Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MƯỜNG LA

TỈNH SƠN LA

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 61/2024/HNGĐ-ST

Ngày 19-7-2024.

V/v: Ly hôn giữa chị Diêu và anh Cươm.

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LA, TỈNH SƠN LA

– Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Minh Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1 – Bà Quàng Thị Hỏa.
  • 2 – Ông Lò Văn Khẹt.

– Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Trà My – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường La, tỉnh Sơn La.

– Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La tham gia phiên tòa: Ông Lường Văn Hoan – Kiểm sát viên.

Ngày 19/7/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường La, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 111/2024/TLST–HNGĐ ngày 20 tháng 6 năm 2024 về việc: Tranh chấp ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 100/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Lò Thị D, sinh 1984, trú tại: Bản M, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La. Có đề nghị xử vắng mặt.
  2. Bị đơn: Anh Lò Văn C, sinh 1979, trú tại: Bản M, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La. Hiện đang chấp hành án phạt tù tại Phân trại số 3 đội số 5 thuộc Trại giam V, Cục C1, Bộ C2. Địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc. Có đề nghị xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 20/6/2024 và trong quá trình xét xử nguyên đơn chị Lò Thị D trình bày:

Chị và anh Lò Văn C kết hôn trên cơ sở tự nguyện, ngày 04/01/2001 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện M, tỉnh Sơn La. Cuộc sống chung hạnh phúc đến năm 2020 phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh Lò Văn C nghiện ma túy và dẫn đến phạm tội. Hiện đang chấp hành án phạt tù tại Phân trại số 3 đội số 5 thuộc Trại giam V. Từ đó hai người sống không quan tâm đến cuộc sống của nhau. Chị Lò Thị D xác định tình cảm vợ chồng không còn, yêu cầu được ly hôn anh Lò Văn C.

Về con chung: Có hai con là Lò Thị T, sinh ngày 20/11/1998 và Lò Tuấn A, sinh ngày 02/3/2008. Cháu Lò Thị T đã lớn trưởng thành. Hiện nay chị đang nuôi con Lò Tuấn A, nguyện vọng xin được nuôi con và không yêu cầu anh Lò Văn C cấp dưỡng.

Về tài sản chung, riêng, nợ: Đều không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Lò Văn C trình bày: Anh xác nhận quan hệ hôn nhân giữa chị Lò Thị D và anh Lò Văn C. Xác nhận nguyên nhân mâu thuẫn phù hợp với lời khai của nguyên đơn chị Lò Thị D. Công nhận nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng không khắc phục được và nhất trí ly hôn.

Về con chung: Có hai con là Lò Thị T, sinh ngày 20/11/1998 và Lò Tuấn A, sinh ngày 02/3/2008. Anh xác nhận hiện nay chị Lò Thị D đang nuôi con, nguyện vọng để chị Lò Thị D nuôi con và không phải cấp dưỡng.

Về tài sản chung, riêng, nợ: Đều không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ý kiến của Kiểm sát viên: Việc áp dụng pháp luật tố tụng dân sự của Thẩm phán và Hội đồng xét xử đúng quy định.

Về nội dung:

Căn cứ khoản 1 Điều 56; các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về Án phí, Lệ phí Toà án:

Có căn cứ xử cho chị Lò Thị D được ly hôn anh Lò Văn C.

Về con chung: Giao cháu Lò Tuấn A, sinh ngày 02/3/2008 cho chị Lò Thị D trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Lò Văn C không phải cấp dưỡng.

Về tài sản chung, riêng, nợ: Đều không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Chị Lò Thị D chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên toà, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên toà và các quy định của pháp luật. Tòa án phân tích, đánh giá, nhận định như sau:

  1. Về tố tụng: Bị đơn anh Lò Văn C sau khi được thông báo về việc thụ lý vụ án, đã khai trình bầy nguyện vọng, anh Lò Văn C đã được cấp tống đạt các văn bản tố tụng và đã được triệu tập xét xử hợp lệ có xác nhận của Trại giam V. Các đương sự đều có đề nghị xử vắng mặt, căn cứ quy định của Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự có đủ căn cứ xử vắng mặt các đương sự.
  2. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lò Thị D và anh Lò Văn C có đăng ký kết hôn, có tìm hiểu, tự nguyện là đúng pháp luật. Cuộc sống chung hoà thuận thời gian đầu, mâu thuẫn vợ chồng chủ yếu do anh Lò Văn C nghiện ma túy, dẫn đến phạm tội. Hai người sống ly thân từ năm 2020 đến nay không quan tâm đến cuộc sống của nhau, xét mâu thuẫn vợ chồng không khắc phục được là có căn cứ.

Xét thấy: Mâu thuẫn vợ chồng chị Lò Thị D và anh Lò Văn C đã được gia đình và chính quyền khuyên giải, đã kéo dài, trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nay chị Lò Thị D yêu cầu được ly hôn là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình. Cần chấp nhận xử cho chị Lò Thị D được ly hôn anh Lò Văn C.

  1. Về con chung: Có hai con là Lò Thị T, sinh ngày 20/11/1998 và Lò Tuấn A, sinh ngày 02/3/2008. Cháu Lò Thị T đã lớn trưởng thành. Hiện nay chị Lò Thị D đang nuôi con Lò Tuấn A và có nguyện vọng xin được nuôi con và không yêu cầu anh Lò Văn C cấp dưỡng. Căn cứ nguyện vọng của cháu Lò Tuấn A muốn ở với mẹ, cần chấp nhận giao cháu Lò Tuấn A cho chị Lò Thị D trực tiếp nuôi dưỡng, theo quy định của các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
  2. Về tài sản chung, riêng, nợ: Đều không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Chị Lò Thị D đã được giải thích thủ tục miễn án phí, nhưng chị không cần miễn án phí. Chị Lò Thị D chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật..

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 56; các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về Án phí, Lệ phí Toà án:

  1. Xử cho chị Lò Thị D được ly hôn anh Lò Văn C.
  2. Về con chung: Giao cháu Lò Tuấn A, sinh ngày 02/3/2008 cho chị Lò Thị D trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Lò Văn C không phải cấp dưỡng nuôi con.

    Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này, không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con.

  3. Về tài sản chung, riêng, nợ: Đều không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  4. Về án phí: Chị Lò Thị D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000, đồng (ba trăm nghìn đồng) được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001670 ngày 20/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường La, tỉnh Sơn La..

Chị Lò Thị D, anh Lò Văn C được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Sơn La;
  • - VKSND huyện Mường La (2);
  • - Chi cục THADS huyện Mường La;
  • - UBND xã Tạ Bú, huyện Mường La (để vào sổ hộ tịch);
  • - Các đương sự (2);
  • - Lưu: Hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

(Ký tên, ghi rõ họ tên, đóng dấu)

(đã ký)

Nguyễn Minh Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 61/2024/HNGĐ-ST ngày 19/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LA, TỈNH SƠN LA về ly hôn (hôn nhân và gia đình)

  • Số bản án: 61/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn (Hôn nhân và Gia đình)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LA, TỈNH SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án ly hôn giữa chị Lò Thị Diêu và anh Lò Văn Cươm
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger