Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LONG XUYÊN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 61/2024/HS-ST

Ngày 16-5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Bùi Thị Lan.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phan Thị Yến và bà Huỳnh Thị Thuý Hoa.

Thư ký phiên toà: Bà Khưu Huỳnh Mỹ Ngọc - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Thành - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 50/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 621/2024/QĐXXST- HS ngày 02 tháng 5 năm 2024, đối với bị cáo:

Nguyễn Văn S

sinh ngày 09/10/1980 tại thành phố L, tỉnh An Giang; nơi cư trú: số B, tổ G, khóm N, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 3/12; giới tính: nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H (chết) và bà Nguyễn Thị H1; bị cáo có vợ là Đinh Thị Thu S1 (đã ly hôn) và có 03 con.

Tiền án: ngày 28 tháng 7 năm 2015, bị Toà án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đến ngày 07 tháng 7 năm 2016 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù; ngày 27 tháng 7 năm 2017, bị Toà án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đến ngày 31 tháng 8 năm 2019 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù; ngày 17 tháng 12 năm 2020 bị Toà án nhân dân tỉnh An Giang xử phạt 04 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đến ngày 30 tháng 10 năm 2023 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù.

Tiền sự: không.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 12 tháng 12 năm 2023 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố L. (có mặt)

- Bị hại: Lê Thị T, sinh năm 1988; (Vắng mặt)

Cư trú: Số C, khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Mai Văn C, sinh năm 2001. (Vắng mặt)

Cư trú: Số A, khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 18 giờ 00 phút ngày 12 tháng 12 năm 2023, Nguyễn Văn S được một người bạn tên B (chưa rõ nhân thân) rủ đi tìm tài sản lấy trộm bán lấy tiền tiêu xài thì S đồng ý. Để thực hiện hành vi này, B điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Vision, biển số 68D1-550.89 chở S đến nhà số C, khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang thì phát hiện xe mô tô nhãn hiệu Honda Future II, màu đen, biển số 67B1-199.95 của chị Lê Thị T dựng trong sân nhà, không có người trông giữ, nên B kêu S đứng bên ngoài cảnh giới để B dùng đoản đã chuẩn bị trước vào bẻ khoá xe rồi B trở ra ngồi lên xe biển số 68D1-550.89 cảnh giới và kêu S vào lấy trộm xe. Trong lúc S đang lấy trộm xe dẫn xe ra ngoài thì bị người dân phát hiện bắt quả tang giao Công an phường B, thành phố L. Riêng B đã bỏ trốn.

Vật chứng thu giữ gồm: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Future II, màu đen, biển số 67B1-199.95 đã qua sử dụng và 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 67B1-199.95; 01 (một) cây đoản bằng kim loại, hình chữ L và 01 (một) điện thoại di động hiệu N màu đen.

Tại Kết luận giám định tài sản số 302/KL-HĐĐGTS ngày 26 tháng 01 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố L, kết luận: 01 (một) xe mô tô biển số 67B1-199.95, nhãn hiệu Honda Future II trị giá 13.000.000 đồng.

Tại Cáo trạng số 61/CT-VKSLX-HS ngày 04 tháng 4 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang đã truy tố Nguyễn Văn S về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên trình bày nội dung luận tội: Giữ nguyên nội dung truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn S và đề nghị:

Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S từ 03 (ba) năm đến 04 (bốn) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường thiệt hại nên không xét đến.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên đề nghị không áp dụng.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) cây đoản bằng kim loại, hình chữ L do bị cáo đã sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội, hiện không còn giá trị sử dụng.

Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01(một) điện thoại di động N màu đen do bị cáo đã sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai nhận đã thực hiện hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố, không tranh luận với nội dung luận tội của đại diện Viện kiểm sát, bị cáo nói lời sau cùng đã ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa cụ liên quan vắng mặt, mặc dù Tòa án đã tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Xét thấy, sự vắng mặt của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa cụ liên quan không gây trở ngại gì đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[2] Về trách nhiệm hình sự:

Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố và phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy đã có đủ căn cứ kết luận:

Ngày 12 tháng 12 năm 2023, bị cáo Nguyễn Văn S đã thực hiện hành vi lấy trộm 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Future II, biển số 67B1-199.95, trị giá 13.000.000 đồng của chị Lê Thị T.

Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Văn S có đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 có khung hình phạt tù từ 02 năm đến 07 năm (tội phạm nghiêm trọng). Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên truy tố bị cáo là có căn cứ, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Đối với đối tượng có tên B. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn S khai không biết rõ nhân thân của người này, Hội đồng xét xử kiến nghị Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ, khi nào có căn cứ yêu cầu xử lý theo đúng quy định của pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm:

Bị cáo Nguyễn Văn S là người đã thành niên, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bản thân nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Bị cáo là người có nhân thân xấu, bị 02 bản án của Toà án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang kết án về tội “Trộm cắp tài sản”; bị 01 bản án của Toà án nhân dân tỉnh An Giang kết án về tội “Trộm cắp tài sản”, cả 03 bản án này bị cáo đã chấp hành xong hình phạt nhưng chưa được xóa án tích, nay lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội đã thể hiện thái độ xem thường pháp luật. Lẽ ra, sau khi chấp hành xong hình phạt của các bản án trên bị cáo phải biết hoàn lương, tu tâm, dưỡng tính, tích cực lao động tạo ra thu nhập nuôi sống bản thân trở thành người có ích cho xã hội. Nhưng với bản chất tham lam tư lợi, lười lao động, không lo làm ăn, thích lối sống hưởng thụ và xem thường pháp luật nên bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu tài sản để lén lút lấy tài sản một cách bất hợp pháp. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự tại địa phương và gây tâm lý hoang mang lo sợ cho người dân. Do đó, cần áp dụng mức hình phạt tù có thời hạn mới tương xứng với mức độ phạm tội mà bị cáo đã gây ra để giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội. Mức hình phạt tù có thời hạn mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật, được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, Hội đồng xét xử có xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Do bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn và thu nhập không ổn định nên Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường thêm nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét giải quyết.

[7] Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 (một) cây đoản bằng kim loại, hình chữ L đã thu giữ của bị cáo S, đây là công cụ bị cáo đã sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu tiêu huỷ do không còn giá trị sử dụng.

Đối với 01(một) điện thoại di động N màu đen đã thu giữ của bị cáo S, đây là phương tiện bị cáo đã sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu bán phát mại sung vào ngân sách Nhà nước.

[8] Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

1. Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S 04 (bốn) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 12/12/2023).

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

Tịch thu tiêu hủy 01 (một) cây đoản bằng kim loại, hình chữ L đã thu giữ của bị cáo, không còn giá trị sử dụng.

Tịch thu bán phát mại sung vào ngân sách Nhà nước 01(một) điện thoại di động N màu đen đã thu giữ của bị cáo.

(Đặc điểm tang vật như Biên bản bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 15 tháng 5 năm 2024).

3. Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Văn S phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND tỉnh An Giang;
  • - VKSND TP. Long Xuyên;
  • - Chi cục THADS TP. Long Xuyên;
  • - Nhà tạm giữ Công an TP. Long Xuyên;
  • - CQTHAHS Công an TP. Long Xuyên;
  • - CQĐT Công an TP. Long Xuyên;
  • - Sở Tư pháp tỉnh An Giang;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Thị Lan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 61/2024/HS-ST ngày 16/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về trộm cắp tài sản (hình sự)

  • Số bản án: 61/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: guyễn Văn S phạm tội "Trộm cắp tài sản"
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger