Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TUY PHONG

TỈNH BÌNH THUẬN

Bản án số: 61/2024/HS-ST

Ngày: 18- 7- 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG, TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Thái Văn Trung

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Trọng Di;
  2. Ông Phạm Hồng Sơn.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Hoài Trọng, Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thìn, Kiểm sát viên.

Ngày 18/7/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 44/2024/TLST-HS ngày 28/5/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 60a/2024/QĐXXST-HS ngày 28/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong đối với bị cáo:

Nguyễn Thị Ph, sinh năm 1976; tại tỉnh Bình Thuận. Nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: khu phố Ph T, thị trấn Phan Rí Cửa, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận; Nghề nghiệp: nội trợ; Trình độ học vấn: 04/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Kh (chết) và bà Đặng Thị Th; chồng: Nguyễn Kim M; con 03 người, lớn nhất sinh năm 1995, nhỏ nhất sinh năm 2002; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo hiện đang tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Bà Trần Thị X, sinh năm 1983 (có mặt)

Địa chỉ: Khu phố Ph T, thị trấn Phan Rí Cửa, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận.

+ Ông Trần Văn S, sinh năm 1975 (có mặt)

Địa chỉ: Khu phố Ph H, thị trấn Phan Rí Cửa, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận.

+ Ông Mai Văn T, sinh năm 1974 (có mặt)

Địa chỉ: Khu phố Ph H, thị trấn Phan Rí Cửa, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận.

+ Ông Đỗ Cao B, sinh năm 1977 (có mặt)

Địa chỉ: Khu phố Ph H, thị trấn Phan Rí Cửa, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận.

+ Ông Nguyễn Tấn C, sinh năm 1984 (có mặt)

Địa chỉ: Khu phố Ph T, thị trấn Phan Rí Cửa, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận.

+ Ông Nguyễn Minh H, sinh năm 1989 (có mặt)

Địa chỉ: Khu phố Ph T, thị trấn Phan Rí Cửa, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận.

+ Ông Hồ Văn L, sinh năm 1976 (có mặt)

Địa chỉ: Khu phố Ph H, thị trấn Phan Rí Cửa, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận.

+ Ông Đặng Minh B, sinh năm 1972 (có mặt)

Địa chỉ: Khu phố Ph T, thị trấn Phan Rí Cửa, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận.

+ Ông Bùi Đức L, sinh năm 1992 (vắng mặt)

Địa chỉ: Khu phố Ph H, thị trấn Phan Rí Cửa, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận.

- Người làm chứng:

Ông Lê Thanh S, sinh năm 1990 (có mặt)

Địa chỉ: Khu phố Ph T, thị trấn Phan Rí Cửa, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Theo cáo trạng:

Nhận được tin báo của quần chúng nhân dân có đối tượng mua bán số đề tại khu vực quán cà phê Điểm Hẹn thuộc khu phố Ph T, thị trấn Phan Rí Cửa, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận. Vào khoảng 15 giờ 40 phút ngày 13/01/2024, Công an huyện Tuy Phong triển khai lực lượng đến hiện trường phát hiện, bắt quả tang ông Mai Văn T, sinh năm 1974, trú tại: khu phố Ph H, thị trấn Phan Rí Cửa, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận mua đầu đuôi số 01 (đầu mua 16.000 đồng, đuôi mua 10.000 đồng) hai đài thành phố Hồ Chí Minh và đài Hậu Giang (tổng tiền phơ đề là 52.000 đồng); ông Đỗ Cao B, sinh năm 1977, trú tại: khu phố Ph H, thị trấn Phan Rí Cửa, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận mua đầu đuôi số 35 (đầu mua 16.000 đồng, đuôi mua 10.000 đồng) đài Bình Phước (tổng tiền phơ đề là 26.000 đồng) của bà Trần Thị X, sinh năm 1983, trú tại: khu phố Ph T, thị trấn Phan Rí Cửa, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận. Đồng thời phát hiện và bắt quả tang bà Nguyễn Thị Ph, sinh năm 1976, trú tại: khu phố Ph T, thị trấn Phan Rí Cửa, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận đang ngồi cộng phơ đề tại bàn uống nước cách vị trí bà X bán số lô đề khoảng 10 mét. Tạm giữ: 03 tờ phơ đề loại giấy nhớ ghi phơ đề kích thước 4×6 cm trên tay bà X (tổng tiền trên phơ đề là 790.000 đồng), 01 điện thoại Realme màu đỏ và số tiền 4.937.000 đồng trên người bà X; 01 tờ phơ đề ghi bằng giấy vở học sinh, 01 cuốn vở học sinh, 02 tờ phơ đề loại giấy nhớ kích thước 4×6cm tại vị trí bà Ph đang ngồi (tổng tiền trên phơ đề 2.934.000 đồng), số tiền 25.580.000 đồng, 01 điện thoại Oppo màu xanh, 01 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng để trong ốp lưng điện thoại Oppo màu xanh và 01 điện thoại Nokia màu bạc trên người bà Ph. X là người phụ giúp ghi số lô, số đề vào giấy nhớ cho những người mua, rồi X chuyển giấy nhớ đã ghi số lô, số đề cho Ph, rồi Ph ghi số lô, số đề vào giấy học sinh.

Quá trình điều tra đã làm rõ được những người mua số lô, đề của Ph và X gồm:

  • - Ông Mai Văn T, sinh năm 1974, trú tại: khu phố Ph H, thị trấn Phan Rí Cửa, huyện Tuy Phong trực tiếp mua số đề của Trần Thị X với con số 01 đầu 16.000 đồng, đuôi 10.000 đồng đài Hậu Giang và Đài Thành phố Hồ Chí Minh với số tiền là 52.000 đồng;
  • - Ông Đỗ Công B, sinh năm 1977, trú tại: khu phố Ph H, thị trấn Phan Rí Cửa, huyện Tuy Phong trực tiếp mua số đề của Trần Thị X với con số 35 đầu 16.000 đồng, đuôi 10.000 đồng đài Bình Phước với số tiền là 26.000 đồng;
  • - Ông Nguyễn Tấn C, sinh năm 1984, trú tại: khu phố Ph T, thị trấn Phan Rí Cửa, huyện Tuy Phong trực tiếp mua số đề của Nguyễn Thị Ph với con số 69 bao lô 04 đài với số tiền là 280.000 đồng;
  • - Ông Nguyễn Minh H, sinh năm 1989, trú tại: khu phố Ph T, thị trấn Phan Rí Cửa, huyện Tuy Phong trực tiếp mua số đề của Nguyễn Thị X với con số 30 và 70 số đầu đài Bình Phước với số tiền là 100.000 đồng;
  • - Ông Hồ Văn L, sinh năm 1976, trú tại: khu phố Ph H, thị trấn Phan Rí Cửa, huyện Tuy Phong trực tiếp mua số đề của Nguyễn Thị X với con số 16 đầu 16.000 đồng, đuôi 10.000 đồng đài Bình Phước với số tiền là 26.000 đồng;
  • - Ông Đặng Minh B, sinh năm 1972, trú tại: khu phố Ph T, thị trấn Phan Rí Cửa, huyện Tuy Phong trực tiếp mua số đề của Nguyễn Thị Ph với các con số 19, 39, 59 đầu 20.000 đồng, đuôi 6.000 đồng đài Bình Phước với số tiền là 78.000 đồng;
  • - Ông Bùi Đức L, sinh năm 1992, trú tại: khu phố Ph H, thị trấn Phan Rí Cửa, huyện Tuy Phong trực tiếp mua số đề của Nguyễn Thị X với con số 42 và 50 đầu 20.000 đồng, đuôi 19.000 đồng đài Bình Phước với số tiền là 78.000 đồng; bao lô số 50 với số tiền 140.000 đồng. Tổng cộng Lâm mua số lô, đề với số tiền là 218.000 đồng.

Tổng số tiền Ph và X bán số lô, đề cộng từ phơ đề thu trên người X, Ph và lời khai người mua ngày 13/01/2024 là 4.136.000 đồng. Trong đó, số tiền bán số đề đài Bình Phước là 3.814.000 đồng, số tiền bán số đề đài Long An là 90.000 đồng, số tiền bán số đề đài TP Hồ Chí Minh là 116.000 đồng, số tiền bán số đề đài Hậu Giang là 116.000 đồng.

Qua điều tra, Nguyễn Thị Ph còn thực hiện hành vi đánh bạc bằng hình thức bán số lô, đề vào ngày 12/01/2024, cụ thể: Vào 14 giờ 00 phút, ngày 12/01/2024, bà Nguyễn Thị Ph có đến quán cà phê Điểm Hẹn thuộc khu phố Ph T, thị trấn Phan Rí Cửa, huyện Tuy Phong để bán số lô, đề cho khách uống cà phê. sau đó bà Trần Thị X đến uống cà phê và giúp Ph ghi bán số lô, đề cho 02 đến 03 khách thì đến giờ sổ xố (không nhớ ghi cho ai, số nào, số tiền bao nhiêu, đài nào), số tiền X bán lô, đề cho Ph vào ngày 12/01/2024 khoảng 100.000 đồng đến 200.000 đồng, không có khách mua trúng. Ngày 12/01/2024 bà Ph bán số lô, đề của ba đài sổ xố miền nam gồm: xổ số kiến thiết tỉnh Vĩnh Long (đài Vĩnh Long); xổ số kiến thiết Trà Vinh (đài Trà Vinh); xố số kiến thiết tỉnh Bình Dương (đài Bình Dương). Số tiền bán số lô, đề ngày 12/01/2024 của bà Ph được ghi vào vở học sinh với số tiền bán số lô, đề cho khách là 4.389.000 đồng; ngày 12/01/2024 ông Trần Văn S, sinh năm 1975, trú tại: khu phố Ph H, thị trấn Phan Rí Cửa, huyện Tuy Phong sử dụng thuê bao số +84387948011 nhắn tin cho số thuê bao 0363493715 của bà Ph để mua số lô, đề với số tiền 130.000 đồng, cụ thể: bà Ph bán cho ông S đài Vĩnh Long số 25 đầu 50.000 đồng, đuôi 15.000 đồng; số 52 đầu 50.000 đồng, đuôi 15.000 đồng; số tiền khách mua lô, đề trúng vào ngày 12/01/2024 là 1.400.000 đồng cụ thể: bà Ph bán bao lô đài Vĩnh Long số 89 với số tiền 180.000 đồng (mỗi lô 10.000 đồng) khách mua trúng 700.000 đồng và bà Ph bán bao lô đài Trà Vinh số 81 với số tiền 180.000 đồng (mỗi lô 10.000 đồng) khách mua trúng 700.000 đồng.

Sau khi có kết quả sổ xố ngày 12/01/2024 bà Ph đã trả 1.400.000 đồng cho khách trúng, 100.000 đồng ông S chưa trả cho bà Ph, số tiền còn lại bà Ph đã tiêu xài cá nhân hết. Bà Ph có trả 12.000 đồng tiền cà phê cho X, ngoài ra không đưa khoản tiền nào khác.

Tổng số tiền bà Ph đánh bạc bằng hình thức mua bán số lô, đề trong ngày 12/01/2024 là 5.919.000 đồng. Trong đó, số tiền bán số đề đài Bình Dương là 773.000 đồng, số tiền bán số đề đài Trà Vinh: 2.193.00 đồng (tiền bán 1.493.000 đồng + tiền trúng 700.000 đồng), số tiền bán số đề đài Vĩnh Long: 2.953.000 đồng (tiền bán 2.253.000 đồng + tiền trúng 700.000 đồng).

Nguyễn Thị Ph thực hiện hành vi đánh bạc bằng hình thức mua bán số lô, đề thắng thua bằng tiền. Hình thức mua bán số lô, đề gồm:

  • - Mua, bán số đầu, đuôi: Ph bán từ số 00 đến 99 cho khách “mua số đầu, đuôi” và Ph sẽ ghi 02 bản 01 bản ghi vào giấy học sinh, 01 bản ghi vào giấy nhớ đưa cho khách mua. Khi có kết quả sổ xố nếu hai chữ số giải tám trùng với hai chữ số khách “mua số đầu” thì những khách “mua số đầu” thắng số tiền gấp 70 lần số tiền khách bỏ tiền mua, những người “mua số đầu” khác thì thua; nếu hai chữ số cuối giải đặc biệt trùng với hai chữ số khách “mua số đuôi” thì những khách “mua số đuôi” thắng số tiền gấp 70 lần số tiền khách bỏ tiền mua, những người “mua số đuôi” khác thì thua.
  • - Mua, bán bao lô: Ph bán từ số 00 đến 99 cho khách “mua bao lô” và Ph sẽ ghi 02 bản 01 bản ghi vào giấy học sinh, 01 bản ghi vào giấy nhớ đưa cho khách mua. Khi có kết quả sổ xố nếu hai chữ số của giải tám và hai chữ số cuối của những giải còn lại (tổng 18 lô) trùng với số khách mua thì khách sẽ thắng số tiền gấp 70/18×(số lô trùng với số khách mua), những người mua số khác 18 lô thì thua.

Trong quá trình mua, bán số đề Trần Thị X là người phụ giúp ghi số lô, số đề vào giấy nhớ cho những người mua. Sau đó X chuyển giấy nhớ đã ghi số lô, số đề cho Ph, rồi Ph ghi số lô, số đề vào giấy học sinh. Số tiền thu được từ người mua X sẽ giao hết cho Ph.

Cứ khách mua 13.000 đồng là bà Ph cho lại khách 3.000 đồng nhưng khi khách trúng bà Ph trả đủ số tiền 13.000 đồng khách mua.

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:

  • - Đối với 01 điện thoại Realme màu đỏ và số tiền 4.937.000 đồng bà X không sử dụng vào mục đích đánh bạc, đã trả lại cho bà X theo Quyết định xử lý vật chứng.
  • - Tổng số tiền thu giữ của Nguyễn Thị Ph là 26.080.000 đồng, đã được nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuy Phong, theo biên lai thu tiền số 0002603 ngày 10/5/2024.
  • - Chuyển đến kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuy Phong: 01 điện thoại Oppo màu xanh và 01 điện thoại Nokia màu bạc đã thu giữ của Nguyễn Thị Ph.
  • - Đối với: 03 tờ phơ đề loại giấy nhớ ghi phơ đề kích thước 4×6 cm ghi phơ đề ngày 13/01/2024 thu giữ trên tay của Trần Thị X; 01 tờ phơ đề ghi bằng giấy vở học sinh, 02 tờ phơ đề loại giấy nhớ kích thước 4×6cm ghi phơ đề ngày 13/01/2024; 01 vở học sinh ghi phơ đề ngày 12/01/2024 đã thu giữ của Nguyễn Thị Ph được chuyển kèm theo hồ sơ vụ án.

Tại bản Cáo trạng số 51/CT-VKSTP-HS ngày 28/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị Ph về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

  • - Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong: Giữ nguyên quan điểm như bản Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
  • Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Thị Ph phạm tội: “Đánh bạc”.
  • Áp dụng: khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự; xử phạt: bị cáo Nguyễn Thị Ph từ 25.000.000đồng đến 30.000.000đồng.
  • - Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; đề nghị tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 4.389.000đồng và 01 chiếc điện thoại nokia màu bạc bị cáo dùng đánh bạc; trả lại cho bị cáo 01 chiếc điện thoại Oppo màu xanh.
  • Tiếp tục tạm giữ của bị cáo Nguyễn Thị Ph số tiền 26.080.000 đồng theo biên thu tiền số 0002603 ngày 10/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuy Phong để đảm bảo thi hành án.
  • Đối với Hành vi đánh bạc ngày 12/01/2024 của Trần Thị X và Trần Văn S và hành vi đánh bạc vào ngày 13/01/2024 của Nguyễn Thị Ph, Trần Thị X, Mai Văn T, Đỗ Cao B, Nguyễn Tấn C, Nguyễn Minh H, Đặng Minh B, Hồ Văn L và Bùi Đức L chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự, Cơ quan điều tra đã chuyển hồ sơ đến Công an huyện Tuy Phong để xử phạt vi phạm hành chính theo quy định là phù hợp.
  • - Ý kiến của bị cáo: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã nêu là đúng, không oan; không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo biết mình sai đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các quyết định, hành vi tố tụng do cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đúng quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Bùi Đức L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ vắng mặt; xét thấy, ông L đã có lời khai tại hồ sơ. Việc vắng mặt ông L tại phiên tòa không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Sau khi nghe ý kiến của bị cáo và đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử quyết định tiếp tục giải quyết vụ án.

[2] Xét hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp khách quan với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà; đối chiếu lời khai của những người tham gia tố tụng khác, đủ cơ sở để kết luận: Vào ngày 12/01/2024, tại quán cà phê Điểm Hẹn thuộc khu phố Ph T, thị trấn Phan Rí Cửa, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận, Nguyễn Thị Ph đã có hành vi đánh bạc dưới hình thức bán số lô, đề các đài Vĩnh Long, đài Trà Vinh và đài Bình Dương với tổng số tiền là 5.919.000 đồng (trong đó số tiền bán số lô, số đề là 4.389.000đồng; số tiền khách mua số lô, đề trúng là 1.400.000đồng). Cụ thể: số tiền bán số đề đài Bình Dương là 773.000đồng, số tiền bán số đề đài Trà Vinh là 2.193.000đồng (tiền bán 1.493.000đồng + tiền trúng 700.000đồng), số tiền bán số đề đài Vĩnh Long là 2.953.000đồng (tiền bán 2.253.000đồng + tiền trúng 700.000đồng). Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong đã truy tố bị cáo về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất hành vi phạm tội: Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý, vì vậy bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về số tiền dùng để đánh bạc. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm trật tự cộng cộng, gây mất trật tự trị an ở địa phương, là nguyên nhân gây ra các tội phạm khác, vì vậy cần phải xử phạt nghiêm để trừng trị, giáo dục bị cáo và phòng ngừa trong xã hội, làm gương cho người khác.

[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
  • - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bị cáo có nơi cư trú ổn định, nên khi lượng hình cần xem xét để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Căn cứ vào tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo. Hội đồng xét xử, xét thấy chưa cần cách ly bị cáo khỏi xã hội mà chỉ cần áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo cũng có tác dụng giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung.

[5] Về xử lý vật chứng: Đối với 03 tờ phơ đề loại giấy nhớ kích thước 4x6cm có ghi các số lô, đề của Trần Thị X, 02 tờ phơ đề loại giấy nhớ kích thước 4x6cm có ghi các số lô, đề, 01 tờ phơ đề ghi bằng giấy vở học sinh và 01 cuốn vở học sinh của Nguyễn Thị Ph là vật chứng chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo được đánh số bút lục lưu trong hồ sơ vụ án là phù hợp.

  • [5.1] Đối với chiếc điện thoại nokia màu bạc bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
  • [5.2] Đối với chiếc điện thoại Oppo màu xanh bị cáo không sử dụng vào mục đích phạm tội nên trả lại cho bị cáo.
  • [5.3] Đối với số tiền 4.389.000đồng bị cáo dùng vào việc đánh bạc nên buộc bị cáo phải nộp lại để sung quỹ Nhà nước.

[6] Lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt và xử lý vật chứng là có căn cứ, nên cần chấp nhận.

[7] Đối với hành vi đánh bạc ngày 12/01/2024 của Trần Thị X và Trần Văn S và hành vi đánh bạc vào ngày 13/01/2024 của Nguyễn Thị Ph, Trần Thị X, Mai Văn T, Đỗ Cao B, Nguyễn Tấn C, Nguyễn Minh H, Đặng Minh B, Hồ Văn L và Bùi Đức L chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự, Cơ quan điều tra đã chuyển hồ sơ đến Công an huyện Tuy Phong để xử phạt vi phạm hành chính theo quy định là đúng quy định của pháp luật.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật hình sự.

  1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Ph phạm tội “Đánh bạc”.
  2. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Ph 25.000.000đồng (Hai mươi lăm triệu đồng).

  3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
    • - Buộc bị cáo Nguyễn Thị Ph phải nộp lại 4.389.000đồng (Bốn triệu ba trăm tám mươi chín nghìn đồng) để sung vào ngân sách Nhà nước.
    • - Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 chiếc điện thoại Nokia màu bạc.
    • - Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thị Ph 01 chiếc điện thoại Oppo màu xanh.
    • (Theo Biên bản giao vật chứng đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuy Phong ngày 28/5/2024) .
    • Tiếp tục tạm giữ của bị cáo Nguyễn Thị Ph số tiền 26.080.000 đồng (Hai mươi sáu triệu không trăm tám mươi nghìn đồng) theo biên thu tiền số 0002603 ngày 10/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuy Phong để đảm bảo thi hành án.
  4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  5. Buộc bị cáo Nguyễn Thị Ph phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  6. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bình Thuận;
  • - VKSND huyện Tuy Phong;
  • - Công an huyện Tuy Phong;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Thuận;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Chi cục THADS huyện Tuy Phong;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Thái Văn Trung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 61/2024/HS-ST ngày 18/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG, TỈNH BÌNH THUẬN về hình sự sơ thẩm (tội đánh bạc)

  • Số bản án: 61/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tội Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Ph - đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger