|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LƯƠNG SƠN TỈNH HÒA BÌNH Bản án số: 61/2024/HS-ST Ngày 20-8-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LƯƠNG SƠN
|
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: |
|
|
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: |
Bà Trần Minh Thêu |
|
Các Hội thẩm nhân dân: |
Ông Phùng Văn Lợi Bà Nguyễn Thị Thu Hà |
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Kim Trường Sơn- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lương Sơn tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Đông - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 63/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 64/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Trần Thị H
(tên gọi khác: Không), sinh ngày 16/4/1964 tại L - Hòa Bình.
Nơi cư trú: thôn C, xã T, huyện L, tỉnh Hòa Bình; nghề nghiệp: Hưu trí; trình độ văn hóa (học vấn): 10/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Đình T (đã chết), con bà Nguyễn Thị U, sinh năm 1932; Có chồng là Nguyễn Duy H1, sinh năm 1960; có 02 con, lớn nhất sinh năm 1988, nhỏ nhất sinh năm 1993; bị cáo là con thứ tư trong gia đình có tám chị em.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/11/2023 đến 04/01/2024; hiện tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Anh Nguyễn Văn V, sinh năm 1985; trú tại: thôn H, xã T, huyện L, tỉnh Hòa Bình. Có mặt.
+ Ông Nguyễn Duy H1, sinh năm 1960; trú tại: thôn C, xã T, huyện L, tỉnh Hòa Bình. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 07/11/2023 Cơ quan CSĐT Công an huyện L, Hòa Bình tiến hành tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú đối với Trần Thị H, SN 1964, nơi thường trú: thôn C, T, L, Hòa Bình về hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự. Quá trình điều tra xác định: Từ ngày 10/6/2022 đến khi phát hiện ngày 07/11/2023 Trần Thị H, SN 1964, nơi thường trú: thôn C, T, L, Hòa Bình cho Nguyễn Văn V, sinh năm 1985, nơi thường trú: thôn H, xã T, huyện L, tỉnh Hòa Bình vay tiền cụ thể như sau:
- Lần 1: + Từ ngày 10 tháng 6 năm 2022 đến ngày 20 tháng 6 năm 2022 (10 ngày) Trần Thị H cho Nguyễn Văn V vay số tiền 700.000.000 đồng (Bảy trăm triệu đồng) có giấy vay tiền, H và Viện Thỏa thuận lãi suất khoản vay bằng miệng là 3.500 đồng /1.000.000 đồng /1 ngày. Vay bằng tiền mặt, tiền lãi trả qua chuyển khoản ngân hàng từ tài khoản của Nguyễn Văn V đến tài khoản của Trần Thị H. Tổng số tiền lãi Viện đã trả cho H số tiền: 24.500.000 đồng (Hai mươi bốn triệu năm trăm nghìn đồng). Lãi suất quy đổi phần trăm năm là 127,75 %/năm, lãi xuất vượt so với lãi xuất quy định của bộ luật dân sự là 6,39 lần. Số tiền lãi tối đa theo Bộ luật dân sự là 3.835.616 đồng (Ba triệu tám trăm ba mươi năm nghìn sáu trăm mười sáu đồng); số tiền vượt so với mức tối đa theo bộ luật dân sự là: 20.664.384 đồng (Hai mươi triệu sáu trăm sáu mươi tư nghìn, ba trăm tám mươi tư đồng).
+ Do chưa có tiền trả nên đã gia hạn khoản vay trên từ ngày 20 tháng 6 năm 2022 đến ngày 07 tháng 7 năm 2022 (17 ngày), tổng số tiền lãi Viện đã trả cho H số tiền: 35.000.000 đồng (Ba mươi năm triệu đồng). Lãi suất quy đổi phần trăm năm là 107,35 %/năm, lãi suất vượt so với lãi xuất quy định của bộ luật dân sự là 5,37 lần. Số tiền lãi tối đa theo Bộ luật dân sự là 6.520.548 đồng (Sáu triệu năm trăm hai mươi nghìn, năm trăm bốn mươi tám đồng); số tiền vượt so với mức tối đa theo bộ luật dân sự là: 28.479.452 đồng (Hai mươi tám triệu bốn trăm bảy mươi chín nghìn, bốn trăm năm mươi hai đồng). Chưa trả tiền gốc.
Tổng số tiền Trần Thị H cho Nguyễn Văn V vay từ ngày 10 tháng 6 năm 2022 đến ngày 07 tháng 7 năm 2022 là 700.000.000đ (bảy trăm triệu đồng). Tổng số tiền lãi Viện đã trả cho H là 59.500.000đ (năm mươi chín triệu năm trăm nghìn đồng), trong đó: Số tiền lãi tối đa theo Bộ luật dân sự là 10.356.164 đồng (mười triệu ba trăm năm mươi sáu nghìn một trăm sáu mươi tư đồng); số tiền vượt so với mức tối đa theo bộ luật dân sự là: 49.143.836 đồng (bốn mươi chín triệu một trăm bốn mươi ba nghìn tám trăm ba mươi sáu đồng).
- Lần 2: + Ngày 07 tháng 07 năm 2022, Nguyễn Văn V có vay thêm của Trần Thị H 700.000.000 đồng (Bảy trăm triệu đồng). Tổng số tiền Nguyễn Văn V đã vay của Trần Thị H là 1.400.000.000 đồng (Một tỷ bốn trăm triệu đồng). Đến ngày 18 tháng 11 năm 2022, tổng số tiền lãi Viện đã trả cho H số tiền: 443.000.000 đồng (Bốn trăm bốn mươi ba triệu đồng). Lãi suất quy đổi phần trăm năm là 86,19 %/năm, lãi suất vượt so với lãi suất quy định của bộ luật dân sự là 4,31 lần. Số tiền lãi tối đa theo Bộ luật dân sự là 102.794.521 đồng (Một trăm linh hai triệu, bảy trăm chín mươi tư nghìn, năm trăm hai mươi mốt đồng); số tiền vượt so với mức tối đa theo bộ luật dân sự là: 340.205.479 đồng (Ba trăm linh bốn triệu, hai trăm linh năm nghìn, bốn trăm bảy mươi chín đồng). Chưa trả gốc.
+ Ngày 18 tháng 11 năm 2022 đến ngày 06 tháng 03 năm 2023 (108 ngày) Viện còn vay số tiền 1.400.000.000 đồng (Một tỷ bốn trăm triệu đồng) đây là số tiền vay của khoản vay ngày 10/6/2022 cộng với số tiền vay ngày 07/7/2022. Đến ngày 06 tháng 03 năm 2023, tổng số tiền lãi Viện đã trả cho H số tiền: 155.000.000 đồng (Một trăm năm mươi năm triệu đồng). Lãi suất quy đổi phần trăm năm là 37,42 %/năm, lãi suất vượt so với lãi suất quy định của bộ luật dân sự là 1.87 lần. Số tiền lãi tối đa theo Bộ luật dân sự là 82.849.315 đồng (T1 mươi hai triệu, tám trăm bốn mươi chín nghìn, ba trăm mười năm nghìn đồng); số tiền vượt so với mức tối đa theo bộ luật dân sự là: 72.150.682 đồng (Bảy mươi hai triệu, mộ trăm năm mươi nghìn, sáu trăm tám mươi hai đồng).
- Lần 3: Ngày 16 tháng 11 năm 2022, Nguyễn Văn V có vay thêm của Trần Thị H số tiền 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng), khoản vay này không viết giấy tờ, thỏa thuận miệng tiền lãi là 5.000 đồng (Năm nghìn đồng)/1.000.000 đồng/1 ngày vay trong 07 ngày. Số tiền vay chuyển khoản từ tài khoản của Nguyễn Duy H1 đến tài khoản của Nguyễn Văn V. Sau 02 ngày (ngày 18/11/2022) Nguyễn Văn V đã tất toán tiền gốc và tiền lãi khoản vay. Đến ngày 18 tháng 11 năm 2022
trả trước hạn số tiền gốc và số tiền lãi, tổng số tiền lãi V đã trả cho H số tiền: 17.500.000 đồng (Mười bảy triệu năm trăm nghìn đồng) tiền lãi tính đủ 07 ngày theo thỏa thuận. Lãi suất quy đổi phần trăm năm là 182.5 %/năm, lãi suất vượt so với lãi suất quy định của bộ luật dân sự là 9,13 lần. Số tiền lãi tối đa theo Bộ luật dân sự là 1.917.808 đồng (Một triệu chín trăm mười bảy nghìn, tám trăm linh tám đồng); số tiền vượt so với mức tối đa theo bộ luật dân sự là: 15.582.192 đồng (Mười năm triệu, năm trăm tám mươi hai nghìn, một trăm chín mươi hai đồng).
- Lần 4: Ngày 12 tháng 12 năm 2022 Trần Thị H cho Nguyễn Văn V vay số tiền 400.000.000 đồng (Bốn trăm triệu đồng), H và Viện Thỏa thuận lãi suất khoản vay bằng miệng là 3.500 đồng /1.000.000 đồng /1 ngày. Khoản vay này V chưa trả và tiền lãi và tiền gốc cho H.
- Lần 5: Ngày 14 tháng 12 năm 2022 Trần Thị H cho Nguyễn Văn V vay số tiền 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng), H và Viện Thỏa thuận lãi suất khoản vay bằng miệng là 3.500 đồng /1.000.000 đồng /1 ngày. Khoản vay này V chưa trả và tiền lãi và tiền gốc cho H.
Tổng số tiền bị can Trần Thị H sử dụng để cho vay lãi nặng là 2.500.000.000₫ (Hai tỷ năm trăm triệu đồng) gồm các khoản vay 700.000.000 đồng ngày 10/6/2022; 700.000.000 đồng ngày 07/7/2022; 500.000.000 đồng ngày 16/11/2022; 400.000.000 đồng ngày 12/12/2022; 200.000.000 đồng ngày 14/12/2022. Các khoản vay trên H và Viện đều thỏa thuận lãi suất khoản vay bằng miệng là từ 3.500 đồng đến 5.000 đồng/1.000.000 đồng /1 ngày. Đến nay anh Bùi Văn V1 đã trả cho Trần Thị H 1.050.000.000đ (một tỷ không trăm năm mươi triệu đồng) tiền nợ gốc.
Tổng số tiền bị can Trần Thị H cho Nguyễn Văn V vay thu lãi vượt quá 05 (năm) lần theo quy định của bộ luật tố tụng dân sự là 1.200.000.000đ (một tỷ hai trăm triệu đồng) gồm các khoản vay 700.000.000 đồng từ ngày 10/6/2022 đến ngày 07/7/2022 (mới thanh toán tiền lãi chưa trả gốc) và khoản vay 500.000.000 đồng ngày 11/6/2022 (đã trả cả gốc và lãi). Trong đó Tổng số tiền lãi Viện đã trả cho H là 77.000.000₫ (Bảy mươi bảy triệu đồng), trong đó: Số tiền lãi tối đa theo Bộ luật dân sự là 12.273.972 đồng (mười hai triệu hai trăm bảy mươi ba nghìn chín trăm bảy mươi hai đồng); số tiền vượt so với mức tối đa theo bộ luật dân sự là: 64.726.028đ (sáu mươi tư triệu bảy trăm hai mươi sáu đồng không trăm hai mươi tám đồng);
Tổng số tiền bị can Trần Thị H cho Nguyễn Văn V vay thu lãi dưới 05 (năm) lần theo quy định của bộ luật tố tụng dân sự là 1.400.000.000đ (một tỷ bốn trăm triệu đồng) gồm các khoản vay 700.000.000 đồng ngày 10/6/2022 (chưa trả) và khoản vay 700.000.000 đồng ngày 07/7/2022. Trong đó Tổng số tiền lãi V đã trả cho H đến ngày 06/3/2023 là 598.000.000đ (năm trăm chín mươi tám triệu đồng), trong đó: Số tiền lãi tối đa theo Bộ luật dân sự là 184.642.836 đồng; số tiền vượt so với mức tối đa theo bộ luật dân sự là: 412.356.161 đồng.
Tổng số tiền bị can Trần Thị H cho Nguyễn Văn V vay Viện chưa trả lãi là 600.000.000₫ (Sáu trăm triệu đồng) gồm các khoản vay 400.000.000 đồng ngày 12/12/2022 và khoản vay 200.000.000 đồng ngày 14/12/2022.
Cáo trạng số 58/CT-VKSLS ngày 18/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình truy tố Trần Thị H về tội: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự theo khoản 1 Điều 201 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình giữ nguyên quyết định truy tố, phân tích đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả, hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 201; điểm s, i khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 20 đến 30 tháng cải tạo không giam giữ.
Áp dụng khoản 3 Điều 201 Bộ luật Hình sự phạt bổ sưng bị cáo từ 40.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng.
Truy thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền: 2.500.000.000 đồng từ bị cáo H và anh Nguyễn Văn V; truy thu số tiền lãi tối đa theo Bộ luật Dân sự là: 12.273.972 đồng.
Tạm giữ số tiền 50.000.000 đồng bị cáo đã nộp để đảm bảo thi hành án.
Bị cáo Trần Thị H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ và quá trình thẩm tra tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát điều tra, của Điều tra viên công an huyện L, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lương Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo Trần Thị H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp toàn bộ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ 10/6/2022 đến ngày 14/12/2022 Trần Thị H đã cho anh Nguyễn Văn V vay 05 lần tiền với tổng số tiền là 2.500.000.000 đồng thỏa thuận lãi suất từ 3.500 đồng/1.000.000 đồng/1 ngày đến 5.000 đồng/1.000.000 đồng/1 ngày tương đương với mức lãi suất từ 37,42% đến 182,5%/ năm gấp 1,87 lần đến 9,13 lần lãi suất cao nhất (20%) quy định của Bộ luật Dân sự. Trong đó tổng số tiền Trần Thị H cho anh V vay thu lãi vượt quá 05 lần theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự là 1.200.000.000 đồng gồm các khoảng vay: 700.000.000 đồng từ 10/6/2022 đến 07/7/2022 và khoản vay 500.000.000 đồng ngày 11/6/2022 (đã trả gốc và lãi). Tổng số tiền lãi V đã trả cho H là 77.000.000 đồng, trong đó: số tiền lãi tối đa theo Bộ luật Dân sự là 12.273.972 đồng; số tiền vượt so với mức tối đa theo Bộ luật Dân sự là 64.726.028 đồng. Số tiền bị cáo thu lãi dưới 5 lần lần theo quy định của bộ luật tố tụng dân sự là 1.400.000.000 đồng gồm các khoản vay 700.000.000 đồng ngày 10/6/2022 (chưa trả) và khoản vay 700.000.000 đồng ngày 07/7/2022. Trong đó Tổng số tiền lãi V đã trả cho H đến ngày 06/3/2023 là 598.000.000 đồng, trong đó: Số tiền lãi tối đa theo Bộ luật dân sự là 184.642.836 đồng; số tiền vượt so với mức tối đa theo bộ luật dân sự là: 412.356.161 đồng.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình truy tố bị cáo về tội: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự theo quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội của bị cáo:
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi cho vay lãi nặng bị pháp luật nghiêm cấm, nhưng vì mục đích vụ lợi bị cáo vẫn cố tình thực hiện hành vi cho anh Nguyễn Văn V vay 5 lần với tổng số tiền là 2.500.000.000 đồng với mức lãi suất vượt quá mức lãi suất cao nhất theo quy định.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước trong lĩnh vực tài chính, tín dụng mà hành vi phạm tội của bị cáo còn làm cho người vay lâm vào hoàn cảnh khó khăn do phải trả lãi quá cao, làm ảnh hưởng đến công tác đấu tranh phòng chống các tệ nạn xã hội. Do vậy cần phải có một mức án tương xứng với tính chất mức độ, hậu quả hành vi các bị cáo thực hiện để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
- - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong suốt quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự; có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, sau khi phạm tội đã ra đầu thú; bị cáo đã nộp một khoản tiền để khắc phục hậu quả; bị cáo có thân nhân là người có công với cách mạng, bản thân bị cáo trong quá trình công tác cũng được tặng thưởng giấy khen.... đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cần xem xét áp dụng cho bị cáo.
[5] Về hình phạt bổ sung: Xét tính chất của vụ án cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 3 Điều 201 Bộ luật hình sự.
[6] Các biện pháp tư pháp khác:
Đối với số tiền gốc 2.500.000.000 đồng bị cáo cho anh Nguyễn Văn V vay lãi nặng đây là tiền bị cáo dùng vào việc phạm tội cần truy thu sung công quỹ Nhà nước cụ thể:
- - Truy thu từ bị cáo Trần Thị H số tiền: 1.050.000.000 đồng là tiền gốc anh Nguyễn Văn V đã trả cho bị cáo.
- - Truy thu từ anh Nguyễn Văn V số tiền: 1.450.000.000 đồng nợ gốc anh Nguyễn Văn V chưa trả cho bị cáo Trần Thị H.
Đối với số tiền lãi tối đa theo Bộ luật Dân sự là 12.273.972 đồng là số tiền do phạm tội mà có cần truy thu sung công quỹ Nhà nước từ bị cáo.
Đối với số tiền lãi vượt quá so với mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự mà anh V đã trả cho bị cáo Trần Thị H. Anh V không yêu cầu bị cáo H trả lại nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về các vấn đề khác trong vụ án:
Đối với Nguyễn Duy H1 là chồng của bị cáo H, quá trình chung sống ông H1 biết H cho vay tiền, tuy nhiên không biết lãi suất nên Nguyễn Duy H1 không đồng phạm về hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự cùng bị cáo.
Đối với Nguyễn Tử H2, sinh năm 1944; trú tại: T, C, L, Hòa B là người cho bị cáo Trần Thị H vay tiền với lãi suất từ 1,7 đến 2%/ tháng không vượt quá mức lãi suất do Bộ luật Dân sự quy định, ông H2 không biết việc H vay tiền để làm gì, nên ông H2 không liên quan đến vụ án này.
Đối với những người đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Cơ quan điều tra xác định là vấn đề dân sự giữa người đứng tên và Nguyễn Văn V không liên quan đến vụ án này.
Đối với số tiền 50.000.000 đồng ông Nguyễn Duy H1 đã nộp để khắc phục thay cho bị cáo, ông H1 không có yêu cầu, đề nghị gì đối với bị cáo cáo về số tiền này nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về vật chứng của vụ án:
Đối với 04 giấy vay tiền ngày 10/6/2022; ngày 07/7/2022; ngày 12/12/2022 và ngày 14/12/2022 của Nguyễn Văn V, xét đây là chứng cứ điều tra cần lưu giữ trong hồ sơ vụ án.
Đối với 26 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được Cơ quan điều tra trả lại cho chủ sở hữu và người liên quan nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với số tiền 50.000.000 đồng bị cáo đã nộp để khắc phục hậu quả cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Đối với chiếc điện thoại Samsung màu đen của bị cáo, bị cáo dùng để liên lạc và chuyển tiền trong quá trình cho vay lãi nặng, bị cáo đã làm mất chiếc điện thoại, hiện cơ quan điều tra đang truy tìm, khi nào có kết quả sẽ xử lý sau.
[8] Về án phí: Bị cáo Trần Thị H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Trần Thị H phạm tội: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự.
1. Về trách nhiệm hình sự:
- - Căn cứ khoản 1 Điều 201; điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự;
- Xử phạt bị cáo Trần Thị H 24 (Hai mươi tư) tháng cải tạo không giam giữ. Được khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/11/2023 đến 04/01/2024.
- - Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 3 Điều 201 Bộ luật hình sự: Phạt bổ sung bị cáo 50.000.000 (Năm mươi triệu) đồng sung quỹ Nhà nước.
Thời hạn cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện L, tỉnh Hòa Bình nhận được quyết định thi hành án.
Giao bị cáo Trần Thị H cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Hòa Bình để giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Người bị kết án Cải tạo không giam giữ thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 Luật thi hành án Hình sự.
2. Về vật chứng, các biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46; Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- - Truy thu sung vào ngân sách Nhà nước từ bị cáo Trần Thị H số tiền gốc cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự là: 1.050.000.000 (Một tỷ, không trăm năm mươi triệu đồng) và tiền lãi phát sinh do phạm tội mà có là: 12.273.972 (Mười hai triệu, hai trăm bảy mươi ba nghìn, chín trăm bảy mươi hai) đồng. Tổng cộng là: 1.062.273.972 (Một tỷ, không trăm sáu mươi hai triệu, hai trăm bảy mươi ba nghìn, chín trăm bảy mươi hai) đồng.
- - Truy thu sung vào ngân sách Nhà nước từ anh Nguyễn Văn V, sinh năm 1985; trú tại: thôn H, xã T, huyện L, tỉnh Hòa Bình số tiền: 1.450.000.000 (Một tỷ, bốn trăm năm mươi triệu) đồng.
- - Bảo thủ số tiền 50.000.000 (Năm mươi triệu) đồng bị cáo đã nộp để đảm bảo thi hành án.
(Chi tiết vật chứng được thể hiện tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 29/7/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L, tỉnh Hòa Bình và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình.)
3. Về án phí: Bị cáo Trần Thị H phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Minh Thêu |
10
11
Bản án số 61/2024/HS-ST ngày 20/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LƯƠNG SƠN, TỈNH HÒA BÌNH về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Số bản án: 61/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LƯƠNG SƠN, TỈNH HÒA BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Thị Huệ 201
