Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PHỔ YÊN

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 61/2024/HS-ST

Ngày: 19 - 04 - 2024

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHÓ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hải Chiều

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Hà Văn Tôn

2. Ông Trần Xuân Hoàn

Thư ký phiên tòa: Ông Trần Anh Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân thành

phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên tham gia phiên

tòa: Ông Nguyễn Hoàng Bảo Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 04 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 14/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 01 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 60/2024/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 03 năm 2024 đối với bị cáo:

Lê Đức Đ; Sinh ngày 12/10/1993 tại Thái Nguyên; Tên gọi khác: Không;

Giới tính: Nam; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và chỗ ở: Xóm N, xã P, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Lê Văn L, sinh năm 1971, con bà: Nguyễn Thị H, sinh năm 1973; Có vợ là Bùi Thị N, sinh năm 1991 và có 03 con, con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam, được áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú” tại xã P, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. (Có mặt)

- Bị hại:

  1. Anh Lưu Đình H1; sinh năm 2001; Nơi cư trú: Thôn N, xã Q, huyện B, tỉnh Bắc Kạn (Đã chết)

Người đại diện hợp pháp cho bị hại anh H1: Bà Lèng Thị Y; sinh năm 1972; Nơi cư trú: Thôn N, xã Q, huyện B, tỉnh Bắc Kạn (Có mặt)

  1. Anh Lường Ngọc T; sinh năm 2001; Nơi cư trú: Thôn N, xã Q, huyện B, tỉnh Bắc Kạn (Có mặt)

- Người làm chứng:

  1. Anh Đặng Văn Q; sinh năm 1989; Nơi cư trú: TDP A, thị trấn H, huyện

Đ, tỉnh Thái Nguyên. (Vắng mặt)

  1. Nguyễn Trường G; sinh năm 2001; Nơi cư trú: Thôn N, xã Q, huyện B, tỉnh Bắc Kạn (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 00 giờ 15 phút ngày 18/7/2023, Lê Đức Đ (có giấy phép lái xe ô tô hạng C theo quy định) điều khiển xe ô tô BKS: 20A-072.53 đi trên đường T hướng thành phố S đi huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Khi Đ điều khiển xe đi đến Km 01+957 đường Tỉnh lộ 266 thuộc địa phận tổ dân phố M, phường H, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên thì Đ xi nhan trái và điều khiển xe rẽ trái vào đường dân sinh thì xảy ra đâm va với xe mô tô BKS: 97B1-963.26 do anh Lường Ngọc T (sinh năm 2001, trú tại thôn N, xã Q, huyện B, tỉnh Bắc Kạn) điều khiển chở anh Lưu Đình H1 (sinh năm 2001, trú tại thôn N, xã Q, huyện B, tỉnh Bắc Kạn) phía sau đi ngược chiều.

Hậu quả: anh T bị thương; anh H1 được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện C, sau đó chuyển Bệnh viện C thì tử vong; 02 phương tiện liên quan bị hư hỏng.

Sau khi tiếp nhận vụ việc, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P đã tiến hành khám nghiệm hiện trường; khám nghiệm các phương tiện liên quan; khám nghiệm tử thi anh Lưu Đình H1.

Tiến hành test nhanh nồng độ cồn trong người của Lê Đức Đ, kết quả cho thấy tại thời điểm xảy ra tai nạn Động không có chất kích thích trong người và tiến hành xét nghiệm tại thời điểm 09 giờ 26 phút ngày 18/7/2023 đối với Đ xác định Đ âm tính với ma túy.

Tiến hành xét nghiệm tại thời điểm 03 giờ 55 phút ngày 18/7/2023 đối với anh Lường Ngọc T xác định định lượng Ethanol (cồn trong máu) của anh T là 28,53 mmol/l). Không xác định được nồng độ cồn trong máu của anh Lưu Đình H1 do mẫu máu của anh H1 không đủ tiêu chuẩn xét nghiệm

* Kết quả khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn:

Hiện trường nơi xảy ra vụ tai nạn tại Km 01+957 đường Tỉnh lộ 266 thuộc địa phận tổ dân phố M, phường H, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. Đoạn đường được trải nhựa thẳng, phẳng, chiều rộng lòng đường là 14,5 mét, phần giữa đường có 02 vạch sơn liền màu vàng song song nhau chia thành hai phần đường xe chạy, giữa mỗi phần đường có 01 vạch sơn đứt đoạn màu trắng chia mỗi phần đường thành hai làn xe chạy, mép mỗi phần đường có 01 vạch sơn liền màu trắng, hai bên đường là vỉa hè. Tại đoạn đường nơi xảy ra tai nạn bên mép đường phải đường Tỉnh lộ 266 hướng P – Sông Công có 01 lối mở vào đường dân sinh rộng 8,2 mét. Chọn hướng P – Sông Công làm hướng khám nghiệm. Chọn mép đường phải theo hướng khám nghiệm làm mép đường chuẩn. Chọn cột mốc Km 2 bên lề đường trái theo hướng khám nghiệm làm mốc cố định.

Chọn phương pháp đo theo hình chiếu vuông góc. Quá trình khám nghiệm hiện trường ghi nhận các vị trí, dấu vết như sau: (1) được ký hiệu trên sơ đồ hiện trường là vị trí xe ô tô gắn biển số 20A- 072.53, đầu (1) quay chếch mép đường chuẩn, đuôi (1) quay hướng ngược lại. đo từ tâm trục bánh sau bên trái (1) đến mép đường chuẩn được 2,25 mét, tâm trục bánh trước bên trái (1) trùng mép đường chuẩn. (2) được ký hiệu trên sơ đồ hiện trường là vị trí xe mô tô biển số 97B1- 963.26 trong tình trạng đổ nghiêng bên trái trên mặt đường, đầu (2) quay hướng mép đường bên trái Tỉnh lộ 266 hướng P - Sông C, đuôi (2) quay hướng mép đường chuẩn. Đo từ tâm trục bánh trước (2) và tâm trục bánh sau (2) đến mép đường chuẩn được lần lượt là 2,8 mét và 1,9 mét. (3) được ký hiệu trên sơ đồ hiện trường là vị trí dấu vết trượt cao su kích thước (1,5x0,04) mét có chiều hướng mép đường trái Tỉnh lộ 266 – mép đường chuẩn. Đo từ điểm đầu (3) và điểm cuối (3) đến mép đường chuẩn được lần lượt 3,6 mét và 2,3 mét. (4) được ký hiệu trên sơ đồ hiện trường là vị trí vùng nhựa vỡ kích thước (5,1x4,7) mét, đo từ tâm (5) đến mép đường chuẩn được 2,3 mét. (5) được ký hiệu trên sơ đồ hiện trường là vùng than tro bám dính vật chất màu nâu đỏ nghi máu kích thước (1,4x0,7) mét, tâm (5) trùng với mép đường chuẩn. (6) được ký hiệu trên sơ đồ hiện trường là vùng than tro bám dính vật chất màu nâu đỏ nghi máu kích thước (1,0x0,9) mét, đo từ tâm (6) đến mép đường chuẩn được 0,7 mét.

Đo từ tâm trục bánh trước bên phải (1) đến tâm trục bánh sau (2) được 0,6 mét, từ tâm trục bánh trước (2) đến điểm đầu (3) được 1,1 mét, từ điểm đầu (3) đến tâm (4) được 2,9 mét, từ tâm trục bánh trước bên trái (1) đến đến tâm (5) được 2,2 mét, từ tâm (5) đến tâm (6) được 2,8 mét, từ tâm trục bánh trước (2) đến mốc cố định được 42,2 mét.

* Kết quả khám nghiệm các phương tiện có liên quan:

- Xe ô tô BKS: 20A- 072.53: Rạn, vỡ, thủng phần bên phải kính chắn gió phía trước trong vùng kích thước (87x85) cm, tâm vùng vỡ, thủng kính này cách mép phải và mép dưới kính chắn gió phía trước lần lượt 32 cm và 60 cm. Trán xe bên phải móp méo theo chiều hướng từ phải sang trái, từ ngoài vào trong do ngoại lực tác động kích thước (7x4,5) cm. Cản trước bị bung bật; cản trước bên phải bị bung bật, rách vỡ trong vùng kích thước (0,7x0,5) mét, trong vùng này có bám dính vật chất màu đen theo chiều hướng từ phải sang trái, từ sau ra trước kích thước (47x35) cm. Đèn pha bên phải bị vỡ, bị ngoại lực tác động theo chiều hướng từ phải sang trái lệch khỏi vị trí ban đầu 12 cm. Mất đèn gầm bên phải. Phần bên phải nắp ca bô bị ngoại lực tác động theo chiều từ phải sang trái gây móp méo trong vùng kích thước (36x9) cm. Tai bên phải bị ngoại lực tác động theo chiều hướng từ phải sang trái, từ ngoài vào trong gây móp méo, rách kim loại trong vùng kích thước (70x47) cm, điểm móp mép sâu nhất là 20 cm. Khung xương bắt tai xe bên phải bị ngoại lực tác động theo chiều từ phải sang trái, từ ngoài vào trong gây biến dạng gập vào bên trong. Chắn bùn bánh trước bên phải bị bung bật, rách, móp méo hoàn toàn. Gãy củ gương chiếu hậu bên phải. Lốp bánh trước bên phải bị hết hơi. Mặt ngoài la zăng bánh xe bên phải phía trước có dấu vết ngoại lực tác động gây vỡ, móp méo, mài trượt rải rác kích

thước (24x22) cm. Mép phía trước cửa trước bên phải có dấu vết ngoại lực tác động gây móp méo, cong vênh ra phía ngoài kích thước (20x4) cm. Mất ốp tam giác chân gương chiếu hậu bên phải. Càng A và Rô tuyn thước lái bên phải cong vênh về phía trước, lệch khỏi vị trí ban đầu 3 cm. Kỹ thuật an toàn phương tiện: Không kiểm tra được hệ thống hãm do bánh xe bên phải phía trước bị hư hỏng. Hệ thống điều khiển, đèn pha, đèn xi nhan, còi còn hiệu lực.

Tại Bản kết luận định giá số: 83/KLGĐ ngày 14/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản thành phố P kết luận: Giá trị thiệt hại của xe ô tô nhãn hiệu Toyota Vios, BKS: 20A- 072.53 là 31.150.000 đồng.

- Xe mô tô BKS: 97B1-963.26: Vỡ, mất toàn bộ đèn pha, đèn xi nhan phía trước, đồng hồ, ốp đèn pha, gáy, mặt nạ, yếm trong ngoài hai bên, ốp nhựa ổ khóa, chắn bùn bánh xe trước. Khung xe phía trước bị ngoại lực tác động theo chiều hướng từ trước về sau, từ trái sang phải lệch khỏi vị trí ban đầu 15 cm. Cụm đi ốt sạc bị ngoại lực tác động theo chiều hướng từ trước về sau, từ trái sang phải gây gãy, vỡ kim loại, cong vênh kích thước (8x3) cm, lệch khỏi vị trí ban đầu 8,5 cm. Đôi thụt trước bị ngoại lực tác động theo chiều hướng từ trước về sau, từ trái sang phải gây vỡ kim loại, cong vênh lệch khỏi vị trí ban đầu 18 cm. Bánh trước hết hơi. Mặt vành xe phía trước bên trái có dấu vết rạn vỡ kim loại kích thước (6x1) cm cách chân van theo chiều kim đồng hồ 20 cm theo chiều thẳng. Trục bánh trước cong vênh bật khỏi vành bánh xe trước bên trái lệch khỏi vị trí ban đầu 7 cm. Mặt trước hộp máy bên phải bị ngoại lực tác động theo chiều từ trước về sau gây vỡ, mất kim loại kích thước (10x7) cm. Đầu bò bị ngoại lực tác động theo chiều từ trước về sau gây vỡ, bật khỏi vị trí ban đầu 6 cm. Két nước bị ngoại lực tác động theo chiều từ trước về sau gây cong vênh, biến dạng lệch khỏi vị trí ban đầu 8 cm. Cổ bô bị ngoại lực tác động theo chiều từ trước về sau gây móp méo, cong vênh, điểm bắt bô bị rời khỏi vị trí ban đầu 5 cm. Mất để chân trước, sau bên trái. Két nước phụ bị ngoại lực tác động theo chiều từ trước về sau gây vỡ, biến dạng lệch khỏi vị trí ban đầu 5 cm. Mất yên xe. Gãy, vỡ chắn bùn sau, mất biển kiểm soát. Ốp sườn bên trái bị mài trượt xước nhựa, mất sơn kích thước (27x0,5) cm. Ốp mặt ngoài tay xách xe bên trái có dấu vết mài trượt xước nhựa kích thước (11x1,5) cm. Kỹ thuật an toàn phương tiện: Không kiểm tra được do xe hư hỏng.

Tại Bản kết luận định giá số: 84/KLGĐ ngày 14/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản thành phố P kết luận: Giá trị thiệt hại của xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter-2ND1, BKS: 97B1-963.26 là 26.630.000 đồng.

* Kết quả khám nghiệm tử thi anh Lưu Đình H1:

- Các dấu vết, tổn thương trên cơ thể: Mũi, miệng, tai có nhiều máu chảy ra. Vùng trán bên trái ngay sát đường chân tóc có vết sây sát da kích thước (1,5x1) cm. Vùng thái dương đỉnh bên trái có vết sây sát da bầm tím kích thước (8x6) cm, xung quanh có khối sưng nề kích thước (15x15) cm. Vai trái có vết sây sát da kích thước (6,5x5) cm. Vai phải có vết sây sát da bầm tím kích thước (8x3,5) cm, ở giữa có vết dập rách da cơ kích thước (3x1,5) cm. Mặt ngoài cánh

tay trái có vết sây sát da bầm tím rải rác. Mặt trước cẳng tay trái có vết sây sát da kích thước (4,5x3) cm. Mu bàn tay trái bị sây sát da rải rác. Mặt trong đùi trái có vết sây sát da kích thước (16,5x13) cm. Mặt trong đùi phải có vết sây sát, mài trượt da kích thước (30x13) cm. Đầu gối trái có vết rách da cơ kích thước (1,5x1) cm. Cẳng chân bên phải sây sát da rải rác. Từ hạ lườn trái đến thắt lưng bên trái có vết sây sát da kích thước (25x14) cm.

- Mổ tử thi: Vỡ xương chẩm, chảy tụ máu ngoài màng cứng và dưới màng cứng toàn bộ thùy chẩm. Phù nề tổ chức não. Test nhanh nước tiểu cho kết quả âm tính với các chất ma túy.

Tại bản kết luận giám định tử thi số: 978/KLGĐTT- KTHS ngày 02/8/2023 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Lưu Đình H1 bị chấn thương sọ não: vỡ xương chẩm, tụ máu trong hộp sọ, phù nề tổ chức não gây tổn thương thần kinh trung ương không hồi phục dẫn đến chết.

Tại bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống: 740/KLTTCT-TTPY ngày 11/9/2023 của Trung tâm pháp y Sở Y1 kết luận: anh Lường Ngọc T bị vỡ xương nền sọ, vỡ xương vòm sọ, tụ máu ngoài màng cứng, tổn thương nhu mô não, xuất huyết dưới nhện, vỡ trần hốc mắt bên trái, gãy thành ngoài xoang hàm trái, mổ thăm dò ổ bụng, hiện tại có 10 sẹo phần mềm kích thước lớn, 02 sẹo phần mềm kích thước trung bình, 10 sẹo phần mềm kích thước nhỏ. Tỷ lệ tổn thương cơ thể tại thời điểm giám định là 70%.

Tại bản kết luận giám định bổ sung tổn thương cơ thể trên người sống: 966/KLTTCT-TTPY ngày 25/12/2023 của Trung tâm pháp y Sở Y1 kết luận: anh Lường Ngọc T mắt trái giảm thị lực 1/10 sau chấn thương, vỡ xương nền sọ, vỡ xương vòm sọ, tụ máu ngoài màng cứng, tổn thương nhu mô não, xuất huyết dưới nhện, vỡ trần hốc mắt bên trái, gãy thành ngoài xoang hàm trái, mổ thăm dò ổ bụng, hiện tại có 10 sẹo phần mềm kích thước lớn, 02 sẹo phần mềm kích thước trung bình, 10 sẹo phần mềm kích thước nhỏ. Tỷ lệ tổn thương cơ thể tại thời điểm giám định là 76%.

Quá trình điều tra Lê Đức Đ khai nhận: Khoảng 22 giờ ngày 17/7/2023, Đ một mình điều khiển xe ô tô BKS: 072.53 đi từ cửa hàng tạp hóa của vợ chồng Đ thuộc tổ dân phố M, phường H, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên đến thành phố S, tỉnh Thái Nguyên để lấy hàng chè. Đến khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày. Động điều khiển xe đi về cửa hàng tạp hóa theo đường T hướng thành phố S đi huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Đến khoảng 00 giờ 15 phút ngày 18/7/2023, Đ điều khiển xe đi đến Km 01+957 đường Tỉnh lộ 266 thuộc địa phận tổ dân phố M, phường H, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên thì Đ điều khiển xe giảm tốc độ, rẽ trái vào đường dân sinh để vào phòng trọ Động thuê thì xảy ra đâm va với xe mô tô do anh Lường Ngọc T điều khiển chở anh Lưu Đình H1 phía sau đi ngược chiều. Động xuống xe, thấy anh H1 và anh T bị thương đang nằm dưới đường nên Đ đã gọi xe cấp cứu đưa anh T và anh H1 đi cấp cứu tại Bệnh viện C. Lời khai của Lê Đức Đ phù hợp với hiện trường vụ án, các dấu vết để lại trên 02

phương tiện, tử thi và các tài liệu, chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

Vật chứng vụ án:

02 phương tiện liên quan là chiếc xe ô tô BKS: 20A- 072.53 và chiếc xe mô tô BKS: 97B1-963.26, xét không cần thiết tạm giữ nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho các bên liên quan quản lý, sử dụng; 01 Giấy phép lái xe ô tô hạng C số [...] mang tên Lê Đức Đ (được chuyển theo hồ sơ vụ án).

Về trách nhiệm dân sự:

Lê Đức Đ đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại là anh Lưu Đình H1 số tiền 130.000.000 đồng, bồi thường cho anh L1 Ngọc T số tiền 60.000.000 đồng; đại diện hợp pháp của anh H1 và anh T không có yêu cầu, đề nghị gì thêm.

Do có hành vi vi phạm nêu trên, tại bản Cáo trạng số: 23/CT-VKSPY ngày 23/01/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Lê Đức Đ về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, sau khi kết thúc phần thẩm vấn công khai, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Lê Đức Đ về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Đề nghị Hội đồng xét xử:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Đức Đ phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  2. Về hình phạt
    1. Về hình phạt chính: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Lê Đức Đ mức án từ 24 đến 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 48 đến 60 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Lê Đức Đ cho Ủy ban nhân dân xã P, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

  1. Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
  1. Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, bị hại anh T, đại diện hợp pháp cho bị hại (anh H1 đã chết) là bà Lèng Thị Y không có yêu cầu đề nghị gì thêm với bị cáo nên không xem xét, giải quyết.
  2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
  • Đề nghị trả lại cho bị cáo Lê Đức Đ 01 giấy phép lái xe hạng C mang tên Lê Đức Đ.
  • Tiếp tục lưu giữ kèm theo hồ sơ vụ án 01 thẻ nhớ ghi lại hình ảnh vụ tai nạn
  1. Về án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016

của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp cho bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, thừa nhận hành vi phạm tội của bản thân, bị cáo nhất trí với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên và không có ý kiến tranh luận gì. Bị hại, người đại diện hợp pháp cho bị hại không có ý kiến tranh luận gì thêm với quan điểm luận tội của Viện kiểm sát và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo được cải tạo tại địa phương.

Nói lời sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để có thể được chăm sóc gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định như sau:

[1]. Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố P, tỉnh Thái Nguyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Tại phiên toà vắng mặt những người làm chứng. Tuy nhiên, xét thấy những người này đều đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử. Căn cứ Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt đối với những người có tên trên theo quy định.

[3]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà hôm nay là khách quan, phù hợp với lời khai những người tham gia tố tụng khác, phù hợp với các kết luận giám định, kết luận định giá và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được trong quá trình điều tra như kết quả khám nghiệm hiện trường, tử thi, phương tiện, hình ảnh trích xuất từ camera tại hiện trường..., Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 00 giờ 15 phút ngày 18/7/2023, tại Km 01+957 đường Tỉnh lộ 266 thuộc địa phận tổ dân phố M, phường H, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên, Lê Đức Đ (có giấy phép lái xe ô tô hạng C theo quy định) điều khiển xe ô tô BKS: 20A-072.53 đi trên đường T hướng thành phố S đi huyện P, tỉnh Thái Nguyên

chuyển hướng rẽ trái vào đường dân sinh thì xảy ra đâm va với xe mô tô BKS: 97B1-963.26 do anh Lường Ngọc T điều khiển chở phía sau là anh Lưu Đình H1 đi ngược chiều. Hậu quả của vụ tai nạn: anh H1 tử vong, anh T bị thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 76%, chiếc xe mô tô BKS: 97B1-963.26 bị thiệt hại giá trị là 26.630.000 đồng.

Hành vi điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ chuyển hướng không chấp hành chỉ dẫn của hệ thống báo hiệu đường bộ, đè qua vạch liền màu vàng giữa đường, chuyển hướng không đúng quy định, không đảm bảo an toàn do Lê Đức Đ thực hiện đã vi phạm khoản 1 Điều 11; khoản 2 Điều 15 Luật Giao thông đường bộ và là nguyên nhân trực tiếp dẫn tới vụ tai nạn nêu trên. Do đó bị cáo Lê Đức Đ phải chịu trách nhiệm toàn bộ do hành vi của bị cáo đã gây ra.

Tại khoản 1 Điều 10, khoản 1 Điều 11 và khoản 2 Điều 15 Luật Giao thông đường bộ quy định như sau:

“ Điều 10. Hệ thống báo hiệu đường bộ

1. Hệ thống báo hiệu đường bộ gồm hiệu lệnh của người điều khiển giao thông; tín hiệu đèn giao thông, biển báo hiệu, vạch kẻ đường, cọc tiêu hoặc tường bảo vệ, rào chắn....”

“ Điều 11. Chấp hành báo hiệu đường bộ...

1. Người tham gia giao thông phải chấp hành hiệu lệnh và chỉ dẫn của hệ thống báo hiệu đường bộ....

“Điều 15. Chuyển hướng xe...

2. Trong khi chuyển hướng, người lái xe ... chỉ cho xe chuyển hướng khi quan sát thấy không gây trở ngại hoặc nguy hiểm cho người và phương tiện khác."

Như vậy, hành vi của bị cáo đã tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Nội dung điều luật quy định:

“Điều 260. Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Làm chết người;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên; ...".

Do đó, bản Cáo trạng số: 23/CT-VKSPY ngày 23/01/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên đã truy tố đối với bị cáo là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

[4]. Xét tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi do bị cáo thực hiện:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ được pháp luật hình sự điều chỉnh, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi vô ý, gây thiệt hại đến tính mạng, sức khoẻ và tài sản của công dân. Hành vi của bị cáo cần thiết phải xử lý bằng pháp luật hình sự nhằm giáo dục bị cáo, răn đe và phòng ngừa chung.

[5]. Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm đối với bị cáo:

Về nhân thân: Quá trình sinh sống tại địa phương bị cáo chưa có tiền án, tiền sự là người có nhân thân tốt.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, sau khi xảy ra tai nạn bị cáo khẩn trương đưa người bị nạn đi cấp cứu đồng thời cố gắng nỗ lực khẩn trương khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại tổng số tiền 190.000.000₫ và được bị hại, người đại diện hợp pháp cho người bị hại có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự. Tại phiên tòa, bị hại và người đại diện hợp pháp cho bị hại đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo và cho bị cáo được cải tạo tại địa phương nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đó là “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, “Người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại” và “Người bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo”.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự

[6]. Khi lượng hình đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy:

Bị cáo là người có nhân thân tốt, có nơi cư trú ổn định, rõ ràng, phạm tội lần đầu, quá trình sinh sống tại địa phương bị cáo và gia đình luôn chấp hành tốt đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, hiện đang phải nuôi 03 con còn nhỏ. Mặt khác, bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ, không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào, bị cáo có khả năng tự cải tạo và việc cho bị cáo được cải tạo tại địa phương không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn, xã hội nên đối chiếu với các quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 3, Điều 65 Bộ luật Hình sự và Văn bản hợp nhất Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự về án treo và Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng

Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự về án treo thì thấy không cần áp dụng hình phạt tù mà cho cho bị cáo được hưởng án treo cải tạo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương cũng đủ để giáo dục, răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa chung.

Xét thấy, mức án mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo tại phiên tòa là phù hợp được chấp nhận.

[7]. Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 260 Bộ luật Hình sự còn quy định: “Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”.

Xét thấy bị cáo hiện là lao động tự do, không hành nghề kinh doanh liên quan đến các quy định về tham gia giao thông đường bộ. Do vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[8] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên toà, bị hại, người đại diện hợp pháp cho bị hại không có yêu cầu gì thêm đối với bị cáo nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[9]. Về xử lý vật chứng:

- Đối với 02 phương tiện liên quan là chiếc xe ô tô BKS: 20A-072.53 và chiếc xe mô tô BKS: 97B1-963.26, xét không cần thiết tạm giữ nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho các bên liên quan quản lý, sử dụng là phù hợp;

- Đối với 01 giấy phép lái xe ô tô hạng C số [...] mang tên Lê Đức Đ xét thấy bị cáo không bị áp dụng hình phạt bổ sung và đây là giấy tờ liên quan đến nhân thân của bị cáo cần trả lại cho bị cáo quản lý sử dụng.

- Đối 01 thẻ nhớ ghi lại hình ảnh vụ tai nạn giữa bị cáo và bị hại xét thấy đây là vật chứng có giá trị chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo do vậy cần tiếp tục lưu giữ kèm theo hồ sơ vụ án.

[10]. Về chi phí tố tụng: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[11]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp cho bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 260; Điều 46, Điều 47, Điều 48, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự;

- Căn cứ Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Đức Đ phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”;

2. Về hình phạt:

2.1. Hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Lê Đức Đ 24 (Hai mươi bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 48 (Bốn mươi tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Lê Đức Đ cho Ủy ban nhân dân xã P, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo

2.2. Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo.

3. Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, bị hại, đại diện hợp pháp cho bị hại không có yêu cầu đề nghị gì nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết;

4. Về xử lý vật chứng:

- Trả tại cho bị cáo Lê Đức Đ 01 giấy phép lái xe ô tô hạng C số [...] mang tên Lê Đức Đ.

- Tiếp tục lưu giữ kèm theo hồ sơ vụ án 01 thẻ nhớ ghi lại hình ảnh vụ tai nạn giao thông của bị cáo Lê Đức Đ

5. Về chi phí tố tụng: Bị cáo Lê Đức Đ phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.

6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp cho bị hại có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

*Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND TP. Phổ Yên;
  • - Công an TP. Phổ Yên;
  • - Cơ sở giam giữ bị cáo;
  • - Chi cục Thi hành án TP. Phổ Yên;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên;
  • - UBND xã;
  • - Bị cáo; bị hại, đương sự;
  • - Những người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hải Chiều

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 61/2024/HS-ST ngày 19/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 61/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Lê Đức Đ phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger