|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ VANG TỈNH THỪA THIÊN HUẾ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 61/2024/HNGĐ-ST Ngày: 17/06/2024 V/v Tranh chấp ly hôn, nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ VANG, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hồng
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lê Hồng Tâm
- Ông Nguyễn Văn Hóa
Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Linh Hương Giang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Vang tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 06 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế (Số B Đường H, thị trấn P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế) xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 13/2024/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 02 năm 2024 về việc “Tranh chấp xin ly hôn, nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 05 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 218/2024/QÐST-HNGĐ ngày 28 tháng 05 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Đặng Văn Q, sinh năm 1991; Địa chỉ: Thôn P, xã V, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế, có mặt.
Bị đơn: Chị Ngô Thị B, sinh năm 1990; Địa chỉ: Thôn M, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai ngày 01/03/2024 và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cũng như lời trình bày của anh Đặng Văn Q tại phiên tòa đã xác định như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Anh Đặng Văn Q và chị Ngô Thị B tìm hiểu nhau một thời gian thì quyết định kết hôn, ngày 06/01/2017 cả hai tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND xã V, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại thôn P, xã V, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế, được một thời gian ngắn thì hai vợ chồng đi làm ăn xa ít có thời gian sống chung với nhau. Từ đó tình cảm vợ chồng phai nhạt dần, không còn được gắn kết, vì hoàn cảnh công việc vợ chồng ít sống chung nên mâu thuẫn xảy ra ngày càng nhiều, không có tiếng nói chung. Đến năm 2023 mâu thuẫn vợ chồng ngày càng nghiêm trọng nên đã sống ly thân. Trong thời gian sống ly thân cả hai không liên lạc gì với nhau, mỗi người đều có cuộc sống riêng, không ai còn quan tâm đến ai, chị B về nhà cha mẹ ruột ở thôn M, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế sinh sống, còn anh Q ở nhà bố mẹ ruột anh Q. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh Q xin được ly hôn với chị B.
Về con chung: Anh Đặng Văn Q xác nhận vợ chồng có 01 con chung là cháu Đặng Minh Như Ý, sinh ngày 03/01/2018. Hiện nay cháu Ý đang ở với mẹ, anh Q có nguyện vọng giao con cho mẹ là chị Ngô Thị B trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi trưởng thành, đủ 18 tuổi. Anh Đặng Văn Q tự nguyện cấp dưỡng tiền nuôi con một tháng 2.000.000 đồng cho đến khi con trưởng thành, đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung và nợ chung: Anh Đặng Văn Q xác nhận không có tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật để chị Ngô Thị B thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình nhưng chị B vẫn vắng mặt nên không có lời khai của chị Ngô Thị B.
Tại phiên tòa, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi nghị án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký đều chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự, không có kiến nghị gì cần khắc phục. Đối với nguyên đơn chấp hành đúng theo quy định của pháp luật. Bị đơn không thực hiện đúng theo quy định tại Điều 70, 71,72 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn vắng mặt tại phiên toà lần thứ hai, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn.
- Về việc giải quyết vụ án: Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phú Vang đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn xin ly hôn của anh Đặng Văn Q. Xử cho anh Q được ly hôn với chị B. Về con chung: Giao cháu Đặng Minh Như Ý, sinh ngày 03/01/2018 cho mẹ là chị Ngô Thị B trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành, đủ 18 tuổi. Anh Đặng Văn Q tự nguyện cấp dưỡng tiền nuôi con một tháng 2.000.000 đồng cho đến khi con trưởng thành, đủ 18 tuổi. Về tài sản chung và nợ chung anh Q xác nhận không có, không yêu cầu Toà án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét; Buộc anh Q phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, trên cơ sở kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Bị đơn chị Ngô Thị B có hộ khẩu thường trú tại: Thôn P, xã V, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế nhưng hiện đang sinh sống tại Thôn M, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế nên vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn là chị Ngô Thị B đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Anh Đặng Văn Q và chị Ngô Thị B chung sống với nhau, đã thực hiện đầy đủ các thủ tục về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam, nên được công nhận hôn nhân hợp pháp.
Xét về yêu cầu ly hôn của anh Đặng Văn Q, thấy rằng: Theo kết quả thu thập tài liệu, chứng cứ, lời khai của anh Q, quá trình Tòa án điều tra, xác minh thu thập chứng cứ, có cơ sở xác định nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn vợ chồng là do tính chất công việc, vợ chồng phải đi làm ăn xa nên không sống chung với nhau từ đó vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn, cãi vã dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn. Anh Q và chị B đã sống ly thân từ năm 2023 đến nay. Từ khi anh Q có đơn xin ly hôn, phía Tòa án đã nhiều lần triệu tập, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải để chị B trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện của anh Q nhằm mục đích hàn gắn cho hai vợ chồng đoàn tụ nhưng chị B không đến, chứng tỏ chị B đã bỏ mặc hôn nhân của mình. Nhận thấy vợ chồng anh Q và chị B đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, căn cứ theo khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận xử cho anh Đặng Văn Q được ly hôn với chị Ngô Thị Bé là phù hợp pháp luật.
[3] Về việc nuôi con chung và tiền cấp dưỡng nuôi con: Qúa trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, phía nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện là giao cháu Đặng Minh Như Ý, sinh ngày 03/01/2018 cho chị B trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi con trưởng thành, đủ 18 tuổi và phía nguyên đơn tự nguyện cấp dưỡng tiền nuôi con chung 1 tháng 2.000.000 đồng. Xét thấy, cháu Như Ý lâu nay ở cùng với chị B, cháu cũng đang còn nhỏ cần sự chăm sóc của người mẹ, để không làm thay đổi sinh hoạt lâu nay của cháu nên Hội đồng xét xử xem xét giao cháu Đặng Minh Như Ý cho chị B trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi trưởng thành, đủ 18 tuổi, còn anh Q tự nguyện cấp dưỡng tiền nuôi con chung một tháng 2.000.000 đồng đến khi con trưởng thành, đủ 18 tuổi. Thời hạn cấp dưỡng kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi cháu Ý trưởng thành đủ, 18 tuổi như đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
[4] Về tài sản chung và nợ chung: Anh Đặng Văn Q xác nhận không có tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về án phí sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm a khoản 5, khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc nguyên đơn chịu án phí ly hôn là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) và án phí cấp dưỡng là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5, khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của anh Đặng Văn Q. Xử cho anh Đặng Văn Q được ly hôn với chị Ngô Thị B; Quan hệ hôn nhân chấm dứt kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
- Về nuôi con chung và tiền cấp dưỡng: Xử giao cháu Đặng Minh Như Ý, sinh ngày 03/01/2018 cho mẹ là chị Ngô Thị B trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi con trưởng thành, đủ 18 tuổi. Anh Đặng Văn Q tự nguyện cấp dưỡng tiền nuôi cháu Đặng Minh Như Ý một tháng 2.000.000 đồng cho đến khi con trưởng thành, đủ 18 tuổi.
Thời hạn cấp dưỡng kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật đến khi cháu Ý trưởng thành, đủ 18 tuổi.
Sau khi quyết định có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền cấp dưỡng nuôi con) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
- Về tài sản chung và nợ chung: Anh Đặng Văn Q xác nhận không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí sơ thẩm: Anh Đặng Văn Q phải nộp tiền án phí ly hôn là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) và án phí cấp dưỡng là 300.000 đồng (Ba Trăm nghìn đồng); được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng mà anh Q đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Vang theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí 0001845 ngày 26/02/2024. Anh Q phải nộp thêm 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, được bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung Luật Thi hành án dân sự năm 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự và Điều 7a, 7b Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận: - TAND tỉnh Thừa Thiên Huế; - VKSND huyện Phú Vang; - CCTHADS huyện Phú Vang; - UBND xã Vinh Hà, huyện Phú Vang (ĐKKH số 01/2017); - Các đương sự; - Lưu: HSVA; - Lưu án. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thúy Hồng |
Bản án số 61/2024/HNGĐ-ST ngày 17/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ VANG, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 61/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ VANG, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp xin ly hôn
