Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRI TÔN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 61/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 17/7/2024

“V/v tranh chấp hôn nhân

và gia đình, ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Oanh Đa Ra.

Các Hội thẩm nhân dân.

  • Bà Chế Thị Hồng Cẩm;
  • Ông Hồ Văn Dũng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Kim Liệu, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Trầm Ngọc Minh Thư – Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 130/2024/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 4 năm 2024 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 82/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 51/2024/QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 6 năm 2024 giữa:

Nguyên đơn: Bà Trần Kim L, sinh năm 1973; địa chỉ: tổ A, ấp A, xã L, huyện T, tỉnh An Giang; Có mặt.

Bị đơn: Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1973; địa chỉ: tổ A, ấp A, xã L, huyện T, tỉnh An Giang; Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Trần Kim L trình bày:

Quan hệ hôn nhân giữa bà L với ông B được hình thành là do mai mối, sau thời gian tìm hiểu được cha mẹ hai bên đứng ra tổ chức đám cưới vào năm 1992, có đăng ký kết hôn vào ngày 26/5/2005 tại Ủy ban nhân dân thị trấn B, huyện T. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống tại nhà cha mẹ ruột của bà L tại địa chỉ khóm N, thị trấn B, huyện T; đến năm 2006, vợ chồng cùng mẹ ruột chuyển về sống tại ấp A, xã L, huyện T.

Cuộc sống hôn nhân thời gian đầu thì hạnh phúc nhưng dần về sau thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung, ông B không quan tâm đến gia đình, thường xuyên uống rượu, sau khi say thì về nhà đánh đập bà L nhiều lần; việc ông B bạo hành, bà L có báo cho chính quyền địa phương, từ đó vợ chồng không còn tình cảm nên từ năm 2011 bà và ông B đã sống ly thân cho đến nay. Nay bà L nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên xin ly hôn với ông Nguyễn Văn B.

Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, bà L và ông B có 04 (bốn) con chung tên Nguyễn Thanh T, sinh ngày 25/01/1995; Nguyễn Bích T1, sinh ngày 18/5/1997; Nguyễn Thị Kiều M, sinh ngày 12/3/2000 và Nguyễn Thị Mỹ Y, sinh ngày 15/12/2001. Hiện tại các con chung đã trưởng thành và có khả năng lao động nên không yêu cầu Tòa giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn ông Nguyễn Văn B nhưng ông B không nộp cho Tòa án văn bản trình bày ý kiến, tài liệu, chứng cứ và không đến Tòa án để tham gia hòa giải nên vụ án không tiến hành hòa giải được.

Phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án thực hiện đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 về xét sử sơ thẩm vụ án.

Việc tuân theo pháp luật của đương sự: Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật, bị đơn được tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng của Tòa án nhưng vắng mặt tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn là đúng quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án:

Xét vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện công việc gia đình. Tuy nhiên, trong thời gian chung sống bà L, ông B xảy ra mâu thuẫn và không còn sống chung từ năm 2011 cho đến nay. Quá trình Tòa án thụ lý và mời hòa giải, ông B biết sự việc nhưng không đến, không có thiện chí hàn gắn. Nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, không thể hàn gắn. Do đó, việc bà L yêu cầu được ly hôn với ông B là có cơ sở chấp nhận.

Về con chung: Hiện các con chung đã trưởng thành, không yêu cầu nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà L đối với ông B.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Nguyên đơn bà Trần Kim L khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Văn B, là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, ông B cư trú tại huyện T, tỉnh An Giang nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Bị đơn ông B đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt, không vì sự kiến bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự

[2] Về nội dung:

[2.1] Bà L và B tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên quan hệ hôn nhân giữa bà L và B là hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.

Bà L xác định, trong thời gian chung sống, ông B không quan tâm chăm sóc gia đình, mà còn thường xuyên uống rượu, sau khi say thì ra tay đánh đập bà nhiều lần, nên vợ chồng không còn tình cảm và không còn sống chung từ cuối năm 2011 đến nay.

Qua xác minh tại nơi cư trú, ông B có nơi cư trú tại địa chỉ tổ A, ấp A, xã L, huyện T. Sau thời gian chung sống, hai vợ chồng xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, bà L và ông B không còn chung sống hơn 10 năm.

Xét vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình và sống chung với nhau. Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông B không quan tâm chăm sóc gia đình, có hành vi bào hành đối với bà L, do đó vợ chồng không còn tình cảm và sống ly thân từ năm 2011 cho đến nay. Cho nên, có căn cứ xác định mâu thuẫn giữa bà L, ông B là trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà L đối với ông B theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

[2.2] Về con chung: Hiệc các con đã trưởng thành và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Bà L xác định không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết nên không đề cập giải quyết.

[2.4] Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà L phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Ông B không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 56 Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ vào các Điều 147, Điều 227, Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Kim L.

Trần Kim L được ly hôn với ông Nguyễn Văn B.

Giấy chứng nhận kết hôn số 72, quyển số 01, ngày 26/5/2005 do Ủy ban nhân dân thị trấn B, huyện T, tỉnh An Giang cấp cho bà Trần Kim L và ông Nguyễn Văn B không còn giá trị pháp lý.

Về án phí sơ thẩm: Bà Trần Kim L phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0012358 ngày 22 tháng 3 năm 2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Tri Tôn; bà Trần Kim L đã nộp đủ án phí.

Ông Nguyễn Văn B không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Thời hạn kháng cáo của bà Trần Kim L là 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Riêng ông Nguyễn Văn B được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bà Oanh Đa Ra

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 61/2024/HNGĐ-ST ngày 17/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn

  • Số bản án: 61/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger