TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM Bản án số: 61/2023/HS-ST Ngày 17 tháng 11 năm 2023 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Trưởng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Tặng và ông Nguyễn Văn Đúng.
Thư ký phiên tòa: Ông Trần Nhật Trung - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam tham gia phiên tòa:
Ông Trần Ngọc Ánh - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 62/2023/TLST-HS ngày 11 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 62/2023/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 11 năm 2023, đối với bị cáo:
Dương Đức K, sinh năm 1987, tại tỉnh Hà Nam. Nơi cư trú: Tiểu khu T, thị trấn K, huyện T, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Văn K1 và bà Nguyễn Thị D; có vợ là Phạm Thị D1 và 02 con. Tiền án: Không; tiền sự: Ngày 18/01/2023 bị UBND huyện T, tỉnh Hà Nam xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 15.000.000 đồng về hành vi “Tàng trữ trái phép pháo”; bị tạm giữ từ ngày 12/7/2023 đến ngày 21/7/2023, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- + Anh Nguyễn Tuấn A, sinh năm 1990; nơi cư trú: Tổ dân phố M, phường L, thành phố P, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.
- + Anh Vũ Xuân T, sinh năm 1996; nơi cư trú: Tổ E, phường H, thành phố P, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vụ thứ nhất: Do có khó khăn về tài chính nên anh Nguyễn Tuấn A nhờ bạn là anh Vũ Xuân T giới thiệu để vay tiền Dương Đức K. Ngày 25/02/2022, anh T dẫn K đến cửa hàng sửa chữa xe máy của anh Tuấn A tại số nhà D đường T, thành phố P, tỉnh Hà Nam. Khi đến nơi, anh Tuấn A vay K 30.000.000 đồng nhưng K yêu cầu phải có tài sản thế chấp nên anh Tuấn A đã nhờ bạn là anh Nguyễn Đức V, chủ sở hữu xe mô tô nhãn hiệu Wave, biển kiểm soát 90B3 - 270.96 viết giấy bán xe cho K, đồng thời K giữ giấy đăng ký xe này. K cho anh Tuấn A vay số tiền 30.000.000 đồng với mức lãi suất là 5.000 đồng/1.000.000 đồng/ngày, thời hạn trả lãi là ngày 25 hàng tháng và anh Tuấn A viết giấy vay tiền với nội dung vay của K số tiền 30.000.000 đồng, K cắt lãi trước số tiền 4.500.000 đồng cho 30 ngày vay đầu tiên và sử dụng tài khoản ngân hàng M số [...] của mình chuyển số tiền 25.500.000 đồng vào tài khoản ngân hàng V1 số [...] của vợ anh Tuấn A là chị Hồ Duy L.
Từ thời điểm 25/4/2022 đến ngày 01/7/2023, anh Tuấn A đã sử dụng tài khoản ngân hàng V1 số [...] của chị Hồ Duy L chuyển vào tài khoản ngân hàng V2 số [...] và tài khoản ngân hàng M số [...] của Dương Đức K là 17 lần với tổng số tiền 50.900.000 đồng để trả tiền lãi vay hàng tháng. Ngoài ra, anh Tuấn A còn trả lãi 04 lần cho K bằng tiền mặt với tổng số tiền là 14.350.000 đồng. Sáng ngày 12/7/2023, tại ngã 5 M thuộc phường T, thành phố P, tỉnh Hà Nam, anh Tuấn A đã trả đủ K số tiền vay gốc là 30.000.000 đồng và số tiền lãi 2.250.000 đồng thì được K cho lại 250.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền lãi anh Tuấn A đã trả cho K là 71.750.000 đồng, tương đương với mức lãi suất 175,6%/năm.
Vụ thứ 2: Ngày 14/3/2022 anh Vũ Xuân T vay của Dương Đức K số tiền 15.000.000 đồng. Do cả hai quen biết với nhau nên K tính tiền lãi vay với mức 2.200.000 đồng/tháng và không yêu cầu anh T phải viết giấy vay nợ, đồng thời thông báo cắt lãi trước số tiền 2.200.000 đồng cho 30 ngày đầu tiên. Sau khi thống nhất, K đã sử dụng tài khoản ngân hàng V2 số [...] của mình chuyển số tiền 12.800.000 đồng vào tài khoản ngân hàng T1 số 19035381904015 của anh T.
Từ ngày 15/4/2022 đến ngày 19/6/2023 anh T đã sử dụng các tài khoản ngân hàng M số 6687789666666, T1 số 19035381904015, T1 số 6968288886 và V3 số 9622561996 của mình chuyển vào tài khoản ngân hàng V2 số [...] và tài khoản ngân hàng M số [...] của Dương Đức K là 22 lần với tổng số tiền 35.050.000 đồng để trả tiền lãi vay hàng tháng. Ngoài ra, anh T còn 01 lần trả lãi bằng tiền mặt cho K số tiền là 200.000 đồng. Tổng cộng số tiền lãi K đã thu của anh T là 35.250.000 đồng, tương đương với mức lãi suất 179,4%/năm.
Kết quả điều tra làm rõ: Số tiền K cho anh Nguyễn Tuấn A vay, lãi được hưởng theo quy định của pháp luật từ ngày 25/02/2022 đến ngày 12/7/2023 (497 ngày) như sau: (30.000.000 đồng x 20%/năm) x 497 ngày = 8.169.863 đồng. Anh Nguyễn Tuấn A đã trả tiền gốc 30.000.000 đồng, tiền lãi là: 71.750.000 đồng - 8.169.863 đồng = 63.580.137 đồng là số tiền hưởng lợi của người vay. Số tiền K cho anh Vũ Xuân T vay, lãi được hưởng theo quy định của pháp luật từ ngày 14/3/2022 đến ngày 12/7/2023 (478 ngày) như sau: (15.000.000 đồng x 20%/năm) x 478 ngày = 3.928.767 đồng. Anh T đã trả tiền lãi 35.250.000 đồng - 3.928.767 đồng = 31.321.233 đồng là số tiền hưởng lợi của người vay.
Qúa trình điều tra, Dương Đức K đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội và đã nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 32.000.000 đồng.
Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Tuấn A và anh Vũ Xuân T đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật. Bị cáo chưa trả lại số tiền hưởng lợi vượt mức lãi suất theo quy định của Bộ luật dân sự cho người vay.
Về vật chứng còn lại: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax màu vàng bên trong lắp 01 sim mạng Viettel và số tiền 32.000.000 đồng được chuyển đến Cục thi hành án dân sự tỉnh Hà Nam để phục vụ công tác xét xử.
Tại bản cáo trạng số 73/CT-VKS-P1 ngày 10/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam đã truy tố Dương Đức K về tội "Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự" theo quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam giữ nguyên Cáo trạng truy tố đối với bị cáo. Đề nghị áp dụng khoản 1, 3 Điều 201; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 36 Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Dương Đức K phạm tội " Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự". Xử phạt Dương Đức K từ 12 đến 15 tháng cải tạo không giam giữ, trừ thời gian bị cáo bị tạm giữ theo quy định của pháp luật. Phạt bổ sung bị cáo từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng nộp ngân sách nhà nước.
- Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Dương Đức K trả lại cho Nguyễn Tuấn A số tiền là 63.580.137 đồng; trả lại cho Vũ Xuân T số tiền là 31.321.233 đồng.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax màu vàng bên trong lắp 01 sim mạng Viettel và số tiền 32.000.000 đồng của Dương Đức K; truy thu số tiền 10.098.630 đồng của Dương Đức K và số tiền 15.000.000 đồng mà Dương Đức K cho anh Vũ Xuân T vay nộp ngân sách nhà nước. Bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
- Bị cáo Dương Đức K khai nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng: Qúa trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về hành vi và tội danh: Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, vật chứng, đồ vật thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án. Do đó, đủ căn cứ kết luận: Ngày 25/02/2022 đến ngày 12/7/2023, Dương Đức K đã cho anh Nguyễn Tuấn A vay số tiền 30.000.000 đồng với lãi suất 175,6%/năm (gấp 8,78 lần mức lãi suất cao nhất được quy định tại tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự), thu lợi bất chính số tiền 63.580.137 đồng. Từ ngày 14/3/2022 đến ngày 12/7/2023 Dương Đức K đã cho anh Vũ Xuân T vay số tiền 15.000.000 đồng với lãi suất 179,4%/năm (gấp 8,97 lần mức lãi suất cao nhất được quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự), thu lợi bất chính số tiền 31.321.233 đồng. Tổng số tiền Dương Đức K đã thu lợi bất chính từ hai khoản tiền cho vay là 94.901.370 đồng.
Hành vi nêu trên của Dương Đức K là nguy hiểm cho xã hội, đã phạm vào tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật hình sự.
Hành vi của bị cáo xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước, bóc lột tài sản của người khác bị pháp luật nghiêm cấm, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội. Vì vậy, cần phải xử phạt nghiêm đối với bị cáo mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo:
Bị cáo Dương Đức K nhiều lần thực hiện hành vi phạm tội, mỗi lần đều đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Quá trình điều tra, tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tự nguyện nộp lại một phần số tiền thu lời bất chính nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, đã bị xử phạt hành chính về hành vi “Tàng trữ trái phép pháo” nên cần áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ và khấu trừ phần trăm thu nhập đối với bị cáo theo Điều 36 Bộ luật hình sự là phù hợp.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội vì mục đích vụ lợi nên phạt tiền đối với bị cáo theo quy định Điều 35, khoản 3 Điều 201 Bộ luật hình sự.
- Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Tuấn A và anh Vũ Xuân T đều yêu cầu anh Dương Đức K trả lại số tiền lãi đã trả vượt quá quy định của pháp luật là phù hợp với Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20 tháng 12 năm 2021 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 201 Bộ luật hình sự và việc xét xử vụ án hình sự về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự. Vì vậy, Dương Đức K phải trả lại anh Nguyễn Tuấn A số tiền lãi vượt quá là 63.580.137 đồng, anh Vũ Xuân T số tiền lãi vượt quá là 31.321.233 - 15.000.000 đồng (tiền gốc anh T chưa trả) nên bị cáo còn phải trả anh T số tiền là 16.321.233 đồng.
- Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp khác:
- - Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax màu vàng bên trong lắp 01 sim mạng Viettel bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội tịch thu sung quỹ nhà nước.
- - Đối với số tiền bị cáo cho anh Vũ Xuân T vay 15.000.000 đồng, số tiền 30.000.000 đồng cho anh Nguyễn Tuấn A, tổng là 45.000.000 đồng, đây là tiền sử dụng vào thực hiện hành vi phạm tội nên truy thu nộp ngân sách nhà nước, trừ với số tiền 32.000.000 đồng bị cáo đã nộp, còn lại phải nộp tiếp là 13.000.000 đồng (Mười ba triệu đồng).
- - Đối với số tiền lãi tương ứng với mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật dân sự là 12.098.630 đồng (trong đó của anh Nguyễn Tuấn A là 8.169.863 đồng, của Vũ Xuân T là 3.928.767 đồng của Vũ Xuân T) do phạm tội mà có nên cần truy thu nộp ngân sách nhà nước.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo, người có quyền lợi, nghia vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1, 3 Điều 201; Điều 50; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; các Điều 35, 36, 46, 47 và 48 Bộ luật hình sự. Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20 tháng 12 năm 2021 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao. Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án
- Về hình sự: Tuyên bố Dương Đức K phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
Xử phạt: Dương Đức K 12 (Mười hai) tháng cải tạo không giam giữ, trừ 09 (Chín) ngày bị tạm giữ quy đổi là 27 (Hai mươi bảy) ngày cải tạo không giam giữ, bị cáo Dương Đức K còn phải chấp hành 11 (Mười một) tháng 03 (Ba) ngày cải tạo không giam giữ, thời hạn tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nhận được quyết định thi hành án.
Và khấu trừ phần trăm thu nhập của Dương Đức K được thực hiện hàng tháng số tiền là 500.000 (Năm trăm nghìn) đồng để sung quỹ nhà nước.
Giao bị cáo Dương Đức K cho Ủy ban nhân dân thị trấn K, huyện T, tỉnh Hà Nam giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã trong việc giám sát, giáo dục bị cáo Dương Đức K.
Hình phạt bổ sung: Phạt Dương Đức K 30.000.000 (Ba mươi triệu) đồng sung quỹ nhà nước.
- Về trách nhiệm dân sự: Buộc Dương Đức K phải trả lại anh Nguyễn Tuấn A số tiền là 63.580.137 đồng, làm tròn thành 63.580.000 (Sáu mươi ba triệu năm trăm tám mươi nghìn) đồng; trả lại anh Vũ Xuân T số tiền là 31.321.233 đồng - 15.000.000 đồng (tiền gốc anh T chưa trả), còn lại phải trả anh T là 16.321.233 đồng, làm tròn thành 16.321.000 (Mười sáu triệu ba trăm hai mươi mốt nghìn) đồng.
- Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp khác:
- - Tịch thu của Dương Đức K 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax màu vàng bên trong lắp 01 sim mạng Viettel sung quỹ nhà nước.
- - Truy thu của Dương Đức K số tiền 45.000.000 đồng nộp ngân sách nhà nước, trừ số tiền 32.000.000 đồng đã nộp, còn lại K phải nộp tiếp là 13.000.000 (Mười ba triệu) đồng.
- - Truy thu của Dương Đức K số tiền 12.098.630 đồng, làm tròn thành 12.098.600 (Mười hai triệu không trăm chín mươi tám nghìn sáu trăm) đồng do phạm tội mà có nộp ngân sách nhà nước.
- (Đặc điểm, tình trạng, số hiệu được ghi trong biên bản giao, nhận vật chứng lập ngày 26/10/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh H và Cục thi hành án dân sự tỉnh Hà Nam và ủy nhiệm chi số 2800 lập ngày 03/11/2023 tại Kho bạc nhà nước tỉnh H).
- Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
- Về án phí: Buộc bị cáo Dương Đức K phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng và án phí dân sự sơ thẩm là 3.995.000 đồng (Ba triệu chín trăm chín mươi lăm nghìn) đồng.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, có quyền yêu cầu thi hành, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Quốc Trưởng |
Bản án số 61/2023/HS-ST ngày 17/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM về hình sự sơ thẩm (cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự)
- Số bản án: 61/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự với mức lãi 179% phải chịu trách nhiệm hình sự. thu số tiền do phạm tội mà có và thu số tiền gốc.
