Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TỦA CHÙA

TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 61/2024/HS-ST

Ngày 20-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỦA CHÙA, TỈNH ĐIỆN BIÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Trương Anh Tuấn
  • Các Hội thẩm nhân dân: bà Vi Thu Hằng và ông Lờ A Hùng
  • Thư ký phiên tòa: bà Lò Thị Thu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Điện Biên.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: ông Lò Văn Nhung - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Điện Biên mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 61/2024/TLST-HS ngày 23/8/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 61/2024/QĐXXST-HS ngày 09/9/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Cà Văn M- Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam. Sinh năm 1991 tại huyện G, tỉnh Điện Biên. Nơi đăng ký thường trú và nơi ở hiện nay: Tổ dân phố Q, thị trấn T, huyện T, tỉnh Điện Biên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Nghề nghiệp: làm ruộng; Trình độ học vấn: 8/12; con ông Cà Văn T (Đã chết); Con bà Lò Thị X Sinh năm 1962; Vợ là Lò Thị T- sinh năm 1996; Bị cáo có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2016, con nhỏ nhất sinh năm 2021; Tiền án: không, Tiền sự: không. Chức vụ: không; Nhân thân: chưa bị xử phạt hành chính, chưa bị kết án.

Tạm giữ từ ngày 18/6/2024 đến ngày 27/6/2024, tạm giam từ ngày 27/6/2024 đến nay. Bị cáo có mặt.

  • Người bào chữa cho bị cáo: bà Hà Thị Thuận- là Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Điện Biên. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 07 giờ, ngày 18/06/2024 bị cáo Cà Văn M một mình đi bộ trong tổ dân phố Q để tìm mua ma tuý sử dụng, bị cáo có gặp một người đàn ông dân tộc Mông, không biết tên, địa chỉ, bị cáo hỏi và mua được của người này 01 gói ma tuý với giá 100.000 đồng, sau khi mua được gói ma túy bị cáo cất giấu trong túi áo ngực bên trái đang mặc của mình rồi đi bộ về nhà, khi đi đến đoạn đường ngã ba tổ dân phố Q, thị trấn T gần nhà bị cáo thì bị công an phát hiện, bắt quả tang.

Vật chứng thu giữ gồm: 01 gói được gói ngoài bằng nilon màu xanh, bên trong có các cục chất bột màu trắng và 01 viên nén màu hồng một mặt có chữ "WY".

Hồi 10 giờ 00 phút ngày 18/6/2024, Cơ quan điều tra mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu giám định, xác định: các cục chất bột màu trắng thu giữ của Bị cáo có khối lượng 0,1708 gam; 01 viên nén màu hồng có khối lượng 0,1013 gam.

Kết luận giám định số 1109/KL-PC09 ngày 27/6/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: vật chứng thu giữ của bị cáo có khối lượng 0,1708 gam cục chất bột màu trắng thể rắn là chất ma túy: loại Heroin (Heroine); vật chứng thu giữ có khối lượng 0,1013 gam viên nén màu hồng là chất ma túy: loại Methamphetamine. Hoàn lại 02 mẫu vật còn lại sau giám định gồm H1: 0,09 gam; M1: 0,06 gam.

Cáo trạng số 34/CT-VKSHTC ngày 21 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện T truy tố bị cáo Cà Văn M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 điều 51, điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Về vật chứng, đề nghị tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại, các vỏ niêm phong, đề nghị miễn án phí cho bị cáo.

Người bào chữa cho bị cáo nhất trí với quan điểm của Viện kiểm sát về tội danh và điều luật áp dụng đối với bị cáo, đề nghị HĐXX xem xét bị cáo tàng trữ ma túy khối lượng ít, bị cáo phạm tội lần đầu, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đề nghị áp dụng cho Bị cáo tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 điều 51 của Bộ luật hình sự và cho bị cáo được hưởng mức án thấp trong khung hình phạt, không áp dụng hình phạt bổ sung và miễn án phí cho bị cáo

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố, Bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận ngày 18/6/2024 bị cáo mua được 01 gói ma túy với giá 100.000 đồng với mục đích để sử dụng, sau khi mua được bị cáo cất giấu chất ma túy trong người đã bị Công an phát hiện bắt quả tang.

Lời khai của Bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến bắt quả tang bị cáo, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết quả thu giữ vật chứng; biên bản xác định khối lượng và bản Kết luận giám định của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên.

Có đủ cơ sở kết luận, ngày 18/6/2024 bị cáo đã một mình mua được 01 gói ma túy trong đó có Heroine khối lượng 0,1708 gam và Methamphetamine khối lượng 0,1013 gam, tổng khối lượng 2 chất ma túy là 0,2721 gam; Mục đích bị cáo mua ma túy để sử dụng

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, hành vi cố ý mua và cất giấu trái phép 02 chất ma túy có khối lượng 0,2721 gam của bị cáo đã phạm tội “tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[3] Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn về hành vi phạm tội của mình nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự "thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải" theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, do đó Hội đồng xét xử chấp nhận ý kiến của Kiểm sát viên và người bào chữa về áp dụng tình tiết giảm nhẹ này cho bị cáo

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điều 52 của Bộ luật hình sự.

Căn cứ vào tính chất mức độ phạm tội của bị cáo, xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng mức hình phạt tù tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo và cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo.

[4] Về hình phạt bổ sung:

Căn cứ vào biên bản xác minh tài sản của cơ quan điều tra và qua tranh tụng tại phiên tòa cho thấy, bị cáo không có tài sản gì giá trị; gia đình thuộc hộ nghèo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo là phù hợp, Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Về các vấn đề có liên quan:

Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo, quá trình điều tra và tại phiên tòa không xác định được, nên HĐXX không có cơ sở để xem xét, xử lý.

[6] Về vật chứng của vụ án:

Số ma túy còn lại có khối lượng H1: 0,09 gam; M1: 0,06 gam là vật cấm tàng trữ cần tịch thu tiêu hủy.

[7] Về án phí:

Bị cáo thuộc hộ nghèo (Giấy chứng nhận hộ nghèo, hộ cận nghèo số 123/GCN-HN.HCN ngày 10/01/2023 của UBND thị trấn T) nên miễn toàn bộ án phí cho bị cáo theo điểm đ khoản 1 điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

[8] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm i khoản 1 điều 249 của Bộ luật hình sự

  1. Tuyên bố: Bị cáo Cà Văn M phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  2. Hình phạt: Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự,

    Xử phạt bị cáo Cà Văn M 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/6/2024.

  3. Về vật chứng vụ án:

    Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

    Tịch thu tiêu hủy: Số ma túy còn lại có khối lượng H1: 0,09 gam; M1: 0,06 gam và toàn bộ các bao bì niêm phong.

    Số vật chứng trên cơ quan Thi hành án dân sự huyện T đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan điều tra Công an huyện và Chi cục thi hành án dân sự huyện T.

  4. Về án phí:

    Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án: Miễn toàn bộ án phí hình sự cho bị cáo.

  5. Kháng cáo:

    Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự, Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 20/9/2024).

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện T;
  • - VKSND tỉnh Điện Biên;
  • - Bộ phận hồ sơ NV- CA huyện T;
  • - Cơ quan CSĐT- CA huyện T;
  • - Cơ quan THAHS huyện, tỉnh;
  • - TAND tỉnh Điện Biên;
  • - Sở Tư Pháp tỉnh Điện Biên;
  • - THADS huyện T;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HSVA, HSTHA.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Trương Anh Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 61/2024/HS-ST ngày 20/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỦA CHÙA, TỈNH ĐIỆN BIÊN về hình sự sơ thẩm về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 61/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỦA CHÙA, TỈNH ĐIỆN BIÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy bị bắt quả tang
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger