TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM ĐÀN TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 61/2023/HS-ST
Ngày 21 - 11 - 2023
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lài.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Thu Hiền.
Bà Hoàng Thị Thúy Giang.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Huyền Trang, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Đậu Công Hữu - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 11 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 60/2023/TLST-HS, ngày 03 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 64/2023/QĐXXST-HS, ngày 09 tháng 11 năm 2023, đối với bị cáo:
Nguyễn Thị Phương T, sinh ngày 02 tháng 01 năm 1984 tại thành phố V, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú: Xóm D, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Sỹ T1 (đã chết) và bà Lê Thị Y; họ và tên chồng: Trịnh Hồng T2; có 02 con; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/8/2023 đến ngày 24/8/2023, hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
+ Anh Hà Văn H, sinh năm 1990; nơi cư trú: Xóm C, xã K, huyện N, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.
+ Anh Nguyễn Văn A, sinh năm 1993; nơi cư trú: Xóm D, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.
+ Chị Trần Thị Ánh N, sinh năm 1979; nơi cư trú: K, phường C, thành phố V, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 16 giờ 50 phút ngày 15/8/2023, Hà Văn H sử dụng điện thoại di dộng nhãn hiệu Nokia màu xanh đen gắn số thuê bao 0975591575 gọi đến số thuê bao 0328938351 gắn trong điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen của Nguyễn Thị Phương T với nội dung: “Chị ghi cho em lô 34, 80 điểm; lô 27, 20 điểm; đề 14, 41, 27, 07 mỗi số năm mươi nghìn”. Hiểu ý H muốn đánh bạc bằng hình thức mua số lô, số đề nên T đồng ý và trả lời với H: “rồi, ok”, đồng thời T ghi các số lô, số đề mà H mua vào tờ giấy màu trắng, kích thước (25x18) cm để tại bàn phòng khách. Sau đó H nói tiếp: “cho em nợ mai ra ăn sáng em trả” thì T đồng ý và trả lời: “ok” rồi ghi thêm nội dung “-2.500 Hieu” (có nghĩa là H đang nợ T 2.500.000 đồng tiền mua số lô, số đề nêu trên). Đến khoảng 17 giờ 40 cùng ngày, Nguyễn Văn A đến quán ăn của T và nói: “chị ghi cho em hai con lô hai trăm điểm bốn triệu sáu em nhắn tin đó” rồi A đưa cho T số tiền 4.600.000 đồng (bốn triệu sáu trăm nghìn đồng). Thảo kiểm tra điện thoại thì thấy tin nhắn từ số thuê bao 0982810797 của A nhắn đến số thuê bao 0328938351 gắn trong điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen của mình với nội dung: “Lô 58 98x100đ”. Hiểu ý A muốn đánh bạc bằng hình thức mua số lô với số tiền 4.600.000 đồng (bốn triệu sáu trăm nghìn đồng) nên T nhắn tin trả lời: “ok”. Sau đó, T vào phòng khách sử dụng điện thoại Redmi màu đen, gắn số thuê bao 0332469971 của mình truy cập vào ứng dụng Telegram nhắn tin với nội dung: “Lô 34x80đ. 27x20đ. Đe 14.41.27.07.37.47x50k” đến tài khoản Telegram số thuê bao 0397358691 của Trần Thị Ánh N để chuyển số lô, số đề mà H đã mua và T mua thêm hai số đề 37, 47 mỗi số 50.000 đồng (Năm mươi nghìn đồng). Nguyệt nhắn tin lại cho T với nội dung “1” (có nghĩa là đồng ý nhận 01 tin nhắn mua số lô, số đề của T đã gửi). Tổng số tiền Nguyễn Thị Phương T chuyển cho Trần Thị Ánh N và đánh bạc với N là 2.600.000 đồng. Sau đó, T ngồi ghi thêm nội dung các số đề “37 47/50” mà T mua của N vào một tờ giấy màu trắng và chuẩn bị ghi các số lô mà Nguyễn Văn A đã mua của T thì bị Tổ công tác Công an huyện N kiểm tra phát hiện, lập biên bản.
Cách thức đánh như sau: Dựa vào kết quả sổ số miền B mở thưởng hàng ngày. Trong đó: số đề là hai số cuối của giải đặc biệt; kết quả số lô là hai số cuối của tất cả các giải (27 giải).Quy ước tỷ lệ thắng thua: Nguyễn Thị Phương T bán ra 01 điểm lô là 23.000 đồng cho tất cả những người đánh. Nếu thắng thì tỷ lệ 01 điểm lô ăn 80.000 đồng; nếu thắng thì đề ăn 70 lần tiền đánh. Căn cứ vào kết quả xổ số kiến thiết miền B mở thưởng hàng ngày để tính thắng thua.
Bản cáo trạng số 64/CT-VKSNĐ, ngày 02/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An truy tố Nguyễn Thị Phương T về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Về tội danh: Bị cáo Nguyễn Thị Phương T phạm tội “Đánh bạc”. Về hình phạt chính: Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Phương T mức án từ 09 đến 12 tháng Cải tạo không giam giữ. Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước số tiền 7.200.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, bên trong gắn số thuê bao 0328938351 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu đen, bên trong gắn số thuê bao 0332469971 thu giữ của Nguyễn Thị Phương T; 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu Nokia màu xanh đen, vỏ ốp nhựa phía sau bị vỡ, gắn số thuê bao 0975591575 thu giữ của Hà Văn H; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen, gắn số thuê bao 0982.810.797 thu giữ của Nguyễn Văn A. Tịch thu và tiêu hủy: 01 bút bi vỏ màu sọc xanh vàng trắng, nắp bút màu tím, mực màu xanh thu giữ của Nguyễn Thị Phương T. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo nhất trí với bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo biết hành vi của mình là sai trái nên xin Hội đồng xét xử cho bị cáo cơ hội về gia đình để sửa sai.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt nhưng đã có lời khai đầy đủ tại hồ sơ vụ án. Xét sự vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến việc xét xử nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[3]. Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Thị Phương T đã khai nhận hành vi của mình giống như bản cáo trạng truy tố; lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản sự việc ban đầu, lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, vật chứng thu được và các tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng từ 16 giờ 50 phút đến 18 giờ 00 phút, ngày 15/8/2023, tại nhà riêng của mình, xóm D, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An, Nguyễn Thị Phương T có hành vi đánh bạc trái phép bằng hình thức ghi số lô, số đề với Hà Văn H với số tiền là 2.500.000 đồng, Nguyễn Văn A với số tiền là 4.600.000 đồng và Trần Thị Ánh N với số tiền là 100.000 đồng. Tổng số tiền Nguyễn Thị Phương T sử dụng vào đánh bạc là 7.200.000 đồng (bảy triệu hai trăm nghìn đồng). Hành vi của Nguyễn Thị Phương T đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự. Đối với Hà Văn H, Nguyễn Văn A và Trần Thị Ánh N tham gia đánh bạc trái phép được thua bằng tiền với Nguyễn Thị Phương T nhưng tổng số tiền dùng vào đánh bạc dưới 5.000.000 đồng và chưa bị xử lý hành chính cũng như chưa bị kết án về hành vi đánh bạc, tổ chức đánh bạc, gá bạc theo quy định tại Điều 321, Điều 322 của Bộ luật Hình sự nên Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện N đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính và thu giữ số tiền sử dụng vào đánh bạc để nộp ngân sách Nhà nước là đúng quy định pháp luật. Bản cáo trạng số 64/CT-VKSNĐ, ngày 02/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[4]. Về hình phạt chính: Hành vi của bị cáo thể hiện sự coi thường pháp luật, xâm phạm đến trật tự công cộng. Đánh bạc là tệ nạn xã hội thường dẫn đến các hậu quả nghiêm trọng khác gây mâu thuẫn trong gia đình, làm mất an ninh trật tự tại địa phương. Vì thế cần phải xử lý nghiêm đối với bị cáo nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, xét bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự; tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo đầu thú. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Xét bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng; không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ; có nơi cư trú rõ ràng, cụ thể nên không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội mà áp dụng Điều 36 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo được cải tạo tại địa phương như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn cũng đủ nghiêm.
[5]. Về hình phạt bổ sung: Xét các bị cáo nghề nghiệp lao động tự do, thu nhập không ổn định nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền và miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.
[6]. Về xử lý vật chứng: Đối với số tiền 7.200.000 đồng thu giữ là số tiền mà bị cáo và các đối tượng sử dụng vào đánh bạc nên tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, gắn số thuê bao 0328938351 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu đen, gắn số thuê bao 0332469971 thu giữ của Nguyễn Thị Phương T; 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu Nokia màu xanh đen, vỏ ốp nhựa phía sau bị vỡ, gắn số thuê bao 0975591575 thu giữ của Hà Văn H; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen, gắn số thuê bao 0982.810.797 thu giữ của Nguyễn Văn A là phương tiện các đối tượng sử dụng để đánh bạc, đang còn giá trị sử dụng nên tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.
Đối với 01 bút bi vỏ màu sọc xanh vàng trắng, nắp bút màu tím, mực màu xanh thu giữ của Nguyễn Thị Phương T là công cụ dùng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên tuyên tịch thu và tiêu hủy.
[7]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Phương T 09 (chín) tháng Cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc”, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 15/8/2023 đến ngày 24/8/2023 là 09 ngày x 3 = 27 ngày Cải tạo không giam giữ. Thời gian còn phải chấp hành hình phạt là 08 (tám) tháng 03 (ba) ngày Cải tạo không giam giữ. Thời hạn Cải tạo không giam giữ của bị cáo được tính từ ngày cơ quan Thi hành án hình sự cấp huyện nhận được Quyết định Thi hành án. Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo Nguyễn Thị Phương T.
Giao bị cáo Nguyễn Thị Phương T cho UBND xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong giám sát, giáo dục bị cáo. Người bị kết án Cải tạo không giam giữ phải thực hiện những nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 90, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước số tiền 7.200.000 đồng (Bảy triệu hai trăm nghìn đồng). Số tiền đang được niêm phong trong phong bì thư và được bảo quản tại Kho bạc Nhà nước huyện N, tỉnh Nghệ An theo biên bản giao nhận tài sản số 32/2023/BBBG-KBNĐ(VNĐ) và Phiếu nhập kho lập ngày 18/9/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N và Kho bạc Nhà nước huyện N, tỉnh Nghệ An.
Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, IMEI1: 353624/09/467434/8, IMEI2: 353624/09/467435/5, bên trong gắn số thuê bao 0328938351, seri sim 401; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu đen, IMEI1: 865059054602503/78, IMEI2: 865050054602511/78 bên trong gắn số thuê bao 0332469971, seri sim: 34823; 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu Nokia màu xanh đen, IMEI: 355774109749680M, gắn số thuê bao 0975591575, vỏ ốp nhựa phía sau bị vỡ, seri sim: 500; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen, IMEI1: 355043874314504, IMEI2: 35504387314502, gắn số thuê bao 0982.810.797, seri sim: 35582. Tịch thu và tiêu hủy: 01 bút bi vỏ màu sọc xanh vàng trắng, nắp bút màu tím, mực màu xanh. Các vật chứng này hiện đang được bảo quản tại Kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nam Đàn và có đặc điểm chi tiết theo Biên bản giao, nhận vật chứng lập ngày 03/11/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Thị Phương T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Lài |
Bản án số 61/2023/HS-ST ngày 21/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN về hình sự về tội đánh bạc
- Số bản án: 61/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Phương T đánh bạc
