Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BẢO THẮNG

TỈNH LÀO CAI

Bản án số: 61/2023/ HS - ST

Ngày 17 - 11 - 2023

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO THẮNG, TỈNH LÀO CAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Như Long
  • Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Thu Hương
  • Bà: Trần Thị Huệ

Thư ký phiên toà: Ông Chu Quyết Thắng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Hải Bằng – Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 11 năm 2023, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai và điểm cầu thành phần nhà tạm giữ công an huyện B, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 57/2023/TLST-HS ngày 19/10/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 55/2023/QĐXXST-HS ngày 06/11/2023 đối với các bị cáo:

  1. Thào Seo Q - Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không.

    Sinh ngày 02 tháng 8 năm 2001, tại huyện B, tỉnh Lào Cai.

    Nơi cư trú: Thôn V, thị trấn nông trường P, huyện B, tỉnh Lào Cai.

    Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mông; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Tự do. Chức vụ Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không. Trình độ học vấn: 08/12.

    Con ông: Thào Seo P - Sinh năm 1976; Con bà: Sùng Thị S - Sinh năm 1976, hiện cùng trú tại thôn V, thị trấn nông trường P, huyện B, tỉnh Lào Cai. Gia đình bị cáo có 05 anh em, bị cáo là con thứ ba. Bị cáo chưa có vợ, con.

    Tiền án; Tiền sự: Không.

    Bị cáo Thào Seo Q bị tạm giữ từ ngày 29/8/2023, tạm giam ngày 04/9/2023. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện B - Có mặt tại phiên tòa, điểm cầu thành phần nhà tạm giữ công an huyện B, tỉnh Lào Cai.

    Nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân tốt bản thân chưa có tiền án tiền sự.

  2. Lù Seo S1 - Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 10 tháng 6 năm 2001, tại huyện B, tỉnh Lào Cai.

    Nơi cư trú: Thôn V, thị trấn nông trường P, huyện B, tỉnh Lào Cai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mông; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Tự do. Chức vụ Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không. Trình độ học vấn: 08/12. Con ông: Lù Seo Cấu - Sinh năm 1960; Con bà: Ly Thị V - Sinh năm: 1959. Hiện cùng trú tại: Thôn V, thị trấn nông trường P, huyện B, tỉnh Lào Cai. Gia đình bị cáo có 08 anh em, bị cáo là con thứ sáu. Bị cáo chưa có vợ, con.

    Tiền án; Tiền sự: Không.

    Bị cáo Lù Seo S2 bị tạm giữ từ ngày 29/8/2023, tạm giam ngày 04/9/2023. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện B, tỉnh Lào Cai - Có mặt tại phiên tòa.

    Nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân tốt bản thân chưa có tiền án tiền sự.

Người bào chữa cho bị cáo Thào Seo Q và Lù S: Bà Đỗ Thị Thu B - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh L - Có mặt tại phiên tòa, điểm cầu thành phần nhà tạm giữ công an huyện B, tỉnh Lào Cai.

Bị hại: Bà Thào Thị M - Sinh năm: 1963.

Trú tại: Thôn V, thị trấn Nông trường P, huyện B, tỉnh Lào Cai - Vắng mặt tại phiên tòa (Đã có đơn xin xét xử vắng mặt).

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Lù Seo C; Sinh năm: 1960.

    Trú tại: Thôn V, thị trấn nông trường P, huyện B, tỉnh Lào Cai - Có mặt tại phiên tòa, điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai.

  2. Anh Nguyễn Văn T - Sinh năm: 1991.

    Trú tại: Thôn Đ, xã T, huyện B, tỉnh Lào Cai - Vắng Mặt không có lý do.

Những người làm chứng:

  1. Anh Trần Tiến T1; Sinh năm: 1985.

    Trú tại: Thôn B, xã B, huyện B, tỉnh Lào Cai - Vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.

  2. Anh Thào Seo P; Sinh năm: 1976

    Trú Tại: Thôn V, thị trấn nông trường P, huyện B, tỉnh Lào Cai - Có mặt tại phiên tòa, điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai.

Những người tham gia hỗ trợ tổ chức phiên tòa tại điểm cầu thành phần nhà tạm giữ công an huyện B gồm có: Ông Nguyễn Tất T2 và ông Nguyễn Xuân A - Cán bộ văn phòng Tòa án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 23 giờ ngày 26/8/2023, sau khi chơi Game ở tổ dân phố số C, thị trấn nông trường P, huyện B, tỉnh Lào Cai Thào Seo Q nói với Lù S3 Sèng “Đi lên thôn V xem có gì lấy trộm mang đi bán”, Lù Seo S2 đồng ý và sử dụng xe mô tô BKS 24B2 - 951.76 thuộc sở hữu của ông Lù Seo C (Là bố đẻ của Lù Seo Sèng) chở Thào Seo Q đi lên thôn V, thị trấn nông trường P, đi được khoảng 3km đến đoạn đường dốc, Lù S để xe tại đây rồi cùng Thào Seo Q đi bộ lên thôn V, đi được khoảng 200m cả hai phát hiện có 01 chiếc xe mô tô BKS 24B2 - 625.35 là tài sản của bà Hạng Thị M1; Sinh năm: 1963; Trú tại: Thôn V, thị trấn nông trường P, huyện B, để ở lề đường liên thôn. Thào Seo Q tiến đến kiểm tra thấy xe không có chìa khoá điện, xe không khoá càng, khoá cổ Thào Seo Q cùng Lù S3 Sèng ngồi lên xe thả trôi dốc. Đến chân dốc, nơi để xe mô tô BKS 24B2-951.76, Thào Seo Q, Lù Seo S dùng dây cao su trong cốp xe mô tô BKS 24B2-951.76 buộc vào xe mô tô BKS 24B2-625.35 rồi Lù Seo S2 điều khiển xe mô tô BKS 24B2-951.76 kéo xe mô tô BKS 24B2-625.35 do Thào Quan điều khiển đi đến thôn Đ, xã T, huyện B, tỉnh Lào Cai để thay ổ khoá nhưng lúc này trời chưa sáng nên Thào Seo Q để xe mô tô BKS 24B2-625.35 ở lề đường rồi ngủ tại đó, còn L Seo Sèng điều khiển xe mô tô BKS 24B2-951.76 đi về nhà. Đến khoảng 09 giờ ngày 27/8/2023, Lù Seo S2 điều khiển xe mô tô BKS 24B2-951.76 đến gặp Thào Seo Q rồi cùng nhau đi đến cửa hàng sửa chữa xe máy của anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1991, trú tại thôn Đ, xã T, huyện B, tỉnh Lào Cai để thay ổ khoá chiếc xe mô tô BKS 24B2-625.35 hết 500.000 đồng, do không có tiền trả nên Lù S3 Sèng để lại đăng ký xe BKS 24B2-951.76 cho anh Nguyễn Văn T để làm tin. Sau đó Lù S3 Sèng điều khiển xe mô tô BKS 24B2-951.76, Thào Seo Q điều khiển xe mô tô BKS 24B2-625.35 đi vào xã B, huyện B, tỉnh Lào Cai để bán xe. Khi đi đến ngã ba K 38 thuộc thôn B, xã X, huyện B, tỉnh Lào Cai thì Lù Seo Sèng để xe mô tô BKS 24B2-951.76 ở lề đường và sang xe mô tô BKS 24B2-625.35 chở Thào Seo Quan đi vào cửa hàng mua bán xe máy của anh Trần Tiến T1, sinh năm 1985, trú tại thôn B, xã B, huyện B, tỉnh Lào Cai. Lù Seo S2 và Thào Seo Q thống nhất bán xe mô tô BKS 24B2-625.35 cho anh Trần Tiến T1 với giá 9.000.000 đồng, nhưng do không có giấy tờ xe nên anh Trần Tiến T1 chỉ đồng ý trả cho Lù Seo S2 và Thào Seo Q 3.000.000 đồng và nói khi nào mang giấy tờ xe đến thì lấy nốt số tiền 6.000.000 đồng. Sau khi nhận 3.000.000đ của anh Trần Tiến T1, Lù S và Thào Seo Q đi bộ ra chỗ để xe mô tô của Lù S3 Sèng điều khiển xe mô tô BKS 24B2-951.76 chở Thào Seo Quan đi đổ xăng hết 100.000 đồng. Sau đó, Lù S chở Thào Seo Q đến nhà anh Nguyễn Văn T trả tiền thay 02 ổ khóa xe hết 500.000 đồng và lấy lại đăng ký xe và cả hai đi lên thị xã S, tỉnh Lào Cai chơi, trên đường đi Lù Seo Sèng chia cho Thào Seo Q 1.200.000 đồng, Lù S3 Sèng giữ 1.200.000 đồng. Thào Seo Q đã chi tiêu cá nhân hết 1.200.000 đồng, Lù S3 Sèng chi tiêu cá nhân hết 1.000.000 đồng. Ngày 28/8/2023, Công an thị trấn nông trường P1, huyện B triệu tập T, Lù Seo Sèng lên làm việc, Thào Seo Q và Lù Seo S2 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, Lù Seo S2 giao nộp lại 200.000 đồng là khoản tiền còn lại do thực hiện hành vi phạm tội mà có.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 33/KL-HĐĐGTS ngày 31 tháng 8 năm 2023 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện B, tỉnh Lào Cai, kết luận: Xe mô tô biển số 24B2-625.35 có trị giá là 11.000.000 đồng (Mười một triệu đồng).

Về vật chứng: Quá trình điều tra cơ quan điều tra đã thu giữ 01 căn cước công dân mang tên Thào Seo Q; 01 căn cước công dân mang tên Lù Seo S2; 01 xe mô tô BKS 24B2-951.76; 01 đăng ký xe mô tô BKS 24B2-951.76 mang tên Lù Seo C; 01 xe mô tô BKS 24B2-625.35; 01 chìa khoá xe mô tô BKS 24B2-625.35; 01 dây cao su màu đen, dây hình vuông có cạnh 0,5cm, chiều dài 3,6m; 02 ổ khoá xe mô tô BKS 24B2-625.35; 500.000 đồng tạm giữ của anh Nguyễn Văn T; 200.000 đồng tạm giữ của Lù Seo S2.

Ngày 14/9/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã ra quyết định xử lý vật chứng số 31A/QĐ- ĐCSHS trả lại tài sản cho các chủ sở hữu hợp pháp như sau:

  • - Trả lại cho bà Hạng Thị M1 01 chiếc xe mô tô BKS 24B2-625.35; 01 chìa khoá xe mô tô BKS 24B2-625.35.
  • - Trả lại cho Thào Seo Q, Lù Seo Sèng 01 căn cước công dân mang tên Thào Seo Q; 01 căn cước công dân mang tên Lù Seo S2.

Vật chứng còn lại của vụ án gồm: 01 xe mô tô BKS 24B2-951.76; 01 đăng ký xe mô tô BKS 24B2-951.76 mang tên Lù Seo C; 01 dây cao su màu đen, dây hình vuông có cạnh 0,5cm, chiều dài 3,6m; 02 ổ khoá xe mô tô; 500.000 đồng tạm giữ của anh Nguyễn Văn T; 200.000 đồng tạm giữ của Lù Seo S2. Hiện cơ quan điều tra công an huyện B đã chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bảo Thắng để phục vụ công tác xét xử và thi hành án (BL 244).

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại bà Hạng Thị M1 đã nhận lại tài sản là chiếc xe mô tô BKS 24B2-625.35 và số tiền 3.000.000 đồng bà đã bỏ ra trả cho anh Trần Tiến T1 để chuộc lại chiếc xe mô tô BKS 24B2-625.35. Nay các bị cáo đã tác động với gia đình đã bồi thường đầy đủ cho bà Hạng Thị M1 mỗi người 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng). Nên bà Hạng Thị M1 không yêu cầu giải quyết về trách nhiệm dân sự và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo.

Ông Lù Seo C (là bố đẻ bị cáo Lù Seo S2) và ông Thào Seo P (Là bố đẻ bị cáo Thào Seo Q) đến nay không yêu cầu các bị cáo Thào Seo Q, Lù Seo S2 phải hoàn trả lại số tiền trên.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn T yêu cầu các bị cáo Thào Seo Q, Lù Seo S2 phải có trách nhiệm trả lại cho anh số tiền 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) do các bị cáo trả tiền thay ổ khoá xe mô tô BKS 24B2-625.35 mà anh đã nộp lại cho cơ quan điều tra. Ngày 14/9/2023, ông Thào Seo P là bố đẻ bị cáo Thào Seo Q đã trả cho anh Nguyễn Văn T số tiền 250.000 đồng. Đến nay ông Thào Seo P không yêu cầu bị cáo Thào Seo Q phải hoàn trả số tiền trên. Đối với bị cáo Lù S3 S2 đồng ý trả cho anh Nguyễn Văn T số tiền 250.000 đồng nhưng chưa có để trả.

Trên cơ sở tài liệu chứng cứ đã thu thập được cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B đã ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can và thi hành lệnh bắt tạm giam đối với các bị cáo để điều tra về hành vi "Trộm cắp tài sản".

Cáo trạng số 56/CT-VKSBT ngày 18/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai truy tố các bị cáo Thào Seo Q và Lù Seo S2 về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà hôm nay đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Thào Seo Q và Lù S3 Sèng phạm tội " Trộm cắp tài sản".

Đề nghị áp dụng Khoản 1 Điều 173; Điểm b, h, i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Thào Seo Q từ 09 (Chín) đến 12 (Mười hai) tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản". Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 29/8/2023.

Xử phạt bị cáo L Seo Sèng từ 06 (Sáu) đến 09 (C1) tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản". Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 29/8/2023.

Về hình phạt bổ xung: Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Viện kiểm sát không đề cập giải quyết.

Về vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên:

  • - Trả lại cho ông L Seo Cấu 01 xe mô tô BKS 24B2-951.76; 01 đăng ký xe mô tô BKS 24B2-951.76 mang tên Lù Seo C; 01 dây cao su màu đen, dây hình vuông có cạnh 0,5cm, chiều dài 3,6m;
  • - Tịch thu 02 ổ khoá xe mô tô đã cũ không còn giá trị xử dụng đề tiêu hủy;
  • - Tiếp tục tạm giữ 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) của Lù S để đảm bảo thi hành án.

Đối với số tiền 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng) thu giữ của anh Nguyễn Văn T hiện đang lưu giữ tại chi cục thi hành án huyện Bảo Thắng. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên trả lại cho bị cáo Thào Seo Q 250.000đ và tạm giữ 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) để đảm bảo thi hành án còn lại 50.000đ tuyên trả lại cho bị cáo Thào Seo Q.

Đối với số tiền 250.000đ còn lại của anh Nguyễn Văn T trong tổng số 500.000đ đề nghị Hội đồng xét xử tuyên trả lại cho anh Nguyễn Văn T.

Tuyên án phí và quyền kháng cáo cho các bị cáo, người bị hại và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án theo quy định của pháp luật.

Ý kiến của người bào chữa cho các bị cáo: Tại phiên tòa người bào chữa cho các bị cáo Thào Seo Q và bị cáo Lù S3 Sèng sau khi phân tích, đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân, điều kiện hoàn cảnh phạm tội của các bị cáo người bào chữa cho các bị cáo có ý kiến nhất trí với điều luật và tội danh mà Viện kiểm sát truy tố. Người bào chữa cho các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 1 Điều 173; Điểm b, h, i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Thào Seo Q với mức hình phạt từ 06 đến 09 tháng tù.

Áp dụng Khoản 1 Điều 173; Điểm b, h, i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 65 của Bộ luật hình sự Xử phạt bị cáo L Seo Sèng với mức hình phạt là 06 tháng tù cho hưởng án treo.

Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về vật chứng: Nhất trí với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện B, tỉnh Lào Cai, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, người bị hại, những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp và đúng với trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật. Vụ án không thuộc trường hợp trả hồ sơ để điều tra bổ xung.

[[2] Về hành vi phạm tội: Lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp khách quan với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, cụ thể: Khoảng 23 giờ ngày 26/8/2023 sau khi chơi Game ở tổ dân phố số C, thị trấn nông trường P, huyện B, tỉnh Lào Cai Thào Seo Q nói với Lù S3 Sèng “Đi lên thôn V xem có gì lấy trộm mang đi bán”, Lù Seo S2 đồng ý và điều khiển xe mô tô BKS 24B2 - 951.76 thuộc sở hữu của ông Lù Seo C (Là bố đẻ của Lù Seo Sèng) chở Thào Seo Q đi lên thôn V, thị trấn nông trường P và thực hiện hành vi trộm cắp chiếc xe mô tô BKS 24B2 - 625.35 là tài sản của bà Hạng Thị M1; Sinh năm: 1963; Trú tại: Thôn V, thị trấn nông trường P, huyện B có trị giá theo kết luận của hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện B là 11.000.000đ (Mười một triệu đồng) rồi cùng nhau đem đến cửa hàng mua bán xe máy của anh Trần Tiến T1, sinh năm 1985, trú tại thôn B, xã B, huyện B, tỉnh Lào Cai. Lù Seo S2 và Thào Seo Q thống nhất bán xe mô tô BKS 24B2-625.35 trộm cắp được cho anh Trần Tiến T1 với giá 9.000.000 đồng, nhưng anh Trần Tiến T1 mới trả cho các bị cáo 3.000.000₫ do xe chưa có đủ giấy tờ hợp lệ, số tiền 3.000.000₫ sau khi nhận các bị cáo mua xăng hết 100.000đ và trả tiền thay ổ khóa xe cho anh Nguyễn Văn T 500.000đ còn lại Lù S và Thào Seo Q chia nhau mỗi người 1.200.000đ. Thào Seo Q đã chi tiêu cá nhân hết, Lù Seo S2 đã chi tiêu cá nhân hết 1,000.000đ còn lại 200.000đ khi bị bắt Lù S đã nộp lại cho cơ quan điều tra. Đến ngày 28/8/2023 Công an thị trấn nông trường P1, huyện B đã triệu tập Thào Seo Q và Lù S3 Sèng đến làm việc. Tại đây Thào Seo Q và Lù Seo S2 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân.

Các bị cáo Thào Seo Q và Lù Seo S2 đều là những người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và hiểu biết pháp luật. Các bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu tài sản đã cùng nhau thực hiện hành vi trộm cắp chiếc xe của bà Hạng Thị M1 có trị giá là 11.000.000đ. Đây là vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn trong đó bị cáo Thào Seo Q là người chủ mưu, khởi xướng, đồng thời là người trực tiếp tích cực thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy bị cáo Thào Seo Q phải chịu trách nhiệm hình sự với vai trò chính trong vụ án.

Đối với bị cáo Lù S3 Sèng sau khi được bị cáo Thào Seo Q rủ đi "Trộm cắp tài sản" bị cáo đã đồng ý ngay và sử dụng xe máy của ông Thào Seo C2 chở Thào Seo Q đi thực hiện hành vi phạm tội, khi đến nơi bị cáo đã cùng bị cáo Thào Seo Q tích cực thực hiện hành vi phạm tội. Khi lấy được xe đem đi bán bị cáo là người trực tiếp giao dịch và nhận tiền và chia tiền cho bị cáo Thào Seo Q. Do vậy bị cáo Lù Seo S2 phải chịu trách nhiệm hình sự với vai trò là đồng phạm trong vụ án.

Như vậy có đủ cơ sở kết luận các bị cáo Thào Seo Q và Lù Seo S2 đã phạm tội “ Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự như kết luận của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, trị an ở địa phương. Xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 1 Điều 173, Điểm b, h, i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Lù S3 Sèng mức án từ 06 đến 09 tháng tù là phù hợp. Đối với bị cáo Thào Seo Q đại diện Viện kiểm sát đề nghị với mức hình phạt từ 09 đến 12 tháng tù là cao, chưa đánh giá đúng tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Tuy nhiên bị cáo Thào Seo Q trong vụ án này là người khởi sướng, chủ mưu nhưng bản thân bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, tài sản các bị cáo chiếm đoạt là 11 triệu đồng, bản thân có 04 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự và 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do vậy đối với bị cáo chỉ cần nên mức án là 08 tháng tù là phù hợp, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo và cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Đối với ý kiến đề nghị của người bào chữa cho các bị cáo tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Lù S3 Sèng 06 tháng tù cho hưởng án treo là chưa đánh giá đúng tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo Lù Seo S2. Tuy là đồng phạm trong vụ án nhưng sau khi bị cáo được Thào Seo Q rủ đi trộm cắp, bị cáo đã nhất trí ngay và đã sử dụng xe của bố bị cáo làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội, đồng thời là người tích cực thực hiện hành vi phạm tội cùng với Thào Seo Q, khi trộm cắp được xe bị cáo đã chủ động tìm chỗ bán xe, chủ động giao dịch và chia tiền cho bị cáo Thào Seo Q. Do vậy việc đề nghị của người bào chữa cho bị cáo L Seo Sèng được hưởng mức án là 06 tháng tù cho hưởng án treo là không phù hợp nên hội đồng xét xử không chấp nhận mà cấn cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian thì mới có tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung.

[3]Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo:

Các bị cáo Thào Seo Q và Lù Seo S2 đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự.

[4] Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo:

Các bị cáo Thào Seo Q, Lù Seo S đều có 04 tình tiết giảm nhẹ được quy định tại các Điểm b, h, i, s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự là "Người phạm tội tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả"; "Gây thiệt hại không lớn"; "Phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng"; "Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải" và 01 tình tiết giảm nhẹ được quy định tại Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự đó là người bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo. Do vậy khi lượng hình Hội đồng xét xử cũng cần cân nhắc xem xét để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo thể hiện tính khoan hồng của Đảng và Nhà nước ta.

[5] Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo đều là người không có công ăn việc làm ổn định,chưa có vợ con, sống phụ thuộc gia đình, không có tài sản riêng, điều kiện hoàn cảnh gia đình khó khăn là hộ nghèo. Viện kiểm sát, người bào chữa cho các bị cáo đều không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo là có căn cứ. Nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo là phù hợp với các quy định của pháp luật.

[6] Liên quan trong vụ án còn có anh Nguyễn Văn T là người đã thay 02 ổ khóa xe cho Thào Seo Q và Lù S3 Sèng vào sáng ngày 27/8/2023, khi thay Nguyễn Văn T không biết chiếc xe là do phạm tội mà có. Nguyễn Văn T không liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo. Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát không đề cập xử lý. Hội đồng xét xử xét thấy là phù hợp với các quy định của pháp luật nên không đề cập xử lý.

Đối với anh Trần Tiến T1 là người mua chiếc xe xe mô tô BKS 24B2-625.35 do các bị cáo trộm cắp được mà có. Quá trình điều tra xác định anh Trần Tiến T1 không biết chiếc xe biển kiểm soát 24B2 - 625.35 do các bị cáo phạm tội mà có. Nên cơ quan điều tra, Viện kiểm sát không đề cập xử lý đối với anh Trần Tiến T1 là có căn cứ đúng pháp luật. Nên Hội đồng xét xử không đề cập xử lý.

Đối với ông Lù Seo C là bố đẻ của bị cáo L Seo Sèng là chủ sở hữu chiếc xe mô tô biển kiểm soát 24B2 - 951.76. Việc các bị cáo Lù Seo S2 và Thào Seo Q đã sử dụng chiếc xe trên của ông để làm phương tiện trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội. Quá trình điều tra xác định ông Lù Seo C không biết, không liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo. Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát không đề cập xử lý. Hội đồng xét xử xét thấy là có căn cứ phù hợp với các quy định của pháp luật nên không đề cập xử lý.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra người bị hại bà Hạng Thị M1 đã được cơ quan điều tra Công an huyện B trả lại tài sản và đã nhận lại số tiền chuộc xe 3.000.000₫ (Ba triệu đồng) do gia đình các bị cáo bồi thường. Đến nay bà Hạng Thị M1 không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường thêm khoản chi phí nào khác. Viện kiểm sát không đề cập xử lý. Hội đồng xét xử xét thấy là phù hợp nên không đề cập xử lý.

Đối với ông Thào Seo P (Là bố đẻ bị cáo Thào Seo Q) đã bỏ ra số tiền 1.750.000đ (Một triệu bẩy trăm năm mươi nghìn đồng) bồi thường thay cho bị cáo Thào Seo Q cho bà Hạng Thị M1 và anh Nguyễn Văn T đến nay ông Thào Seo P không yêu cầu bị cáo phải hoàn trả lại. Viện kiểm sát không đề cập. Hội đồng xét xử không đề cập xử lý.

Đối với ông Lù Seo C (Bố đẻ bị cáo Lù Seo S2) đã bỏ ra số tiền 1.500.000₫ (Một triệu năm trăm nghìn đồng) bồi thường thay cho bị cáo Lù Seo S2 cho bị hại Hạng Thị M1 đến nay ông L Seo Cấu không yêu cầu bị cáo phải hoàn trả lại. Viện kiểm sát không đề cập. Hội đồng xét xử không đề cập xử lý.

[8]Về vật chứng: Quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã thu giữ và ra quyết định xử lý vật chứng số 31A/QĐ - ĐCSHS ngày 14/9/2023 trả lại cho bị hại bà Hạng Thị M1 01 chiếc xe mô tô BKS 24B2-625.35; 01 chìa khoá xe mô tô BKS 24B2 - 625.35; Trả cho Thào Seo Q 01 căn cước công dân mang tên Thào Seo Q; Trả cho Lù S3 Sèng 01 căn cước công dân mang tên Lù Seo S2. Đến nay những người này không có ý kiến gì. Viện kiểm sát không đề cập xử lý. Hội đồng xét xử xét thấy là phù hợp nên không đề cập xử lý.

Đối với vật chứng còn lại: 01 xe mô tô BKS 24B2-951.76; 01 đăng ký xe mô tô BKS 24B2-951.76 mang tên Lù Seo C; 01 dây cao su màu đen, dây hình vuông có cạnh 0,5cm, chiều dài 3,6m là phương tiện các bị cáo sử dụng trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội. Hiện đang lưu giữ tại chi cục thi hành án dân sự huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai. Quá trình điều tra xác định đây là tài sản của ông Lù Seo C (Bố đẻ bị cáo Lù Seo S2) khi các bị cáo sử dụng thực hiện hành vi phạm tội ông Lù Seo C không biết và không liên quan gì đến hành vi phạm tội của các bị cáo. Do vậy Hội đồng xét xử cần áp dụng Điểm b Khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên trả lại cho ông L Seo Cấu tài sản trên là có căn cứ và phù hợp với ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

Đối với 02 ổ khoá xe mô tô của xe BKS 24B2-625.35 đã hỏng không còn giá trị sử dụng quá trình điều tra cơ quan điều tra thu giữ và hiện đang lưu giữ tại chi cục thi hành án dân sự huyện Bảo Thắng. Hội đồng xét xử cần áp dụng Điểm c Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên tịch thu để tiêu hủy.

Đối với số tiền 200.000 đồng tạm giữ của Lù Seo S2. Quá trình điều tra xác định đây là số tiền do phạm tội mà có nhưng quá trình điều tra bị cáo đã bồi thường cho bị hại đầy đủ. Hội đồng xét xử cần áp dụng Điểm b Khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên trả lại cho bị cáo L Seo Sèng đồng thời tuyên tạm giữ số tiền trên của Lù Seo Sèng để đảm bảo thi hành án là có căn cứ và phù hợp với ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

Đối với số tiền 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng) của anh Nguyễn Văn T là tiền thay khóa xe cho các bị cáo, anh Nguyễn Văn T đã nộp lại cho cơ quan điều tra, hiện đang tạm giữ tại chi cục thị hành án dân sự huyện B. Quá trình điều tra anh Nguyễn Văn T đã được ông Thào Seo P (Bố đẻ bị cáo Thào Seo Q đã bồi thường cho anh Nguyễn Văn T 250.000đ. Do vậy số tiền 500.000đ hiện đang tạm giữ tại chi cục thi hành án dân sự huyện Bảo Thắng cần tuyên trả cho bị cáo Thào Seo Q 250.000đ, đồng thời tạm giữ của Thào Seo Q 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) để đảm bảo thi hành án và tuyên trả lại cho bị cáo Thào Seo Q 50.000đ (Năm mươi nghìn đồng). T3 trả lại cho anh Nguyễn Văn T 250.000₫ (Hai trăm năm mươi nghìn đồng) là có căn cứ, phù hợp với ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

[9] Về án phí: Các bị cáo Thào Seo Q và Lù S3 Sèng mỗi bị cáo phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố các bị cáo Thào Seo Q, L Sèng phạm tội “ Trộm cắp tài sản”.

  1. Về hình phạt: Căn Cứ vào Khoản 1 Điều 173; Điểm b, h, i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58 của Bộ luật hình sự.

    Xử phạt bị cáo Thào Seo Q 08 (T4) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29/8/2023.

    Xử phạt bị cáo Lù S3 Sèng 07 (Bẩy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29/8/2023.

  2. Về Vật chứng:

    Áp dụng Điểm a, b Khoản 1, Khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm c Khoản 2 Điều 106, Điểm b Khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

    • - Tuyên trả lại cho ông Lù S3 Cấu 01 xe mô tô BKS 24B2-951.76; 01 đăng ký xe mô tô BKS 24B2-951.76 mang tên Lù Seo C; 01 dây cao su màu đen, dây hình vuông có cạnh 0,5cm, chiều dài 3,6m hiện đang lưu giữ tại chi cục thi hành án dân sự huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai.
    • - Tuyên tịch thu 02 ổ khoá xe mô tô của xe BKS 24B2-625.35 đã hỏng không còn giá trị sử dụng hiện đang lưu giữ tại chi cục thi hành án dân sự huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai để tiêu hủy.
    • - Tuyên trả lại cho bị cáo Lù S3 Sèng số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) thu giữ của Lù S3 Sèng hiện đang lưu giữ tại chi cục thi hành án dân sự huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai. Tiếp tục tạm giữ 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) để đảm bảo thi hành án.
    • - Tuyên trả cho bị cáo Thào Seo Q 250.000đ (Hai trăm năm mươi nghìn đồng) trong tổng số 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng) thu giữ của Nguyễn Văn T. Tạm giữ của Thào Seo Q 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) để đảm bảo thi hành án. Số tiền còn lại 50.000đ (Năm mươi nghìn đồng) trả lại cho bị cáo Thào Seo Q; Trả lại cho anh Nguyễn Văn T 250.000đ (Hai trăm năm mươi nghìn đồng) trong tổng số tiền 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng) do Nguyễn Văn T đã nộp hiện đang lưu giữ tại chi cục thi hành án dân sự huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai.
  3. Về án phí: Căn cứ vào Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu án phí, lệ phí Tòa án.

    Buộc các bị cáo Thào Seo QLù S3 Sèng mỗi bị cáo phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí Hình sự sơ thẩm.

    “Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.”

    Án xử công khai sơ thẩm có mặt các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Lù Seo C. Vắng mặt người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn T.

    Báo cho các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Lù S3 Cấu biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lào Cai;
  • - VKSND tỉnh Lào Cai;
  • - Sở tư pháp tỉnh Lào Cai;
  • - VKSND huyện Bảo Thắng;
  • - Công an huyện Bảo Thắng(02);
  • - Cơ quan THA HS công an tỉnh Lào Cai;
  • - THA HS - DS (04);
  • - Bị cáo(02);
  • - Người bị hại;
  • - Người có QLNVLQ(02);
  • - Người bào chữa cho các bị cáo;
  • - Lưu HS – TA- VP(03).

THAY MẶT HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Như Long

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 61/2023/HS-ST ngày 17/11/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO THẮNG, TỈNH LÀO CAI về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 61/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO THẮNG, TỈNH LÀO CAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo Thào Seo Q 08 tháng tù, Lù Seo Sèng 07 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29/8/2023.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger