Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐÔNG HƯNG

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 61/2024/HNGĐ - ST

Ngày 19/8/2024

V/v tranh chấp hôn nhân gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có;

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Nhung

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hà Huy Khoa và bà Nguyễn Thị Hoa.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Huyền - Thư ký Tòa án

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Yến - Kiểm sát viên

Ngày 19 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 90/2024/TLST- HNGĐ ngày 05 tháng 6 năm 2024 về tranh chấp về hôn nhân gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 7 năm 2024, quyết định hoãn phiên tòa số 34 ngày 02/8/2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Phạm Thị T, Sinh năm: 1991;

Địa chỉ: Thôn A, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình.

Bị đơn: Anh Nguyễn Thế C, Sinh năm: 1989;

Địa chỉ: Thôn B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình.

(Các đương sự đều vắng mặt )

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn xin ly hôn ngày 03/5/2024 và trong quá trình tố tụng chị Phạm Thị T trình bày:

Chị và anh C kết hôn do tự nguyện có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình vào ngày 23/01/2015. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống bình thường đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn. nguyên nhân do vợ chồng tính tình không hợp nên thường xảy ra xô xát cãi cọ nhau. Đến tháng 4/2017 mâu thuẫn căng thẳng chị T đã bỏ về nhà mẹ đẻ tại xã A huyện Q sinh sống vợ chồng sống ly thân từ đó cho đến nay. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị nhất định xin được ly hôn anh C.

Về con chung: Chị và anh C có một con chung là Nguyễn Thị Ngọc A, sinh ngày 25/10/2015 hiện đang ở với anh C. Ly hôn chị cũng muốn nuôi con nhưng do cháu Ngọc A có nguyện vọng ở với anh C nên chị đề nghị giao cháu Ngọc A cho anh C tiếp tục nuôi dưỡng, chị cấp dưỡng nuôi con cùng anh C 1.000.000 đồng/tháng. Hiện nay chị làm công nhân thu nhập khoảng 6.000.000 đồng /tháng.

Về tài sản chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản.

Trong quá trình tố tụng ông Nguyễn Thế H là bố đẻ anh C trình bày: Chị T, anh C kết hôn do tự tìm hiểu đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống bình thường đến khi chị T sinh con được hơn một năm, không hiểu lý do tại sao chị T lại bỏ nhà đi để lại con cho anh C nuôi. Gia đình ông H và anh C không biết chị T đi đâu làm gì. Sau vài năm vợ chồng ly thân, anh C đã đến nhà bố mẹ đẻ chị T ở huyện Q để nói với gia đình chị T và muốn thông qua gia đình để thông báo cho chị T biết nếu không về chung sống với bố con anh C nữa thì về giải quyết ly hôn để giải phóng cho cả hai. Tuy nhiên chị T và gia đình chị T không hợp tác nên anh C không thể giải quyết ly với chị T được. Vợ chồng chị T, anh C đã sống ly thân đến nay cũng phải 8 – 9 năm. Nay chị T xin ly hôn gia đình ông mặc kệ chị T, anh C và pháp luật giải quyết, ông H không có ý kiến gì. Việc ly hôn hay đoàn tụ do anh C quyết định. Ông H không nhận thay anh H bất cứ tài liệu nào mà Tòa án giao.

Về con chung: Chị T, anh C có 01 con chung là Nguyễn Thị Ngọc A, sinh ngày 25/10/2015, cháu Ngọc A ở với anh C từ khi mới hơn 01 tuổi. Chị T bỏ con lại cho anh C nuôi nhưng không bao giờ hỏi han hay gửi tiền cho anh C nuôi con. Cháu Ngọc A hiện đang sinh sống cùng anh C và đi học tại trường tiểu học xã Đ. Nếu vợ chồng ly hôn đề nghị Tòa án cứ giải quyết theo pháp luật.

Về tài sản chung: Anh C, chị T không có tài sản chung. Khi chị T bỏ đi có mang theo 01 xe máy và một số tiền của ông H, nhưng nay ông H không yêu cầu chị T phải trả.

Hiện tại anh C đi làm công nhân tại công ty, anh C thường đi làm từ sáng đến tối mới về. Anh C biết việc chị T có đơn xin ly hôn anh nhưng bực tức với chị T do vài năm trước gây khó khăn cho anh nên anh C không nhận văn bản của Tòa án giao.

Tại biên bản xác minh ngày 15/7/2024 UBND xã Đ cung cấp: Anh C và chị T kết hôn có đăng ký tại xã Đ vào ngày 23/01/2015. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống bình thường đến khi chị T sinh con được trên một tuổi thì chị T bỏ đi không chung sống cùng anh C và con nữa. Việc chị T anh C mâu thuẫn không thể hiện ra bên ngoài, chưa khi nào anh C, chị T nhờ đoàn thể chính quyền hòa giải nên địa phương không nắm được nguyên nhân mâu thuẫn của anh C, chị T. Vợ chồng chị T, anh C ly thân đến nay cũng khoảng 8 – 9 năm. Khi Tòa án gửi các văn bản tống đạt cho anh C về việc chị T có đơn xin ly hôn anh C địa phương đã xuống tận gia đình anh C giao các văn bản của Tòa án cho anh C, có lần cán bộ xã trực tiếp gặp anh C đọc cho anh C nghe nội dung văn bản của Tòa án và tiến hành giao văn bản cho anh C nhưng anh C không nhận. Anh C đi làm công nhân tại công ty nên sáng đi làm và tối mới về nhà. Anh C đã biết việc chị T có đơn xin ly hôn anh, anh xác định tình cảm vợ chồng không còn nhưng cho rằng trước đây khi anh làm đơn xin ly hôn chị T không hợp tác còn gây khó dễ nên anh không giải quyết việc ly hôn với chị T được. Do vậy nay chị T xin ly hôn anh mặc kệ chị T địa phương đã cùng thư ký Tòa án niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng phát biểu quan điểm việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến khi nghị án đúng quy định của pháp luật việc chấp hành pháp luật của chị T, đã tuân thủ quy định của pháp luật, còn anh C chưa tuân thủ quy định của pháp luật.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a, khoản 1 Điều 39, Điều 35, Điều 146, Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu án, lệ phí Tòa án; Khoản 1 Điều 51, Điều 56, Luật Hôn nhân gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị T xử cho chị được ly hôn anh C. Về con chung: Giao con chung Nguyễn Thị Ngọc A cho anh C nuôi dưỡng, không đặt ra giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con chung do anh C chưa có yêu cầu. Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu nên không giải quyết. Về án phí: Buộc chị T phải chịu án phí và quyền kháng cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định.

[1] Về thủ tục tố tụng: Chị T vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt, anh C vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai mặc dù đã được triệu tập hợp lệ. Căn cứ vào khoản 2, Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng vẫn tiến hành xét xử vắng mặt chị T, anh C.

[2]Về quan hệ hôn nhân: Chị T, anh C kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính tình không hợp. tháng 4/2017 chị T chán nản đã bỏ về nhà mẹ đẻ sinh sống và sống ly thân với anh C. Nay chị T xác định vợ chồng không còn tình cảm chị kiên quyết xin ly hôn anh C. Anh C đã biết việc chị T có đơn ly hôn anh, đã đọc các văn bản tố tụng của Tòa án giao nhưng không nhận văn bản và cũng không đến Tòa án trình bày. Khi Tòa án mở phiên hòa giải anh C vẫn vắng mặt. Điều đó thể hiện việc anh C không thiết tha đoàn tụ, không muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng.

Xét thấy mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy cần chấp nhận nguyện vọng của chị T, xử cho chị T được ly hôn anh C là phù hợp với quy định của pháp luật và ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng tại phiên tòa.

[3] Về con chung: Chị T, anh C có 01 con chung Nguyễn Thị Ngọc A, sinh ngày 25/10/2015, cháu Ngọc A ở với anh C từ khi mới hơn 01 tuổi. Đến nay cháu đã 09 tuổi. Cháu Ngọc A chung sống với anh C vẫn phát triển bình thường mặc dù không có sự chăm sóc hỗ trợ từ chị T. Cháu Ngọc A cũng có nguyện vọng chung sống cùng anh C do vậy để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho cháu Ngọc A đồng thời không làm xáo trộn cuộc sống của cháu Ngọc A, cần tiếp tục giao cháu Ngọc A cho anh C nuôi. Do anh C chưa có ý kiến trình bày nên Tòa án không đặt ra giải quyết về việc cấp dưỡng đối với người không trực tiếp nuôi con chung, anh C có quyền khởi kiện bằng vụ án dân sự khác nếu có yêu cầu.

[4]Về tài sản chung: Chị T, anh C không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.

[5] Về án phí: Chị T là nguyên đơn nên phải chịu toàn bộ án dân sự sơ thẩm, theo quy định của pháp luật.

[6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a, khoản 1 Điều 39, Điều 35, Điều 146, Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu án, lệ phí Tòa án; Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình. Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Phạm Thị T được ly hôn anh Nguyễn Thế C.
  2. Về con chung: Giao con chung Nguyễn Thị Ngọc A, sinh ngày 25/10/2015 cho anh C nuôi dưỡng.

    Hai bên được quyền thăm nom chăm sóc con chung không ai được cản trở. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục con thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn được thực hiện theo các Điều 81, 82, 84 và 116 Luật Hôn nhân gia đình.

  3. Về tài sản chung: Không đặt ra giải quyết.
  4. Về án phí: Chị T phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Chuyển số tiền 300.000 đồng chị T đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số 0003214 ngày 05/6/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Hưng thành tiền án phí.
  5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận :

  • - Các đương sự;
  • - VKS huyện Đông Hưng;
  • - VKSND tỉnh Thái Bình;
  • - Thi hành án dân sự Đông Hưng;
  • - UBND xã Đông Động
  • - Lưu Hồ sơ, Văn phòng .

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Hà Thị Nhung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 61/2024/HNGĐ - ST ngày 19/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH về tranh chấp hôn nhân gia đình

  • Số bản án: 61/2024/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hôn nhân gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị T - anh C
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger