Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐỊNH QUÁN

TỈNH ĐỒNG NAI

***

Bản án số: 61/2024/HSST

Ngày 07 tháng 5 năm 2024.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

***

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Xuân Hòa.
  • Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vương Thị Dung; Bà Lương Thanh Kỳ.
  • Thư ký phiên tòa: Ông Phan Nguyễn Thành Trung – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Định Quán.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Luân - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 5 năm 2024, Tòa án nhân dân huyện Định Quán đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 38/2024/TLST-HS ngày 13 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 47/2024/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 3 năm 2024 về Thông báo mở lại phiên tòa số 138/2024/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn T - sinh năm 1993 tại Ninh Thuận

Nơi cư trú: Thôn P, xã M, huyện N, tỉnh Ninh Thuận; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 12/12; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Văn L – sinh năm 1964 và bà L Thị Kim S - sinh năm 1965; Vợ, con: chưa có; Tiền sự: Không.

* Tiền án: Tại bản án số 48/2017/HSPT ngày 28/11/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận xử phạt Nguyễn Văn T 10 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, buộc bị cáo bồi thường cho người bị hại 35.303.280 đồng (bồi thường được 10.000.000 đồng ngày 09/02/2018, còn lại 25.303.280 đồng), án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng và án phí hình sự phúc thẩm 200.000 đồng (xong ngày 03/01/2018), chấp hành xong hình phạt tù ngày 14/03/2018 tại trại giam S2.

Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/12/2022 cho đến nay “có mặt”.

  • Bị hại: Ông Phạm Nguyên H – sinh năm 1958 và bà Phạm Thị L1 – sinh năm 1958; Cùng trú tại ấp C, xã G, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai (có mặt).
  • Bị đơn dân sự: Công ty TNHH thương mại vận tải Phát Triển Vạn Phúc
  • Người đại diện: Anh Phạm Hùng T1 – sinh năm 1984; Trú tại 67/1, ấp D, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (có mặt).
  • Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của Công ty: Anh Đỗ Đặng Hồng T2 – Là Luật sư của Công ty L2 thuộc Đoàn Luật sư thành phố H (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn T là người có giấy phép lái xe ô tô hạng C, số 380.211.938.419 do Sở Giao thông vận tải tỉnh N cấp ngày 02/6/2021, có giá trị sử dụng đến ngày 02/6/2026.

Vào khoảng 15 giờ 30 phút ngày 13/11/2021, ông Phạm Nguyên Hồng điều khiển xe mô tô biển số 60P2-0999 chở theo bà Phạm Thị L1 lưu thông trên Quốc lộ B theo hướng huyện T đi huyện Đ. Khi xe mô tô do ông Hồng điều khiển đi đến km 52+30m Quốc lộ B, thuộc ấp A, xã P, huyện Đ thì phát hiện xe ô tô biển số 61C-195.65 do anh Lầm Sìn S1 đi từ vựa trái cây T, thuộc ấp A, xã P, huyện Đ ra Quốc lộ B để đi về hướng T. Thấy vậy, ông Hồng điều khiển xe mô tô trên lách qua trái để né xe ô tô trên thì va chạm với xe ô tô tải biển số 50H-048.38 do Nguyễn Văn T điều khiển lưu thông theo chiều ngược lại gây tai nạn giao thông làm ông H, bà L1 té ngã bị thương tích. Mặc dù biết đã gây tai nạn giao thông nhưng T không giữ nguyên hiện trường vụ án mà điều khiển xe bỏ chạy, đến ngày 14/11/2021 T mới đến Cơ quan Công an đầu thú.

Căn cứ bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 0951/TgT/2021 ngày 31/12/2021 của Trung tâm pháp y tỉnh Đ, kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể của bà Phạm Thị L1 do tai nạn giao thông như sau: Tổn thương cắt cụt đến 1/3 giữa xương đùi trái: Tỷ lệ 65% (bút lục số 33-35).

Căn cứ bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 0950/TgT/2021 ngày 06/01/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh Đ, kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể của ông Phạm Nguyên H do tai nạn giao thông: Tỷ lệ 48% (bút lục số 37-39).

Kết quả khám nghiệm hiện trường:

  • Hiện trường tai nạn giao thông là đoạn đường thẳng, mặt đường nhựa bê tông, đường 02 chiều mỗi chiều rộng 5,5m, có vạch sơn tim đường ngắt quãng phân làm hai chiều đường. Hiện trường khi khám nghiệm đã bị xáo trộn do xe ô tô biển số 50H-048.38 đã bỏ chạy khỏi hiện trường, xe mô tô biển số 60P2-0999 đã bị di chuyển vào lề đường, nạn nhân được đưa đi cấp cứu.
  • Vị trí vết máu loang trên mặt đường bên phải theo hướng T - T, vết máu có kích thước 0m5 x 01m, vết máu cách mép đường chuẩn là 2,5m và cách trụ điện số 120 là 10m4.
  • Vị trí vết cày trên mặt đường bên phải theo hướng T đi T, vết cày có kích thước 0m02 x 2m3. Điểm đầu của vết cày cách mép chuẩn là 3m9 và cách trục bánh trước bên trái của xe ô tô biển số 61C-195.65 là 2m6. Điểm cuối của vết cày hướng về phía Định Quán và cách mép chuẩn là 3m3.
  • Vị trí của xe ô tô biển số 60C-195.65 trên mặt đường, bánh trước bên phải của xe ô tô cách mép chuẩn là 1m6 và cách trụ điện số 120 là 8m6. Bánh sau bên phải của xe ô tô cách mép chuẩn là 1m6 và cách trụ điện số 120 là 9m.

Kết quả khám nghiệm phương tiện liên quan:

  • Xe ô tô biển số 50H-048.38: Cầu thang bằng kim loại gắn trước thùng xe bên trái bị móp thụng tại vị trí phía dưới gần đầu cản bên trái của xe. Cản bên trái thùng xe được thiết kế gồm hai thanh sắt hình chữ C có kích thước 3,5cm x 7cm x 356cm gắn trên giá đỡ, thanh sắt phía dưới cách mặt đất là 40cm cách thanh sắt phía trên là 13,5cm. Đầu của hai thanh sắt làm cản gần cabin bị trầy xước móp méo. Miếng nhựa composite màu trắng bọc đầu hai thanh sắt làm cản gần cabin bị gãy (bọc đầu và cuối hai thanh sắt). Miếng nhựa composite màu trắng bọc đầu hai thanh sắt phía cuối thùng xe bị rách đứt điểm nối giữa hai đầu thanh sắt. Giá đỡ của cản trái thùng xe bị xô lệnh về phía sau xe.
  • Xe mô tô biển số 60P2-0999: Mặt kính nhựa đồng hồ bị bể. Tay lái bên trái bị cong vênh về phía sau xe. Gương chiếu hậu bên trái bị rơi vỡ ở hiện trường. Y nhựa chắn gió bên trái bị gãy và bị trầy lớp nhựa, kích thước 2cm x 4cm. Gác chân phía sau bên trái bị gãy kim loại rời khỏi xe. Đầu kim loại của tay phanh bên trái bị trầy kim loại.
  • Xe ô tô biển số 61C-195.65: Tại hiện trường không phát hiện dấu vết liên quan đến vụ tai nạn giao thông trên.

Căn cứ bản kết luận giám định số 08/TTĐKXCG ngày 15/3/2022 của Trung tâm Đ1 kết luận tình trạng an toàn kỹ thuật của xe ô tô biển số 50H-048.38 và tốc độ xe tại thời điểm xảy ra tai nạn giao thông như sau: Các hệ thống phanh, hệ thống lái, hệ thống đèn chiếu sáng, đèn tín hiệu, lốp xe bình thường. Tốc độ của xe ô tô biển số 50H-048.38 không có cơ sở để xác định (bút lục số 43-44).

Căn cứ bản kết luận giám định số 5444/KL-KTHS ngày 10/10/2022 của Phân viện khoa học hình sự Bộ C tại thành phố Hồ Chí Minh có kết luận như sau: Vị trí va chạm giữa xe ô tô biển số 50H-048.38 và xe mô tô biển số 60P2-0999 trên mặt đường nằm bên phải Quốc lộ B, hướng từ Lâm Đồng đi D (bút lục số 42).

Quá trình giải quyết vụ án:

Tại bản cáo trạng số 86/CT-VKSĐQ ngày 20/7/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm c khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Tại Quyết định số 51/2023/HSST-QĐ ngày 31/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện Định Quán đã trả hồ sơ để điều tra bổ sung những vấn đề sau:

  • Sơ đồ hiện trường chưa mô tả vạch phân tuyến, chưa xác định điểm đụng giữa xe ô tô 50H-048.38, chưa thể hiện khoảng cách từ đầu vết cày đến vạch phân tuyến
  • Xác định xe ô tô biển số 61C-195.65 do Lầm Sìn Sinh điều khiển có lỗi khi nhập làn hay không.
  • Ông Hồng điều khiển xe mô tô 60P2-0999 vượt trái xe ô tô 61C-195.65 có lỗi hay không, nếu không có lỗi thì lỗi có thuộc về Lầm S?
  • Xác định những khoản bồi thường trách nhiệm dân sự mà ông H bà L1 yêu cầu”.

Tại Công văn số 45/CV-VKS ngày 07 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán đã chấp nhận điều tra bổ sung và xác định:

  • Đối với sơ đồ hiện trường đã thể hiện vạch phân tuyến hiện trường vụ tai nạn giao thông (nét vẽ đứt quãng). Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh đã có văn bản xác định điểm đụng giữa xe ô tô 50H-048.38 và xe mô tô 60P2-0999 là trên mặt đường nằm bên tay phải Quốc lộ B, hướng từ Lâm Đồng đi D. Về khoảng cách từ đầu vết cày đến vạch phân tuyến được thể hiện bằng sơ đồ hiện trường và biên bản khám nghiệm hiện trường, theo đó là 1,6m và vào lề phải là 3,9m.
  • Đối với xe ô tô 61C-195.65 do S1 điều khiển nhập làn đã nhập và dừng vào làn bên phải phần đường, mặt khác qua khám nghiệm phương tiện thì giữa xe ô tô trên và xe mô tô do ông Hồng điều khiển không có va chạm với nhau nên hành vi điều khiển xe ô tô trên khi nhập làn của S1 không có lỗi.
  • Đối với yêu cầu bồi trách nhiệm dân sự của ông H và bà L1 thì qua quá trình điều tra bổ sung ông H, bà L1 và phía bên chủ xe đã tự nguyện thỏa thuận mức bồi thường 150.000.000 đồng. Ông H và bà L1 đã nhận số tiền trên và không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán giữ nguyên quan điểm truy tố đối với Nguyễn Văn T theo Cáo trạng truy tố số 117/CT-VKSĐQ ngày 23/8/2023.

Tại phiên tòa hôm nay, việc tranh tụng diễn ra như sau:

  1. Kiểm sát viên giữ nguyên cáo trạng và đề nghị áp dụng điểm c khoản 2 Điều 260; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù.
  2. Kiểm sát viên còn nêu quan điểm xử lý biện pháp tư pháp và án phí vụ án.
  3. Bị cáo Nguyễn Văn T nhận tội và xin giảm nhẹ hình phạt.
  4. Bị hại ông H, bà L1 có ý kiến: Không yêu cầu bị cáo bồi thường gì về dân sự. Về trách nhiệm hình sự thì đề nghị xử lý theo pháp luật.
  5. Anh Đỗ Đặng Hồng T2 có kiến: Bị cáo T là người gây tai nạn nên phải chịu trách nhiệm bồi thường. Do bị cáo không thiện chí bồi thường nên xe ô tô 50H-048.38 bị Công an tạm giữ trong thời gian dài, gây thiệt hại cho Công ty TNHH T4 nhưng phía Công ty B hiện chưa chi trả. Đề nghị Tòa án đưa Công ty B vào tham gia tố tụng và buộc thực hiện nghĩa vụ chi trả theo hợp đồng.
  6. Bị đơn dân sự anh T1 đồng ý với ý kiến của Luật sư T2 nên không trình bày gì thêm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán, Kiểm sát viên: trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Căn cứ để kết tội đối với bị cáo Nguyễn Văn T:

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai nhận tội. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông, kết luận giám định pháp y và các chứng cứ có lưu trong hồ sơ vụ án nên hội đồng xét xử đủ cơ sở xác định:

Vào khoảng 15 giờ 30 phút ngày 13/11/2021, Nguyễn Văn T điều khiển xe ô tô tải biển số 50H-048.38 lưu thông theo hướng D - Lâm Đồng. Khi đến km 52+30m Quốc lộ B, thuộc ấp A, xã P, huyện Đ, do đi không đúng phần đường quy định nên xe ô tô do T điều khiển đã va chạm với xe mô tô biển số 60P2-0999 ông Phạm Nguyên Hồng điều khiển chở theo vợ là bà Phạm Thị L1 lưu thông theo chiều ngược lại, gây tai nạn giao thông. Hành vi do bị cáo Nguyễn Văn T thực hiện đã vi phạm điều cấm của luật giao thông đường bộ vì theo khoản 8, 9 Điều 8 và khoản 1 Điều 9 Luật Giao thông đường bộ năm 2008 có quy định: “Người tham gia giao thông phải đi bên phải theo chiều đi của mình, đi đúng làn đường, phần đường quy định..”. Hậu quả từ hành vi không chấp hành luật giao thông của bị cáo đã gây thương tích cho bà Phạm Thị L1 65% và ông Phạm Nguyên H 48%; không những vậy, sau khi gây tai nạn giao thông, Nguyễn Văn T không cứu giúp người bị nạn mà điều khiển xe ô tô bỏ trốn khỏi hiện trường nên phải chịu trách nhiệm về hành vi “Gây tai nạn rồi bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn”.

Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” với tình tiết định khung hình phạt theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội.

[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:

Xét thấy: Tình hình tai nạn giao thông hiện nay đang có chiều hướng gia tăng, gây thiệt hại lớn về tài sản và tính mạng của con người, trong vụ án này, hành vi vi phạm quy tắc an toàn giao thông đường bộ của bị cáo Nguyễn Văn T đã gây thương tích cho bà Phạm Thị L1 65% và ông Phạm Nguyên H 48%. Do đó cần phải có một mức án đủ nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả hành vi của bị cáo gây ra nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo có ý thức chấp hành đúng các quy tắc giao thông và răn đe, phòng ngừa chung cho toàn xã hội. Xét về lỗi trong vụ án này thì bị cáo là người điều khiển xe mô tô không đúng phần đường; tai nạn xảy ra do lỗi của bị cáo.

Tuy nhiên, bị hại ông H cũng có phần lỗi vì điều khiển xe mô tô vượt xe tải cùng chiều không đúng nguyên tắc (vượt phải xe ô tô, chạy vào phần đường dành cho ô tô) nên cũng là nguyên nhân xảy ra vụ tai nạn.

[4] Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo Nguyễn Văn T thì thấy rằng:

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo chưa được xóa án tích theo Bản án số 48/2017/HSPT ngày 28/11/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận, nay lại phạm tội nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện rõ sự ăn năn hối cải nên được xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Ngoài ra, bị hại cũng có lỗi; bị cáo tự đầu thú; hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên Tòa án xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5] Về biện pháp tư pháp:

  • Đối với yêu cầu bồi trách nhiệm dân sự: Ông H, bà L1 và phía bên chủ xe đã tự nguyện thỏa thuận mức bồi thường 150.000.000 đồng, hiện ông H và bà L1 đã nhận số tiền trên và không yêu cầu gì thêm nên miễn xét.
  • Đối với ý kiến của bị đơn dân sự: Thiệt hại trong vụ tai nạn là do nguồn nguy hiểm cao độ (xe ô tô) gây ra nên chủ phương tiện là Công ty TNHH T4 phải có nghĩa vụ bồi thường theo Điều 601 Bộ luật dân sự; Tòa án không chấp nhận ý kiến của bị đơn dân sự cho rằng nghĩa vụ bồi thường là của bị cáo. Do đó, bị đơn dân sự có quyền thỏa thuận với bị cáo về số tiền đã bồi thường hoặc tranh chấp thành vụ án khác.
  • Đối với việc Công ty TNHH T4 có ký hợp đồng để mua bảo hiểm cho xe ô tô biển số 50H-048.38: Các bên sẽ tự thực hiện hợp đồng hoặc tranh chấp trong vụ án khác. Tuy nhiên, do bị đơn dân sự Phạm Hùng T1 đã bồi thường cho nạn nhân nên Tòa án chấp nhận giao trả xe lại cho anh T1.
  • Xe mô tô biển số 60P2-0999: Thuộc sở hữu của ông Phạm Nguyên H. Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là đúng.
  • Tòa án không cấm bị cáo hành nghề nên bị cáo được trả lại Giấy phép lái xe số 380.211.938.419 do Sở Giao thông vận tải tỉnh N cấp ngày 02/6/2021.
  • Đối với xe ô tô biển số 61C-195.65 của anh Lầm Sìn S1: Không liên quan trực tiếp đến vụ tai nạn giao thông. Cơ quan điều tra đã trao trả cho chủ sở hữu là đúng.

[6] Về quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa: Là phù hợp với pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  2. Về điều luật áp dụng:

    Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 260; điểm s khoản 1 và 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự;

    Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

    Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

  3. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 10/12/2022.
  4. Về biện pháp tư pháp:
    • - Trả lại cho anh Phạm Hùng T1 01 xe ô tô biển số 50H-048.38 (Xe do Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ quản lý).
    • - Trả lại cho bị cáo Giấy phép lái xe số 380.211.938.419 do Sở Giao thông vận tải tỉnh N cấp ngày 02/6/2021 (kèm trong hồ sơ).

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm;

Bị cáo Nguyễn Văn T; ông H và bà L1; Công ty TNHH T4 có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Nai.
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai.
  • - VKSND huyện Định Quán.
  • - Công an huyện Định Quán.
  • - Chi cục THA huyện Định Quán.
  • - Bị cáo, bị hại; đương sự
  • - Lưu hồ sơ, VP.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Xuân Hòa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 61/2024/HSST ngày 07/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 61/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn T
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger