 38.000.000 đồng. Hành vi của Lê Trọng S dùng thủ đoạn gian dối (sử dụng giấy tờ giả con dấu tài liệu của Công an huyện N) chiếm đoạt số tiền 38.000.000 đồng của ông Hồ Đình T. Hành vi này đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 174 và điểm d khoản 2 Điều 341 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

[4] Về hình phạt chính: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi “sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” đã trực tiếp xâm phạm đến hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức trong lĩnh vực quản lý hành chính Nhà nước về con dấu, tài liệu. Hành vi “lừa đảo chiếm đoạt tài sản” đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, làm mất trật tự an toàn xã hội trên địa bàn, gây tâm lý hoang mang, bất bình trong quần chúng nhân dân nên cần xử nghiêm.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bồi thường, khắc phục thiệt hại cho bị hại anh Hồ Đình T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Trịnh Phi H1; bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo ra đầu thú. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xét thấy bị cáo có hai tình tiết giảm nhẹ theo khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự nên cần áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. Cần áp dụng hình phạt cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp, để giáo dục, cải tạo bị cáo và đấu tranh phòng ngừa chung.

[5] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về vật chứng: Các vật chứng đã giải quyết trong quá trình điều tra là đúng quy định nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Hành vi liên quan: Đối với hành vi của đối tượng làm giả giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã tiến hành điều tra nhưng chưa có kết quả, đang tiếp tục điều tra làm rõ, khi nào có đủ căn cứ sẽ xử lý sau.

[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 341; khoản 1 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 54, Điều 55 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Trọng S 16 (mười sáu) tháng tù về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức” và 03 (ba) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Tổng hợp hình phạt của hai tội buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 19 (Mười chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian từ ngày 09/02/2024 đến ngày 18/02/2024.

2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Lê Trọng S phải chịu số tiền 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Nam Đàn;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Sở tư pháp tỉnh Nghệ An;
  • - Cơ quan Cảnh sát điều tra, Thi hành án hình sự - Công an huyện Nam Đàn;
  • - Chi cục THADS huyện Nam Đàn;
  • - Bị cáo; Bị hại;
  • - Người có quyền lợi NV liên quan;
  • - Lưu hồ sơ vụ án; VP.TA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vương Hoàng Hào

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 61/2024/HS-ST ngày 15/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN về hình sự (tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và tội sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức)

  • Số bản án: 61/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và Tội Sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Trọng Sơn - Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger