Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ GIA NGHĨA

TỈNH ĐẮK NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 61/2024/HS-ST

Ngày: 19-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ GIA NGHĨA, TỈNH ĐẮK NÔNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Huế

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Đinh Xuân Đông.
  2. Bà H'Loan.

Thư ký phiên tòa: Ông Lương Quốc Chương - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Cẩm Tú - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 61/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 55/2024/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 7 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 39/2024/HSST-QĐ ngày 14 tháng 8 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 45/2024/HSST-QĐ ngày 13 tháng 9 năm 2024, đối với các bị cáo:

  1. Đỗ Văn T, sinh năm 2004, tại tỉnh Đắk Lắk; Nơi cư trú: Thôn F, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 06/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông Đỗ Xuân H và bà Đỗ Thị M; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/01/2024; đang tạm giam - có mặt.
  2. Phạm Lê Thu N, sinh năm 2002, tại tỉnh Đắk Lắk; Nơi cư trú: Thôn G, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; con ông Phạm Ngọc H1 và bà Lê Thị H2; chưa có chồng, con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ từ ngày 28/01/2024 đến ngày 03/02/2024 được tại ngoại; đang tại ngoại - có mặt.

- Bị hại:

  1. Anh Nguyễn Thế H3 (vắng mặt – có đơn xin vắng mặt) và chị Phạm Thị Thu H4 (vắng mặt); cùng địa chỉ: Tổ dân phố T, phường Q, thành phố G, tỉnh Đắk Nông.
  2. Chị Nguyễn Thị H5; địa chỉ: Tổ dân phố N, phường Q, thành phố G, tỉnh Đắk Nông. Vắng mặt – có đơn xin vắng mặt.

2

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Lê Sỹ V, sinh năm 1986; địa chỉ: Khu phố A, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương – vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 11/12/2022, Đỗ Văn T và Phạm Lê Thu N (là bạn gái của T) đến phòng trọ của chị Phạm Thị Thu H4 (Sinh năm 1997 là chị gái cùng mẹ khác cha của T) tại tổ dân phố T, phường Q, thành phố G, để chơi và ở lại đây. Hàng ngày, anh Nguyễn Thế H3 (Sinh năm 1991 là chồng của chị H4) và chị H4 đi vào rẫy tại tổ dân phố N, phường Q để làm, còn T và N ở lại phòng trọ chơi; thỉnh thoảng T có vào rẫy phụ giúp vợ chồng chị H4 làm rẫy.

Đến sáng ngày 17/12/2022, vợ chồng anh H3 có công việc nên đi ra ngoài để xe mô tô 48K1 – 085.52 ở phòng trọ và chìa khóa xe treo trên vách tường. Đến khoảng 11 giờ trưa cùng ngày, T rủ N đi Thành phố Hồ Chí Minh thì N nói không có tiền, nên T nói có thấy anh H3 đưa cho chị H4 01 phiếu ký gửi cà phê, lấy phiếu đi đổi lấy tiền thì N đồng ý. Sau đó, T lục trong túi xách màu đỏ treo trên vách tường phòng trọ lấy phiếu cân cà phê thì thấy 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô BKS 48K1 – 085.52 nên T nảy sinh ý định lấy trộm xe mô tô BKS 48K1 – 085.52 để làm phương tiện đi lại; T không nói cho N biết việc T lấy trộm giấy chứng nhận đăng ký xe và xe mô tô BKS 48K1 – 085.52. Sau đó, T điều khiển xe mô tô BKS 48K1 – 085.52 đến tiệm T3 tại tổ dân phố N, phường Q. Tại đây, T đưa cho chị Nguyễn Thị H5 (Sinh năm 1989, chủ đại lý G) 01 phiếu ký gửi với nội dung “người gửi: Anh H3; Mặt hàng gửi cà phê nhân xô; số lượng: 500kg” và giới thiệu T là em vợ của anh H3, do gia đình có việc gấp cần tiền, anh H3 đang ở Kiến Đức nên nhờ T đem phiếu đến bán lấy tiền. Thấy vậy, chị H5 nói “bảo anh H3 gọi điện cho chị”, thì T có mượn điện thoại của chị H5 gọi điện cho N, rồi ra về.

Sau đó, T về phòng trọ trao đổi với N, T nói N giả làm chị H4 gọi điện để cho chị H5 tin tưởng, thì N đồng ý. N lấy số điện thoại 0388.506.xxx gọi vào số điện thoại 0975.233.xxx của chị H5 và nói “em tên là H4, vợ anh H3, khi nãy nhờ thằng em đến bán cà phê mà chị không cho à”, thì chị H5 trả lời “đúng rồi, phiếu tên của H3 thì anh H3 gọi”, nghe vậy N nói “cần gặp anh H3 thì chị gọi giúp em vào số điện thoại 0374.093.xxx” rồi tắt máy. Lúc này, chị H5 gọi vào số điện thoại trên để xác nhận thì T tự nhận mình là H3, tin tưởng nên chị H5 nói T đến nhận tiền. Sau đó, T và N thu dọn đồ đạc, T điều khiển xe mô tô BKS 48K1 – 085.52 chở N đến một quán nước trên đường Q, rồi một mình đi đến đại lý G để lấy tiền. Tại đây, chị H5 đưa cho T số tiền 20.100.000đ (thời điểm này giá cà phê là 40.200đ/kg) và ghi chữ “R” trên phiếu ký gửi rồi đưa lại cho T cầm. Sau đó, T chở N xuống thành phố T, tỉnh Bình Dương, trên đường đi T có nói cho N biết số tiền chiếm đoạt. Vài ngày sau T rủ N đến tiệm cầm đồ T1 Hội N1 (do

3

anh Lê Sỹ V làm chủ) tại Khu phố B, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương, để cầm cố xe mô tô BKS 48K1 – 085.52; do trước đó, N có cầm cố giấy phép lái xe tại tiệm cầm đồ này nên N đồng ý đi với T. Tại đây, anh V hỏi về nguồn gốc xe mô tô thì T nói là xe Tuyên mua lại, thấy giấy tờ xe hợp pháp nên anh V đồng ý cầm cố xe mô tô với giá 6.000.000đ. Đối với số tiền này, T sử dụng vào mục đích tiêu xài cá nhân.

Ngày 25/12/2022, anh Nguyễn Thế H3 và chị Nguyễn Thị H5 làm đơn tố giác đến Công an phường Q để giải quyết.

Tại kết luận định giá tài sản số 04/BB-HĐĐG ngày 15/02/2023 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự TP., kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha loại Sirius, số máy 5C6K321707, số khung RLCS5C6K0GY321699, biển kiểm soát 48K1-085.52 màu sơn xanh đen, trị giá 4.000.000đ tại thời điểm ngày 17/12/2022.

Cáo trạng số: 22/CT-VKS-GN ngày 22-3-2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông truy tố Đỗ Văn T về các tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự và tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự; truy tố Phạm Lê Thu N về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

Ngày 03-6-2024, tại Quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung số 06/2024/HSST-QĐ, Hội đồng xét xử đã trả hồ sơ để điều tra bổ sung để làm rõ các bị cáo Đỗ Văn TPhạm Lê Thu N có hành vi “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” của chị Phạm Thị Thu H4 và anh Nguyễn Thế H3 hay không.

Tại Cáo trạng số: 58/CT-VKS-GN ngày 12-7-2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông giữ nguyên truy tố Đỗ Văn T về các tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự và tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự; truy tố Phạm Lê Thu N về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, thừa nhận cáo trạng truy tố các bị cáo là đúng pháp luật, không oan.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo. Sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn T phạm các tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Trộm cắp tài sản”; bị cáo Phạm Lê Thu N phạm tội “Trộm cắp tài sản".

Áp dụng khoản 1 Điều 173, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Đỗ Văn T từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

4

Áp dụng khoản 1 Điều 174, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Đỗ Văn T từ 01 năm tù đến 01 năm 03 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Áp dụng Điều 55 của Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt của hai tội, buộc bị cáo Đỗ Văn T phải chấp hành hình phạt chung của hai tội từ 01 năm 09 tháng tù đến 02 năm 03 tháng tù.

Áp dụng khoản 1 Điều 174, các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Lê Thu N từ 09 tháng đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có việc làm và thu nhập ổn định nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

  • 01 file video có tên 20221217141113_202212171418574, dung lượng 87,3MB và 01 file video có tên 20221217144910_20221217145242, dung lượng 39,8MB, do chị Nguyễn Thị H5 giao nộp, chứa hình ảnh liên quan đến vụ án. Chuyển kèm hồ sơ vụ án.
  • Đối với xe mô tô BKS 48K1 – 085.52, T cầm cố cho anh Lê Sỹ V, đến hết thời hạn T không đến lấy tài sản nên anh V đã bán xe mô tô cho người khác. Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng không thu giữ được.

Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận việc các bị cáo Đỗ Văn TPhạm Lê Thu N đã bồi thường cho bị hại chị Nguyễn Thị Hằng s tiền 20.100.000 đồng, bị cáo Đỗ Văn T đã bồi thường cho bị hại anh Nguyễn Thế H3 và chị Phạm Thị Thu H4 số tiền 4.000.000 đồng. Sau khi nhận tiền bồi thường, những người bị hại không có yêu cầu gì thêm nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Các bị cáo không bào chữa gì về hành vi phạm tội của mình, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Quá trình điều tra và tại phiên toà ngày 03 tháng 6 năm 2024 các bị cáo và người bị hại có lời khai mâu thuẫn, vì vậy Hội đồng xét xử đã trả hồ sơ

5

điều tra bổ sung liên quan đến việc xác định có hành vi “Lạm dụng chiếm đoạt tài sản” của bị cáo T và N hay không. Sau khi điều tra bổ sung, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố tại Cáo trạng số: 58/CT-VKS-GN ngày 12-7-2024.

Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội đúng như lời khai tại cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác lưu tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa nên có căn cứ xác định: Ngày 17/12/2022, tại tổ dân phố T, phường Q, thành phố G, Đỗ Văn TPhạm Lê Thu N đưa ra thông tin gian dối để chị Nguyễn Thị H5 tin tưởng, rồi chiếm đoạt số tiền 20.100.000đ (Hai mươi triệu một trăm nghìn đồng).

Cùng thời điểm này, tại tổ dân phố T, phường Q, thành phố G, Đỗ Văn T trộm cắp 01 xe mô tô biển kiểm soát 48K1-085.52 của anh Nguyễn Thế H3 và chị Phạm Thị Thu H4, giá trị tài sản trộm cắp là 4.000.000đ (Bốn triệu đồng).

Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và nhận thức được việc xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng các bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Do đó, đủ căn cứ kết luận bị cáo Đỗ Văn TPhạm Lê Thu N phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự.

Bị cáo Đỗ Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định:

1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

...

[3] Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, vì mục đích vụ lợi muốn có tiền tiêu xài mà không phải bỏ ra công sức lao động chân chính, các bị cáo vẫn bất chấp pháp luật thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của bị hại, gây mất an ninh trật tự ở địa phương. Do đó, cần xử phạt các bị cáo hình phạt tù đủ nghiêm, tương xứng với tính chất mức độ phạm tội của các bị cáo nhằm trừng trị và giáo dục các bị cáo ý

6

thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa các bị cáo phạm tội mới, đồng thời góp phần phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả; các bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Do đó, các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra bị cáo N phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[6] Về vai trò thực hiện hành vi phạm tội: Trong vụ án có 02 bị cáo cùng thực hiện hành vi phạm tội nhưng chỉ là đồng phạm giản đơn, trong đó bị cáo T là người rủ rê bị cáo N cùng thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của chị H5. Do đó, cần xử phạt bị cáo T mức hình phạt cao hơn bị cáo N trên cơ sở cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ của các bị cáo.

Xét thấy, bị cáo N có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, nhân thân tốt và có nơi cư trú ổn định, rõ ràng nên có đủ các điều kiện được cho hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự và hướng dẫn áp dụng Điều 65 tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018, Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Do đó, không cần phải cách ly bị cáo N ra khỏi đời sống xã hội mà có thể cho bị cáo được hưởng án treo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú và gia đình, cũng đảm bảo được mục đích của hình phạt và nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[7] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có tài sản, không có việc làm và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[8] Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận việc các bị cáo Đỗ Văn TPhạm Lê Thu N đã bồi thường cho bị hại chị Nguyễn Thị Hằng s tiền 20.100.000 đồng, bị cáo Đỗ Văn T đã bồi thường cho bị hại anh Nguyễn Thế H3 và chị Phạm Thị Thu H4 số tiền 4.000.000 đồng.

[9] Về xử lý vật chứng:

  • Lưu hồ sơ vụ án 01 file video có tên 20221217141113_202212171418574, dung lượng 87,3MB và 01 file video có tên 20221217144910_20221217145242, dung lượng 39,8MB, do chị Nguyễn Thị H5 giao nộp, chứa hình ảnh liên quan đến vụ án.
  • Đối với xe mô tô BKS 48K1 – 085.52, T cầm cố cho anh Lê Sỹ V, đến hết thời hạn T không đến lấy tài sản nên anh V đã bán xe mô tô cho người khác. Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng không thu giữ được.

7

[10] Đối với Phạm Lê Thu N có hành vi cùng Đỗ Văn T đem xe mô tô BKS 48K1 – 085.52 đi cầm cố, tuy nhiên N không biết đây là tài sản trộm cắp, N không tham gia bàn bạc, trao đổi với T để thực hiện hành vi Trộm cắp tài sản. Do đó, không đề cập xử lý.

Đối với anh Lê Sỹ V chủ tiệm cầm đồ T1 Hội N1 có hành vi cầm cố xe mô tô BKS 48K1 – 085.52, tuy nhiên anh V không biết đây là tài sản Đỗ Văn T trộm cắp mà có. Do đó, không đề cập xử lý.

[11] Tại phiên tòa, xét quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông là có căn cứ chấp nhận.

[12] Về án phí: Các bị cáo phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[13] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Văn T phạm các tội “Trộm cắp tài sản” và “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; bị cáo Phạm Lê Thu N phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

1.1. Áp dụng khoản 1 Điều 174, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đỗ Văn T 01(Một) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

1.2. Áp dụng khoản 1 Điều 173, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đỗ Văn T 09 (Chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

1.3. Áp dụng khoản 1 Điều 55 của Bộ luật Hình sự: Tổng hợp hình phạt của hai tội, buộc bị cáo Đỗ Văn T phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 01 (Một) năm 09 (Chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 29-01-2024.

1.4. Áp dụng khoản 1 Điều 174, các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Lê Thu N 10 (Mười) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (Một) năm 08 (T2) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo cho Phạm Lê Thu N Ủy ban nhân dân xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú, thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp

8

thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

2. Về xử lý vật chứng: Lưu hồ sơ vụ án 01 file video có tên 20221217141113_202212171418574, dung lượng 87,3MB và 01 file video có tên 20221217144910_20221217145242, dung lượng 39,8MB, do chị Nguyễn Thị H5 giao nộp, chứa hình ảnh liên quan đến vụ án.

3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 586, 589 của Bộ luật Dân sự: Chấp nhận việc các bị cáo Đỗ Văn TPhạm Lê Thu N đã bồi thường cho bị hại chị Nguyễn Thị Hằng s tiền 20.100.000 đồng, bị cáo Đỗ Văn T đã bồi thường cho bị hại anh Nguyễn Thế H3 và chị Phạm Thị Thu H4 số tiền 4.000.000 đồng.

4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc các bị cáo Đỗ Văn TPhạm Lê Thu N, mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đắk Nông;
  • - VKSND tỉnh Đắk Nông;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đắk Nông;
  • - Phòng PV06, PC10 Công an tỉnh Đắk Nông;
  • - VKSND thành phố Gia Nghĩa;
  • - Cơ quan CSĐT Công an TP. Gia Nghĩa;
  • - Phòng HS, NV CA thành phố Gia Nghĩa;
  • - Cơ quan THAHS Công an TP. Gia Nghĩa;
  • - CCTHADS thành phố Gia Nghĩa;
  • - UBND xã Ea Rốk, huyện Ea Súp, tỉnh Đắk Lắk;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Huế

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 61/2024/HS-ST ngày 19/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ GIA NGHĨA, TỈNH ĐẮK NÔNG về hình sự (tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và tội trộm cắp tài sản)

  • Số bản án: 61/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và Tội Trộm cắp tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ GIA NGHĨA, TỈNH ĐẮK NÔNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đỗ Văn T và Nguyễn Lê Thu N phạm tội "Lừa đào chiếm đoạt tài sản", "Trộm cắp tài sản".
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger