|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 61/2024/HS-PT Ngày 17-5-2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Hiếu
Các Thẩm phán: Ông Trần Minh Bắc
Ông Phạm Trung Dũng
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thanh Trúc – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Nghiêm Thị Lan Hương – Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 31A/2024/HSPT ngày 09/3/2024 đối với bị cáo Phan Văn P do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 32/2024/HSST ngày 24/01/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
- Bị cáo có kháng cáo:
Phan Văn P, sinh năm 1982, tại tỉnh An Giang; Nơi đăng ký thường trú: Tổ G, ấp P, thị trấn C, huyện P, tỉnh An Giang; Chỗ ở: Không có nơi cư trú ổn định; Nghề nghiệp: Phụ hồ; Chức vụ: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Hòa Hảo; Trình độ văn hóa: 0/12; Họ và tên cha: Phan Văn T, sinh năm 1947; Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị N, sinh năm 1958; Gia đình bị cáo có 07 (bảy) anh em, bị cáo là con thứ năm; Họ và tên vợ: Trần Thị Mỹ L, sinh năm 1997; Bị cáo có 05 (năm) người con, lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2022;
Tiền án:
- Ngày 26/6/2000, bị Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành án tại trại giam C, huyện G, Bến Tre.
- Ngày 04/12/2003, bị Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang xử phạt 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 26/HSST. Chấp hành án tại trại giam C1, tỉnh Đồng Tháp.
- Ngày 28/03/2006, bị Tòa án huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 23/2006/HS-ST. Chấp hành án tại trại giam P1, tỉnh Tiền Giang. Xác minh tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp không có dữ liệu về việc Phan Văn P chấp hành việc đóng án phí hình sự sơ thẩm theo quyết định của bản án số 23/2006/HS-ST ngày 28/03/2006.
Tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt ngày 11/8/2023, hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B (có mặt).
* Bị hại: Ông Nguyễn Phước T1, sinh năm 1968; địa chỉ: 8 đường T, phường C, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ ngày 21-3-2020, anh Nguyễn Kim T2, anh Lâm Phước B, Nguyễn Bá T3, anh Nguyễn Phước L1 và Phan Văn P cùng ăn nhậu tại sân trước nhà anh T2 địa chỉ H T, Phường C, thành phố V. Đang ngồi nhậu thì T3 về trước. Anh L1 gọi điện thoại cho em trai là Nguyễn Phước T1 nói về việc ngày hôm sau tổ chức giỗ tại nhà. Lúc đó, anh T1 đang ăn nhậu cùng bạn đã về nhà anh L1 để bàn chuyện tổ chức đám giỗ. Trên đường về nhà anh L1, anh T1 đi ngang qua nhà anh T2 thấy đang tổ chức ăn nhậu có anh L1 đang ở đó nên anh T1 vào tham gia ăn nhậu và nói chuyện với anh L1.
Trong lúc ăn nhậu, B và T1 cãi nhau về công việc xây dựng nhà cửa, Bửu bỏ đi về nhà, còn anh T2 đi vào trong nhà để đi vệ sinh. Trên bàn nhậu chỉ còn lại T1, L1 và P. Do P là thợ phụ còn B làm thầu nên khi nghe B và T1 cãi nhau đã bức xúc. Khi anh B vừa bỏ về thì P đã cầm 01 ly thuỷ tinh dùng để uống bia trên bàn nhậu đập mạnh vào mắt phải của T1 gây thương tích, khiến ly thuỷ tinh bị vỡ. P dơ mảnh vỡ ly thuỷ tinh còn sót lại trên tay định tiếp tục đánh anh T1 thì anh L1 can ngăn nên P vứt mảnh vỡ ly thuỷ tinh đang cầm trên tay xuống bàn. Sau khi bị đánh, T1 bỏ chạy về nhà anh L1 và được mọi người đưa đi cấp cứu.
Sau khi xảy ra vụ việc, Phan Văn P đã bỏ trốn khỏi địa phương, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an T đã ra thông báo truy tìm số 02/TB-Đ1 ngày 15-12-2020 để truy tìm tung tích đối tượng Phan Văn P. Ngày 11-8-2023, P đã đến Cơ quan điều tra Công an thành phố V đầu thú về hành vi phạm tội của mình.
Kết luận giám định pháp y về thương tích số 169/TgT ngày 01/6/2020 của Trung tâm giám định pháp y tỉnh B đối với thương tích của Nguyễn Phước T1, kết luận: “Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây ra hiện tại là: 46% (bốn mươi sáu phần trăm)”.
Tại cơ quan điều tra, P đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như trên. Lời khai của P phù hợp với chứng cứ thu thập được, phù hợp với lời khai của bị hại anh T1 và những người làm chứng là anh Nguyễn Kim T2, Nguyễn Phước L1, Lâm Phước Bửu .
Về xử lý vật chứng: Các mảnh vỡ thủy tinh sau khi P phạm tội gia đình anh T2 đã thu dọn bỏ đi nên không thu hồi được.
Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, bị hại T1 yêu cầu bị cáo P phải bồi thường tiền thuốc, khám chữa bệnh, tiền tổn thất tinh thần là 150.000.000 đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng). Tại phiên tòa bị hại T1 rút một phần yêu cầu bồi thường thiệt hại, yêu cầu bị cáo P bồi thường số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng).
2. Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 32/2024/HSST ngày 24/01/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Phan Văn P phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Áp dụng: Điểm c khoản 3 Điều 134; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Phan Văn P 07 (Bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/8/2023.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên trách nhiệm dân sự, án phí và quyền kháng cáo theo quy định.
3. Ngày 30/01/2024, bị cáo Phan Văn P có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
4. Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình và giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Bị cáo có kháng cáo trong thời hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Về nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Phan Văn P 07 (bảy) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, mức án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo là phù hợp. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo đã bồi thường cho bị hại 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) và bị hại có đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là những tình tiết giảm nhẹ mới phát sinh tại cấp phúc thẩm, do đó đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phan Văn P, sửa bản án sơ thẩm, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
5. Bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, nói lời sau cùng thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ mức hình phạt đối với bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
Đơn kháng cáo của bị cáo Phan Văn P làm và gửi trong thời hạn luật định nên hợp lệ, Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về tội danh và điều luật áp dụng:
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, các chứng cứ đã được thẩm tra có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, thể hiện:
Khoảng 20 giờ ngày 21-3-2020, khi anh Nguyễn Kim T2, anh Lâm Phước B, anh Nguyễn Phước L1, anh Nguyễn Phước T1 và Phan Văn P cùng ăn nhậu tại sân trước nhà anh T2 địa chỉ H T, Phường C, thành phố V. Khi đang nhậu thì giữa anh B và anh T1 xảy ra cãi nhau, anh Bửu b về trước, thấy vậy bị cáo P dùng ly thủy tinh dùng để uống bia trên bàn nhậu đập mạnh vào mắt phải của anh T1 gây thương tích với tỷ lệ thương tật 46%. Xét thấy, hành vi của bị cáo P có tính chất côn đồ và dùng hung khí nguy hiểm là ly thủy tinh cố ý gây thương tích cho anh T1.
Do đó, hành vi của bị cáo Phan Văn P đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo với tội danh trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Về kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của bị hại T1, gây mất trật tự công cộng, ảnh hưởng xấu đến an ninh tại địa phương. Do vậy cần phải xử phạt bị cáo nghiêm minh trước pháp luật, nhằm giáo dục, răn đe bị cáo và hướng đến phòng ngừa tội phạm chung.
Cấp sơ thẩm khi lượng hình đã xem xét toàn diện hành vi của bị cáo bao gồm:
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 03 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” nên áp dụng tình tiết tăng nặng “Tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Sau khi xảy ra vụ việc, bị cáo P bỏ trốn khỏi địa phương, Cơ quan điều tra đã ra thông báo truy tìm, đến ngày 11/8/2023 bị cáo P đến Công an thành phố V đầu thú. Do đó, bị cáo được áp dụng tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tại phiên toà phúc thẩm bị cáo tác động gia đình đã bồi thường cho bị hại 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng). Bị hại đã nhận đủ tiền và có đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, đây là những tình tiết giảm nhẹ mới được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[4] Về án phí hình sự phúc thẩm:
Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phan Văn P; sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 32/2024/HSST ngày 24/01/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
Tuyên bố: Phan Văn P phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Áp dụng: điểm c khoản 3 Điều 134; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 50, Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: bị cáo Phan Văn P 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/8/2023.
2. Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 32/2024/HSST ngày 24/01/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
3. Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo không phải nộp.
Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thành Hiếu |
Bản án số 61/2024/HS-PT ngày 17/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU về hình sự phúc thẩm về tội cố ý gây thương tích
- Số bản án: 61/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm về tội Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 17/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phan Văn P Cố ý gây thương tích
