|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM DƯƠNG TỈNH VĨNH PHÚC Bản án số: 61/2024/HS-ST Ngày 16-9-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM DƯƠNG, TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Lê Minh Hoàng
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Kim Duyên và bà Kiều Thị Thắng
- Thư ký phiên toà: Bà Khổng Phương Thùy - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tam Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Dương tham gia phiên toà: Bà Chu Thị Việt Hà - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 11 và 16 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 55/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 61/2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Hoàng Văn H, sinh năm 2001 tại xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn M, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn H1 và bà Nguyễn Thị T; có vợ là Nguyễn Thu H2; con: Có 01 con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại, có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- + Anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 2002, địa chỉ: Thôn C, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, vắng mặt
- + Anh Nguyễn Văn H3, sinh năm 2000, địa chỉ: Thôn M, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, vắng mặt
- + Anh Nguyễn Văn G, sinh năm 2005, địa chỉ: Thôn M, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, vắng mặt
- + Anh Nguyễn Văn H4, sinh năm 2001, địa chỉ: Thôn D, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, vắng mặt
- + Anh Nguyễn Văn T2, sinh năm 2002, địa chỉ: Thôn D, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, vắng mặt
- + Anh Nguyễn Văn B, sinh năm 2001, địa chỉ: Thôn M, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, vắng mặt
- + Anh Bế Văn N, sinh năm 2001, địa chỉ: Thôn M, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, vắng mặt
- + Anh Nguyễn Văn T3, sinh năm 2005, địa chỉ: Thôn D, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, vắng mặt
- + Anh Nguyễn Văn G1, sinh năm 2004, địa chỉ: Thôn M, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, vắng mặt
- + Anh Nguyễn Văn Q, sinh năm 2002, địa chỉ: Thôn M, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, vắng mặt
- + Chị Nguyễn Thị H5, sinh năm 1997, địa chỉ: Thôn L, xã Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng đầu năm 2023, qua tìm hiểu trên mạng internet, Hoàng Văn H biết đến hình thức cho vay tiền với lãi suất cao. Do có sẵn 50.000.000đồng tiền tích cóp nên H nảy sinh ý định cho bạn bè, người quen biết của H vay tiền để thu tiền lãi nhằm sử dụng vào mục đích tiêu xài cá nhân. Hoàng Văn H giới thiệu cho một vài người bạn về việc H cho vay tiền, tiền lãi tính theo lãi suất thỏa thuận, không cần thế chấp tài sản hay viết giấy biên nhận với lý do đều là người quen biết. Từ năm 2023 đến nay, H đã cho nhiều người vay tiền với lãi suất dao động từ 3.000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày đến 10.000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày, tương ứng với mức lãi suất từ 109,5%/01 năm đến 365%/01 năm. Hoàng Văn H sử dụng 02 tài khoản Ngân hàng cá nhân do H là chủ tài khoản để giao dịch, chuyển khoản cho vay, thu tiền lãi, tiền gốc, gồm: Tài khoản tại Ngân hàng V, số tài khoản 1018.7007.3687 và tài khoản tại Ngân hàng M, số tài khoản 0963.652.221. Ngoài việc thu tiền gốc, tiền lãi bằng 02 tài khoản Ngân hàng nêu trên, H còn thu tiền gốc, tiền lãi bằng cách nhận tiền mặt trực tiếp từ người vay. Việc quản lý cho vay tiền, thu tiền lãi, tiền gốc được H thực hiện một mình và ghi chép vào 01 quyển sổ để theo dõi.
Trong khoảng thời gian từ tháng 4/2023 đến tháng 02/2024, với hình thức cho vay tiền như trên, Hoàng Văn H đã cho 11 người vay tiền với mức lãi suất trên 05 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự để thu lợi bất chính. Cụ thể như sau:
- Trong khoảng thời gian từ ngày 25/9/2023 đến 11/02/2024, Hoàng Văn H cho anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 2002 ở thôn C, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, có số tài khoản tại Ngân hàng M là 3838.629.042.002; vay tổng cộng 30 lần, lãi suất dao động từ 6.000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày đến 8.000 đồng/1.000.000 đồng/1 ngày, tương ứng với mức lãi suất từ 219%/năm đến 292%/năm, số tiền gốc cho vay tùy từng lần, dao động từ 2.500.000 đồng đến 10.000.000 đồng; thời hạn vay mỗi lần từ 10 ngày đến 20 ngày tùy từng lần vay, tổng số tiền gốc cho vay là 177.500.000đồng. Đến ngày 11/02/2024, anh T1 đã hoàn trả cho H tất cả tiền gốc đã vay và tổng tiền lãi là 13.650.000 đồng. Trong đó tiền lãi tối đa được quy định tại Bộ luật dân sự là 994.521 đồng; số tiền H thu lợi bất chính là 12.655.479 đồng.
- Trong khoảng thời gian từ ngày 16/12/2023 đến 14/01/2024, Hoàng Văn H cho anh Nguyễn Văn H3, sinh năm 2000 ở thôn M, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, có số tài khoản tại Ngân hàng M là 1234.562.366.666; vay tổng cộng 04 lần, lãi suất dao động từ 7.000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày đến 10.000 đồng/1.000.000 đồng/1 ngày, tương ứng với mức lãi suất từ 255,5%/01 năm đến 365%/01 năm, số tiền gốc cho vay tùy từng lần, dao động từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng; thời hạn vay mỗi lần từ 10 ngày đến 20 ngày tùy từng lần vay, tổng số tiền gốc cho vay là 16.000.000đồng Đến ngày 14/01/2024, anh H3 chưa trả cho H khoản tiền gốc nào và đã trả tổng tiền lãi là 2.120.000 đồng. Trong đó tiền lãi tối đa được quy định tại Bộ luật dân sự là 158.904 đồng; số tiền H thu lợi bất chính là 1.961.096 đồng.
- Trong khoảng thời gian từ ngày 30/10/2023 đến 16/01/2024, Hoàng Văn H cho anh Nguyễn Văn G, sinh năm 2005 ở thôn M, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, có số tài khoản tại Ngân hàng M là 0979.267.388 và số tài khoản tại Ngân Hàng T5 là 1123.4538.8888; vay tổng cộng 20 lần, lãi suất dao động từ 5.000 đồng/1.000.000 đồng/1 ngày đến 10.000 đồng/1.000.000 đồng/1 ngày, tương ứng với mức lãi suất từ 182,5%/01 năm đến 365%/01 năm, số tiền gốc cho vay tùy từng lần, dao động từ 2.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng; thời hạn vay mỗi lần từ 10 ngày đến 20 ngày tùy từng lần vay, tổng số tiền gốc cho vay là 82.000.000đồng, tổng số tiền gốc đã trả là 77.000.000đồng. Đến ngày 16/01/2024, anh G còn nợ 5.000.000 đồng tiền gốc và đã trả tổng tiền lãi là 9.100.000 đồng. Trong đó tiền lãi tối đa được quy định tại Bộ luật dân sự là 531.508 đồng; số tiền H thu lợi bất chính là 8.568.492 đồng.
- Trong khoảng thời gian từ ngày 30/6/2023 đến 11/01/2024, Hoàng Văn H cho anh Nguyễn Văn H4, sinh năm 2001 ở thôn D, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, có số tài khoản tại ngân hàng M là 0382.160.408; vay tổng cộng 04 lần, lãi suất 3.000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày, tương ứng với mức lãi suất 109,5%/01 năm, số tiền gốc cho vay tùy từng lần, dao động từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng; thời hạn vay mỗi lần từ 10 ngày đến 30 ngày tùy từng lần vay, tổng số tiền gốc cho vay là 16.000.000đồng. Đến ngày 11/01/2024, anh H4 đã trả hết tiền gốc và đã trả tổng tiền lãi là 1.120.000 đồng. Trong đó tiền lãi tối đa được quy định tại Bộ luật dân sự là 208.219 đồng; số tiền H thu lợi bất chính là 911.781 đồng.
- Ngày 16/01/2024, Hoàng Văn H cho anh Nguyễn Văn T2, sinh năm 2002 ở thôn D, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, có số tài khoản tại Ngân hàng V1 là 1035.480.260; vay tổng cộng 03 lần, lãi suất dao động từ 8.000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày đến 10.000 đồng/1.000.000 đồng/ 01 ngày, tương ứng với mức lãi suất từ 292%/01 năm đến 365%/01 năm, số tiền gốc cho vay tùy từng lần, dao động từ 500.000 đồng đến 4.500.000 đồng; thời hạn vay là 10 ngày, tổng số tiền gốc cho vay là 7.000.000đồng. Anh T2 đã trả hết tiền gốc và đã trả tổng tiền lãi là 700.000 đồng. Trong đó tiền lãi tối đa được quy định tại Bộ luật dân sự là 38.356 đồng; số tiền H thu lợi bất chính là 661.644 đồng.
- Trong khoảng thời gian từ ngày 13/11/2023 đến 26/11/2023, Hoàng Văn H cho anh Nguyễn Văn B, sinh năm 2001 ở thôn M, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, có số tài khoản tại Ngân hàng V1 là 9372.345.665; vay tổng cộng 03 lần, lãi suất 10.000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày, tương ứng với mức lãi suất 365%/01 năm, số tiền gốc cho vay tùy từng lần, dao động từ 3.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng; thời hạn vay là 10 ngày, tổng số tiền gốc cho vay là 10.000.000đồng. Đến ngày 03/12/2023, anh B đã trả hết tiền gốc và đã trả tổng tiền lãi là 1.000.000 đồng. Trong đó tiền lãi tối đa được quy định tại Bộ luật dân sự là 54.795 đồng; số tiền H thu lợi bất chính là 945.205 đồng.
- Ngày 31/12/2023, Hoàng Văn H cho anh Bế Văn N, sinh năm 2001 ở thôn M, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, có số tài khoản tại Ngân hàng M là 7709.092.001 vay số tiền 2.000.000 đồng, lãi suất 10.000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày, tương ứng với mức lãi suất 365%/01 năm, thời hạn vay là 10 ngày, H thu luôn 200.000đồng tiền lãi của 10 ngày vay. Sau đó, N không trả được gốc, lãi đúng hạn nên đến ngày 16/02/2024, N liên hệ với Hoàng Văn H trả tiền gốc và thống nhất trả số tiền lãi cho H là 450.000 đồng cho 40 ngày vay (tức lãi suất 5.625 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày, tương ứng với lãi suất 205.3%/01 năm), số tiền gốc cho vay là 2.000.000đồng. Anh N đã trả cho H tổng tiền lãi là 650.000 đồng. Trong đó tiền lãi tối đa được quy định tại Bộ luật dân sự là 54.795 đồng; số tiền H thu lợi bất chính là 595.205 đồng.
- Trong thời gian từ ngày 27/10/2023 đến 28/10/2024, Hoàng Văn H cho anh Nguyễn Văn T3, sinh năm 2005 ở thôn D, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, có số tài khoản tại Ngân hàng M là 0962.810.683; vay tổng cộng 02 lần, lãi suất 10.000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày đến 13.333 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày, tương ứng với mức lãi suất 365%/01 năm đến 486.65%/01 năm, số tiền gốc cho vay lần thứ nhất là 1.500.000 đồng; lần thứ hai là 3.000.000 đồng, thời hạn vay là 10 ngày, tổng số tiền gốc cho vay là 4.500.000đồng. Đến nay, anh T3 đã trả hết tiền gốc và đã trả tổng tiền lãi là 500.000 đồng. Trong đó tiền lãi tối đa được quy định tại Bộ luật dân sự là 24.658 đồng; số tiền H thu lợi bất chính là 475.342 đồng.
- Trong khoảng thời gian từ ngày 01/10/2023 đến 11/01/2024, Hoàng Văn H cho anh Nguyễn Văn G1, sinh năm 2004 ở thôn M, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, có số tài khoản tại Ngân hàng M là 6838.631.012.004 vay tổng cộng 05 lần, lãi suất từ 7.000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày đến 10.000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày, tương ứng với mức lãi suất từ 255,5%/01 năm 365%/01 năm, số tiền gốc cho vay tùy từng lần, dao động từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng; thời hạn vay là 10 ngày, tổng số tiền gốc cho vay là 19.000.000đồng. Đến nay, anh G1 đã trả hết tiền gốc và đã trả tổng tiền lãi là 1.850.000 đồng. Trong đó tiền lãi tối đa được quy định tại Bộ luật dân sự là 131.507 đồng; số tiền H thu lợi bất chính là 1.718.493 đồng.
- Trong khoảng thời gian từ ngày 10/4/2023 đến 15/01/2024, Hoàng Văn H cho anh Nguyễn Văn Q, sinh năm 2002 ở thôn M, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, có số tài khoản tại Ngân hàng V2 là 5119.026.012.002 vay tổng cộng 04 lần, lãi suất từ 8.000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày đến 10.000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày, tương ứng với mức lãi suất từ 292%/01 năm 365%/01 năm, số tiền gốc cho vay tùy từng lần, dao động từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng; thời hạn vay là từ 10 ngày đến 14 ngày tùy từng lần vay, tổng số tiền gốc cho vay là 18.000.000đồng. Đến nay, anh Q đã trả hết tiền gốc và đã trả tổng tiền lãi là 2.400.000 đồng. Trong đó tiền lãi tối đa được quy định tại Bộ luật dân sự là 164.383 đồng; số tiền H thu lợi bất chính là 2.235.617 đồng.
- Trong khoảng thời gian từ ngày 30/9/2023 đến 22/12/2023, Hoàng Văn H cho chị Nguyễn Thị H5, sinh năm 1997 ở thôn L, xã Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, có số tài khoản tại Ngân hàng M là 0828.912.986 vay tổng cộng 04 lần, lãi suất từ 7.000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày đến 10.000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày, tương ứng với mức lãi suất từ 255.5%/01 năm 365%/01 năm, số tiền gốc cho vay tùy từng lần, dao động từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng; thời hạn vay là 10 ngày, tổng số tiền gốc cho vay là 26.000.000đồng, tổng số tiền gốc đã trả là 22.500.000đồng. Đến nay, chị H5 còn nợ 3.500.000 đồng tiền gốc và đã trả tổng tiền lãi là 2.100.000 đồng. Trong đó tiền lãi tối đa được quy định tại Bộ luật dân sự là 142.466 đồng; số tiền H thu lợi bất chính là 1.957.534 đồng.
Như vậy, tổng số tiền gốc Hoàng Văn H cho 11 người vay là 378.000.000đồng, số tiền gốc 11 người vay đã trả cho H là 353.500.000đồng, số tiền gốc người vay chưa trả cho H là 24.500.000đồng (trong đó Nguyễn Văn H3 16.000.000đồng, Nguyễn Văn G 5.000.000đồng và Nguyễn Thị H5 3.500.000đồng). Tổng số tiền lãi Hoàng Văn H đã thu của những người vay là 35.190.000đồng, trong đó tiền lãi theo mức lãi suất tối đa cho phép theo luật định 20%/năm là 2.504.110đồng, thu lợi bất chính là 32.685.890 đồng.
Quá trình điều tra, cơ quan CSĐT - Công an huyện T đã yêu cầu Ngân hàng thương mại cổ phần Q1 (M1) và Ngân hàng thương mại cổ phần C (V), sao kê các giao dịch chuyển tiền đi, tiền chuyển đến các tài khoản của Hoàng Văn H. Kiểm tra các giao dịch xác định, ngoài các giao dịch chuyển nhận tiền trả lãi với 11 người vay nêu trên, còn có một số giao dịch có dấu hiệu bất thường. Cơ quan điều tra đã làm việc với những người liên quan để tiến hành xác minh, xác định:
Giao dịch với Bùi Văn T4, sinh năm 1994, HKTT: thôn D, xã H, huyện T. Quá trình điều tra xác định T4 và H chỉ là người cùng xã, giữa hai người có nhiều giao dịch với nhau, mục đích giao dịch, chuyển khoản giữa hai người là để đổi tiền, không có mục đích gì khác.
Giao dịch với Phùng Nhất L, sinh năm 2005, HKTT: thôn G, xã H, huyện T. Quá trình điều tra xác định L là bạn thân của anh Nguyễn Văn G (người vay tiền của H), Nguyễn Văn G đã mượn tài khoản của L để giao dịch chuyển khoản, L không biết G chuyển khoản, giao dịch với ai, với mục đích gì và không được hưởng lợi ích gì.
Giao dịch với Bùi Thị L1, sinh năm 1973, HKTT: thôn C, xã H, huyện T. Quá trình điều tra xác định bà L1 là mẹ đẻ của chị Nguyễn Thị H5 (người vay tiền của H), bà L1 là người đăng ký tài khoản Ngân hàng M và Ngân hàng T5, tuy nhiên chủ yếu do con gái bà là chị Nguyễn Thị H5 sử dụng. Từ trước đến này bà không có lần nào giao dịch chuyển khoản qua lại với 02 tài khoản của Hoàng Văn H nêu trên.
Ngoài ra, sao kê các giao dịch chuyển tiền đi, tiền chuyển đến Ngân hàng V, số tài khoản 1018.7007.3687 và tài khoản tại Ngân hàng M, số tài khoản 0963.652.221của Hoàng Văn H không có dấu hiệu nghi vấn, không liên quan đến hoạt động cho vay lãi nặng.
Đối với 01 chiếc điện thoại di dộng nhãn hiêu Apple, loại Iphone 12 ProMax, có cài đặt ứng dụng V và M1, là của Hoàng Văn H sử dụng để chuyển khoản cho vay, nhận tiền lãi, tiền gốc. H đã làm mất chiếc điện thoại này nên cơ quan điều tra không thu giữ được.
Tại cơ quan điều tra, Hoàng Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình như đã nêu trên. Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đều đã trình bày và xác nhận về thời gian vay tiền, số tiền vay, số tiền gốc và lãi đã trả và số tiền còn nợ như bị cáo H đã trình bày.
Tại Cáo trạng số 64/CT-VKSTD ngày 21/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Dương truy tố Hoàng Văn H về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, Kiểm sát viên trình bày luận tội đối với bị cáo; giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội danh và điều luật như Cáo trạng, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 201, điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Hoàng Văn H từ 150.000.000đồng đến 180.000.000đồng về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
Về biện pháp tư pháp:
- - Đề nghị truy thu của Hoàng Văn H số tiền 2.504.110đồng là khoản tiền lãi tương ứng với mức lãi suất theo quy định của Bộ luật dân sự là 20%/năm Hoàng Văn H đã thu của những người vay để sung vào ngân sách nhà nước.
- - Đề nghị truy thu của Hoàng Văn H số tiền 353.500.000đồng là số tiền gốc bị cáo H dùng để cho 11 người vay để sung vào ngân sách nhà nước.
- - Đề nghị truy thu số tiền gốc 24.500.000 đồng mà người vay chưa trả cho H, gồm anh Nguyễn Văn H3 16.000.000 đồng; anh Nguyễn Văn G 5.000.000đồng; chị Nguyễn Thị H5 3.500.000 đồng.
- - Buộc Hoàng Văn H trả lại cho 11 người vay tiền số tiền thu lợi bất chính của những người vay tiền, tổng cộng là 32.685.890đồng.
Về án phí: Bị cáo H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo H không bào chữa và tranh luận gì. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra - Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Hoàng Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Dương đã truy tố. Xét lời nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, có đủ cơ sở để kết luận:
Trong khoảng thời gian từ tháng 4 năm 2023 đến tháng 02 năm 2024, Hoàng Văn H đã cho 11 người vay lãi nặng với lãi suất dao động từ 3.000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày đến 10.000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày, tương ứng với mức lãi suất từ 109,5%/01 năm đến 365%/01 năm, gấp 5,475 đến 18,25 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự. Tổng số tiền gốc Hoàng Văn H dùng để cho 11 người vay là 378.000.000đồng với 80 lượt vay, tổng số tiền gốc người vay đã trả là 353.500.000đồng, tổng số tiền gốc người vay chưa trả là 24.500.000đồng. Tổng số tiền lãi H đã thu của những người vay là 35.190.000đồng, bao gồm: Tiền lãi tính theo mức lãi suất cao nhất quy định tại Bộ luật dân sự là 2.504.110đồng, tổng số tiền thu lợi bất chính là 32.685.890đồng. Tại thời điểm bị phát hiện Hoàng Văn H có hành vi cho vay lãi nặng nêu trên, H đã nhiều lần thực hiện hành vi cho vay với từng lần thu lợi bất chính đều dưới 30.000.000đồng nhưng tổng số tiền thu lợi bất chính trên 30.000.000đồng và các hành vi này chưa lần nào bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính, diễn ra liên tục từ năm 2023 cho đến khi bị phát hiện. Hành vi nêu trên của Hoàng Văn H đã phạm vào tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật hình sự.
Khoản 1 Điều 201 Bộ luật hình sự về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” quy định:
“1. Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng ... thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm”
[3] Xét tính chất vụ án là ít nghiêm trọng, nhưng hành vi của bị cáo Hoàng Văn H là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ, xâm phạm trật tự công cộng, lợi ích của công dân, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội, vì vậy cần phải xử lý nghiêm trước pháp luật mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[4] Xét nhân thân cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy rằng: Bị cáo Hoàng Văn H chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Do vậy, bị cáo H được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử đã cân nhắc, xem xét áp dụng hình phạt tiền với mức phạt nhất định đối với bị cáo để phù hợp với tính chất và mức độ hành vi phạm tội cũng như nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo.
[5] Về hình phạt bổ sung: Do hình phạt chính đối với bị cáo là phạt tiền, nên không áp dụng phạt tiền bổ sung đối với bị cáo.
[6] Đối với 01 quyển sổ bìa màu vàng, bên trong có 12 trang giấy có ghi thông tin về tên người vay, thời gian vay, số tiền vay, lãi suất vay, việc trả tiền gốc, tiền lãi xác định là vật chứng chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo, được lưu hồ sơ vụ án.
[7] Về biện pháp tư pháp: Theo hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao thì khoản tiền người phạm tội dùng để cho vay được xác định là phương tiện phạm tội nên cần tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước. Trong vụ án này, Kết luận điều tra của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T và Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Dương đều xác định tổng số tiền bị cáo H sử dụng cho 11 người vay với 80 lượt vay là 378.000.000đồng, nhưng xác định số tiền gốc thực tế H sử dụng cho 11 người vay là 50.000.000 đồng sau đó xoay vòng tiền gốc, lấy số tiền người vay trước đã trả để tiếp tục cho người sau vay, hiện người vay chưa trả H số tiền gốc là 24.500.000đồng, nên đề nghị tịch thu sung quỹ nhà nước đối với Hoàng Văn H số tiền gốc là 25.500.000đồng. Quan điểm trên của Cơ quan Cảnh sát điều tra thể hiện trong Kết luận điều tra và quan điểm của Viện kiểm sát thể hiện trong Cáo trạng là chưa chính xác. Tuy nhiên, tại phiên tòa, Kiểm sát viên đã xác định lại tổng số tiền gốc bị cáo H dùng để cho vay là 378.000.000đồng, tổng số tiền gốc người vay đã trả là 353.500.000đồng, tổng số tiền gốc người vay chưa trả là 24.500.000đồng và đề nghị truy thu số tiền gốc bị cáo H dùng để cho vay là 353.500.000đồng, quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa như vậy là chính xác, phù hợp với hướng dẫn tại Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20 tháng 12 năm 2021 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, bởi vì: Việc bị cáo cho từng người vay với từng lần vay là khác nhau, số tiền cho vay của bị cáo và từng người vay đã hoàn thành sau khi bị cáo và người vay thực hiện xong giao dịch. Do vậy, bị cáo đã cho 11 người vay tổng số tiền là 378.000.000đ (trong đó người vay đã trả 353.500.000đồng) nên theo quy định của pháp luật phải xác định số tiền bị cáo sử dụng vào việc phạm tội là 378.000.000đ và phải truy thu của bị cáo số tiền gốc người vay đã trả cho bị cáo là 353.500.000đồng.
- Đối với khoản tiền lãi tương ứng với mức lãi suất theo quy định của Bộ luật dân sự là 20%/năm là 2.504.110đồng của H đã thu của những người vay tiền, tuy không bị tính khi xem xét trách nhiệm hình sự, nhưng đây là số tiền phát sinh từ việc thực hiện hành vi phạm tội, nên cần truy thu số tiền trên đối với H để sung vào ngân sách nước.
Như vậy tổng số tiền cần truy thu đối với bị cáo để sung vào ngân sách Nhà nước là 353.500.000đồng + 2.504.110đồng = 356.004.110đồng.
- Đối với khoản tiền lãi tương ứng với lãi suất trên 20%/năm mà H đã thu của người vay là 32.685.890đồng, đây là khoản tiền bị cáo đã thu lợi bất chính của những người vay, bản thân những người vay cũng khẳng định sử dụng số tiền vay vào mục đích hợp pháp, nên cần buộc bị cáo trả lại cho những người vay.
- Đối với số tiền gốc 24.500.000đồng người vay chưa trả cho H gồm anh Nguyễn Văn H3 16.000.000đồng, anh Nguyễn Văn G 5.000.000đồng, Nguyễn Thị H5 3.500.000đồng cần phải truy thu để sung vào ngân sách nhà nước theo quy định.
[8] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn H phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”. Áp dụng khoản 1 Điều 201, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 35 Bộ luật hình sự, xử phạt: Hoàng Văn H 130.000.000đồng (một trăm ba mươi triệu đồng).
- Áp dụng khoản 1 Điều 46; khoản 1, 2 Điều 47; khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a, b khoản 1 Điều 5 Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhaan dân tối cao:
Truy thu của Hoàng Văn H 356.004.110đồng (làm tròn thành 356.004.000 đồng (ba trăm năm mươi sáu triệu không trăm linh bốn nghìn đồng)) để sung vào ngân sách nhà nước.
Truy thu của anh Nguyễn Văn H3 16.000.000đồng (mười sáu triệu đồng), anh Nguyễn Văn G 5.000.000đồng ( năm triệu đồng), chị Nguyễn Thị H5 3.500.000đồng (ba triệu năm trăm nghìn đồng) để sung vào ngân sách nhà nước.
Buộc Hoàng Văn H phải trả cho 11 người vay khoản tiền lãi tương ứng với lãi suất trên 20%/năm mà H đã thu của 11 người vay là 32.685.890đồng, cụ thể:
- - Trả cho anh Nguyễn Văn T1 12.655.479đồng (làm tròn thành 12.655.500 đồng (mười hai triệu sáu trăm năm mươi lăm nghìn năm trăm đồng)).
- - Trả cho anh Nguyễn Văn H3 1.961.096đồng (làm tròn thành 1.961.000 đồng (một triệu chín trăm sáu mốt nghìn đồng)).
- - Trả cho anh Nguyễn Văn G 8.568.492đồng (làm tròn thành 8.568.500 đồng (tám triệu năm trăm sáu mươi tám nghìn năm trăm đồng)).
- - Trả cho anh Nguyễn Văn H4 911.781đồng (làm tròn thành 911.500 đồng (chín trăm mười một nghìn năm trăm đồng)).
- - Trả cho anh Nguyễn Văn T2 661.644đồng (làm tròn thành 661.500 đồng (sáu trăm sáu mốt nghìn năm trăm đồng)).
- - Trả cho anh Nguyễn Văn B 945.205đồng (làm tròn thành 945.000đồng (chín trăm bốn mươi lăm nghìn đồng)).
- - Trả cho anh Bế Văn N 595.205đồng (làm tròn thành 595.000đồng (năm trăm chín mươi lăm nghìn đồng)).
- - Trả cho anh Nguyễn Văn T3 475.342đồng (làm tròn thành 475.000đồng (bốn trăm bảy mươi lăm nghìn đồng)).
- - Trả cho anh Nguyễn Văn G1 1.718.493đồng (làm tròn thành 1.718.500 đồng (một triệu bảy trăm mười tám nghìn năm trăm đồng)).
- - Trả cho anh Nguyễn Văn Q 2.235.617đồng (làm tròn thành 2.235.500 đồng (hai triệu hai trăm ba mươi lăm nghìn năm trăm đồng)).
- - Trả cho chị Nguyễn Thị H5 1.957.534đồng (làm tròn thành 1.957.500 đồng (một triệu chín trăm năm mươi bảy nghìn năm trăm đồng)).
- Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, người phải thi hành án còn phải trả lãi đối với số tiền chậm thi hành án tương ứng với thời gian chậm thi hành án. Lãi suất phát sinh do chậm thi hành án theo quy định tại Điều 357 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Buộc bị cáo Hoàng Văn H phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Minh Hoàng |
Bản án số 61/2024/HS-ST ngày 16/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM DƯƠNG, TỈNH VĨNH PHÚC về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Số bản án: 61/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM DƯƠNG, TỈNH VĨNH PHÚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hoàng Văn H (Cho vay lãi nặng)
