Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂN PHÚ

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 61/2024/HS-ST

Ngày 16-5-2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Phạm Tuân

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Đình Khôi

Ông Phạm Công Gia

- Thư ký phiên tòa: Bà Lý Thị Chuyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện

Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai tham

gia phiên tòa: Ông Đỗ Sơn Tùng - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phú xét xử sơ thẩm công khai bằng hình thức trực tuyến tại điểm cầu Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Tân Phú và điểm cầu phòng xét xử trực tuyến Công an huyện T vụ án hình sự thụ lý số 47/2024/HSST ngày 25 tháng 4 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 70/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Trần Duy Đ; Giới tính: Nam; Sinh năm 2003 tại Đồng Nai;

Nơi cư trú: ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc:

Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 8/12; Con

ông Trần Văn Đ1, sinh năm 1974 và bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1979; Vợ, con:

chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an

huyện T, tỉnh Đồng Nai từ ngày 15/02/2024 đến nay.

2. Họ và tên: Nguyễn Vũ H; Giới tính: Nam; Sinh năm 2001 tại Đồng Nai;

Nơi cư trú: ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc:

Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 7/12; Con

ông Nguyễn Vũ H1, sinh năm 1972 và bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1979; Vợ,

con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ

Công an huyện T, tỉnh Đồng Nai từ ngày 15/02/2024 đến nay.

3. Họ và tên: Đặng Văn P; Giới tính: Nam; Sinh năm 1998 tại Đồng Nai;

Nơi cư trú: ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc:

Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 7/12; Con

ông Đặng Võ L, sinh năm 1974 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1976; Vợ: Trần

Nguyễn Kim C, sinh năm 2001; Con: Có 01 con sinh năm 2023; Tiền án, tiền

sự: Không; Nhân thân: ngày 05/3/2020, Công an huyện T ra Quyết định xử phạt

vi phạm hành chính số 49/QĐ-XPHC về hành vi mua dâm với số tiền 750.000

đồng, đã đóng phạt ngày 16/3/2020; Bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công

an huyện T, tỉnh Đồng Nai từ ngày 15/02/2024 đến ngày 17/4/2024 thay thế

bằng biện pháp Bảo lĩnh.

4. Họ và tên: Nguyễn Bình P1; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: P1 khùng;

Sinh năm 1988 tại Đồng Nai; Nơi cư trú: khu I, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng

Nai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm

thuê; Trình độ học vấn: 10/12; Con ông Nguyễn Thanh B, sinh năm 1967 (đã

chết) và bà Nguyễn Thị Hồng N, sinh năm 1967; Vợ: Lâm Kim H2, sinh năm

1992 (đã ly hôn); Có 03 con, lớn nhất sinh năm 2018, nhỏ nhất sinh năm 2021;

Tiền án, tiền sự: Không; Bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T,

tỉnh Đồng Nai từ ngày 15/02/2024 đến ngày 13/4/2024 thay thế bằng biện pháp

Bảo lĩnh.

- Bị hại: Ông Phạm Văn H3, sinh năm 1964.(có mặt)

Nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Anh Nguyễn Bình P2, sinh năm 1998.(có mặt)
  2. Nơi cư trú: Ấp Voi, xã A, huyện B, tỉnh Tây Ninh.

  3. Anh Vũ Hùng C1, sinh năm 1993.(vắng mặt)
  4. Chị Phạm Thị T1, sinh năm 1994.(vắng mặt)
  5. Cùng cư trú: Khu phố H, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Duy ĐNguyễn Vũ H cùng trú tại xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai, có quan hệ là bạn bè quen biết ngoài xã hội. Tối ngày 25/01/2024, do cần tiền tiêu xài cá nhân nên ĐH bàn bạc, rủ nhau tìm tài sản sơ hở để trộm cắp. Thực hiện ý định trên, Đ điều khiển xe mô tô hiệu Honda loại Vision biển số 60B4 - 743.84 chở H đi trên đường Đ theo hướng Quốc lộ B đi Đ để tìm tài sản. Khi đi ngang qua Trường mầm non T2 thuộc ấp Đ, xã T, Đức phát hiện xe mô tô hiệu Honda loại Wave biển số 60B3 - 860.40 của ông Phạm Văn H3 (bảo vệ trường mầm non) đang dựng gần dãy phòng học phía trong, ông H3 đang nằm ngủ tại phòng bảo vệ, cổng trường không khóa nên cả hai đột nhập vào trường và trộm cắp xe mô tô trên. Sau đó, ĐH mang xe cất giấu tại Nghĩa địa Phương L. Đến ngày 28/01/2024, ĐH đến nghĩa địa Phương L để lấy xe mô tô biển số 60B3 - 860.40 mang về nhà của Đ cất giấu, lo sợ bị phát hiện, ĐH đã tháo bửng hai bên và biển số xe.

Ngày 09/02/2024, Đ điều khiển xe mô tô lấy trộm được của ông H3 và cầm theo một biển số 60B3 - 959.89 đến nhà Đặng Văn P nhờ mang đi cầm cố, Văn P biết rõ xe mô tô trên là do Đ trộm cắp mà có nhưng vẫn đồng ý giúp Đ và cùng Đ gắn biển số 60B3 - 959.89 vào xe mô tô Đ trộm cắp được. Đến khoảng

20 giờ cùng ngày, Văn P điều khiển xe mô tô trên đến nhà Nguyễn Bình P1, ngụ khu I, thị trấn T và nhờ B cầm cố dùm, Bình P1 biết rõ xe mô tô trên là tài sản do phạm tội mà có nhưng vì chỗ quen biết thân thiết với Văn P nên đồng ý, nhưng do Bình P1 không có tiền nên đã nhờ Nguyễn Bình P2 (em ruột B) cầm cố xe mô tô giúp cho Văn P. Do được Bình P1 giới thiệu, bảo lãnh nên P2 đồng ý cầm xe mô tô với giá 2.000.000 đồng và đưa xe cho Bình P1 cất giữ, bảo quản. Số tiền có được từ việc cầm cố xe mô tô, Đặng Văn P sử dụng hết vào mục đích tiêu xài cá nhân.

Đến ngày 15/02/2024, Công an thị trấn T kiểm tra hành chính nơi ở của Nguyễn Bình P1 phát hiện xe mô tô hiệu Honda loại Wave gắn biển số giả 60B3-959.89 là vật chứng trong vụ Trộm cắp tài sản, xảy ra ngày 25/01/2024 tại Trường mầm non T2 nên tiến hành tạm giữ và triệu tập các đối tượng liên quan đến làm việc.

Vật chứng thu giữ: 01 xe mô tô hiệu Honda loại Wave biển số 60B3 - 860.40, 01 biển số giả 60B3 - 959.89; 01 điện thoại di động hiệu Vivo màu xanh tím.

Tại Kết luận định giá tài sản số 06/KL-HĐĐGTS ngày 20/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T kết luận 01 xe mô tô hiệu Honda loại Wave biển số 60B3 - 860.40 đã qua sử dụng có giá trị 14.800.000 đồng.

Tại bản Cáo trạng số 54/CT-VKSTP-ĐN ngày 25 tháng 4 năm 2024, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú đã truy tố bị cáo Trần Duy Đ, Nguyễn Vũ H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); bị cáo Đặng Văn P, Nguyễn Bình P1 về tội: “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú giữ nguyên quyết định truy tố theo bản cáo trạng và đề nghị:

Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo Đặng Văn P đã bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Các bị cáo Trần Duy Đ, Nguyễn Vũ H, Nguyễn Bình P1 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về tội danh: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Duy Đ, Nguyễn Vũ H phạm tội “Trộm cắp tài sản”, các bị cáo Đặng Văn P, Nguyễn Bình P1 phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tuyên phạt bị cáo Trần Duy Đ, Nguyễn Vũ H từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.

- Căn cứ khoản 1 Điều 323; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật Hình sự; Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tuyên phạt bị cáo Đặng Văn P, từ 10 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách gấp đôi.

- Căn cứ khoản 1 Điều 323; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật Hình sự; Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tuyên phạt bị cáo Nguyễn Bình P1 08 đến 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách gấp đôi.

Về trách nhiệm dân sự: Ông Phạm Văn H3 đã nhận lại xe mô tô hiệu Honda loại Wave biển số 60B3 - 860.40 và không có yêu cầu gì khác. Anh Nguyễn Bình P2 đã nhận lại số tiền 2.000.000 đồng do Đặng Văn P bồi thường thiệt hại và không có yêu cầu gì thêm.

Về vật chứng thu giữ:

  • 01 biển số 60B3 - 959.89 là của Trần Duy Đ nhặt được ven đường, sử dụng vào mục đích ngụy trang, che dấu tài sản trộm cắp nên tịch thu tiêu hủy.
  • 01 điện thoại di động hiệu Vivo màu xanh tím là tài sản hợp pháp của Nguyễn Vũ H, không dùng vào mục đích phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trao trả tài sản trên cho Nguyễn Vũ H.
  • 01 xe mô tô hiệu Honda loại Wave biển số 60B3 - 860.40 là tài sản hợp pháp của ông Phạm Văn H3 nên Cơ quan điều tra đã trao trả tài sản trên cho ông Phạm Văn H3.
  • Đối với xe mô tô hiệu Honda loại Vision biển số 60B4 - 743.84 là tài sản hợp pháp của bà Phạm Thị T1, sinh năm 1994, ngụ khu phố H, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai, khi Đ mượn xe mô tô biển số 60B4 - 743.84 thì bà T1 không biết Đ sử dụng vào mục đích làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội nên Cơ quan điều tra không tạm giữ tài sản trên.

Về các vấn đề khác: Đối với anh Nguyễn Bình P2 khi nhận cầm cố xe mô tô hiệu Honda loại Wave biển số 60B3 - 860.40, anh P2 không biết tài sản trên là do phạm tội mà có nên không xem xét xử lý trách nhiệm hình sự.

Bị cáo nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Căn cứ kết tội và điều luật áp dụng: Tại phiên tòa bị cáo Trần Duy Đ, Nguyễn Vũ H, Đặng Văn PNguyễn Bình P1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với nhau và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Tối ngày 25/01/2024 tại Trường mầm non T2 thuộc ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai, Trần Duy ĐNguyễn Vũ H có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 xe mô tô hiệu Honda loại Wave biển số 60B3 - 860.40 đã qua sử dụng của ông Phạm Văn H3 có giá trị 14.800.000 đồng. Đến ngày 09/02/2024, Trần Duy Đ nhờ Đặng Văn P cầm cố xe mô tô biển số 60B3 - 860.40, Đặng Văn P biết rõ tài sản trên là do Đ phạm tội mà có nhưng vẫn đồng ý và mang xe mô tô đến nhà của Nguyễn Bình P1 nhờ cầm cố. Mặc dù biết rõ tài sản trên là do phạm tội mà có nhưng vì là chỗ quen biết, thân thiết với Văn P nên Nguyễn Bình P1 nhờ em trai là Nguyễn Bình P2 cầm cố cho Đặng Văn P được số tiền 2.000.000 đồng. Đến ngày 15/02/2024, Công an thị trấn T kiểm tra hành chính nơi ở của Nguyễn Bình P1 phát hiện xe mô tô hiệu Honda loại Wave gắn biển số giả F - 959.89 nên tiến hành tạm giữ và triệu tập các đối tượng liên quan đến làm việc.

Như vậy, Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ kết luận bị cáo Trần Duy ĐNguyễn Vũ H đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); bị cáo Đặng Văn PNguyễn Bình P1 phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[2] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình.

[3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Trần Duy Đ, Nguyễn Vũ H, Nguyễn Bình P1Đặng Văn P thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Bị cáo Đặng Văn P đã bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả nên được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Các bị cáo Trần Duy Đ, Nguyễn Vũ H, Nguyễn Bình P1 chưa có tiền án tiền sự, bị cáo Nguyễn Bình P1 có hoàn cảnh gia đình khó khăn, là lao động duy nhất trong gia đình nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[4] Về tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của các bị cáo: Các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Tuy nhiên hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác, xâm phạm đến trật tự công cộng và trật tự quản lý nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến an toàn trật tự tại địa phương. Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, trong đó bị cáo Đ là người khởi xướng và là người thực hành tích cực, sau khi trộm cắp được tài sản bị cáo là người trực tiếp mang đi cầm cố, do đó vai trò của bị cáo Đ là cao hơn so với bị cáo H. Các bị cáo Văn PBình P1 cùng nhau

giúp bị cáo Đ tiêu thụ tài sản trộm cắp được. Do đó, vai trò của bị cáo Văn PBình P1 là ngang nhau đối với hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.

[5] Về quyết định hình phạt: Các bị cáo ĐH trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, bản thân là người nghiện ma túy và đang thực hiện cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng. Do đó cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn nhằm giáo dục, cải tạo các bị cáo đồng thời răn đe phòng ngừa chung. Đối với các bị cáo Văn PBình P1 phạm tội có khung hình phạt nhẹ hơn, có nhiều tình tiết giảm nhẹ. Mặc dù bị cáo Văn P đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi mua dâm nhưng đã quá thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, tính chất mức độ phạm tội lần này thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Các bị cáo Văn PB có nơi cư trú rõ ràng và có khả năng tự cải tạo nên không cần buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù mà giao về cho chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát, giáo dục là đủ nghiêm.

[6] Về Biện pháp tư pháp:

  • Ông Phạm Văn H3 đã nhận lại xe mô tô hiệu Honda loại Wave đăng ký biển số 60B3 - 860.40; Anh Nguyễn Bình P2 đã nhận lại số tiền 2.000.000 đồng. Ông H3 và anh P2 không yêu cầu gì thêm về dân sự nên không xét.
  • Đối với 01 biển số 60B3 - 959.89 bị cáo Trần Duy Đ khai nhặt được ven đường và sử dụng vào mục đích ngụy trang, che dấu tài sản trộm cắp, do không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
  • Đối với 01 điện thoại di động hiệu Vivo màu xanh tím là tài sản hợp pháp của Nguyễn Vũ H, không dùng vào việc phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho Nguyễn Vũ H là phù hợp.
  • Đối với xe mô tô hiệu Honda loại Vision biển số 60B4 - 743.84 là tài sản hợp pháp của chị Phạm Thị T1 và anh Vũ Hùng C1, khi bị cáo Đ mượn xe mô tô biển số 60B4 - 743.84 thì chị T1, anh C1 không biết Đ sử dụng làm phương tiện để thực hiện hành vi phạm tội nên Cơ quan điều tra công an huyện T không thu giữ mà trả lại cho chị T1, anh C1 là phù hợp.

[6] Về các vấn đề khác: Đối với anh Nguyễn Bình P2 khi nhận cầm cố xe mô tô hiệu Honda loại Wave biển số 60B3 - 860.40, anh P2 không biết tài sản trên là do phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra công an huyện T không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với anh P2 là phù hợp.

[7] Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[8] Đề nghị của Kiểm sát viên phù hợp với nhận định trên nên chấp nhận.

[9] Về hành vi của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố

tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Trần Duy Đ, Nguyễn Vũ H phạm tội “Trộm cắp tài sản”, bị cáo Đặng Văn P, Nguyễn Bình P1 phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt: Bị cáo Trần Duy Đ 01 (Một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 15/02/2024.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Vũ H 10 (Mười) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 15/02/2024.

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 323; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018; Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo.

Xử phạt bị cáo Đặng Văn P 08 (Tám) tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (Một) năm 04 (Bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 323; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018; Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Bình P1 08 (Tám) tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (Một) năm 04 (Bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Đặng Văn P cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Giao bị cáo Nguyễn Bình P1 cho Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 biển số 60B3 - 959.89 hiện đang tạm giữ

tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phú theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 24/4/2024.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Trần Duy Đ, Nguyễn Vũ H, Đặng Văn PNguyễn Bình P1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Tuân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 61/2024/HS-ST ngày 16/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI về trộm cắp tài sản và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có

  • Số bản án: 61/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản và Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ngày 25/01/2024 tại Trường mầm non Thanh Sơn thuộc ấp Đ, xã Th, huyện T, tỉnh Đồng Nai, Trần Duy Đ và Nguyễn Vũ H có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 xe mô tô hiệu Honda loại Wave biển số 60B3 - 860.40 đã qua sử dụng của ông Phạm Văn H có giá trị 14.800.000 đồng. Đến ngày 09/02/2024, Trần Duy Đ nhờ Đặng Văn Ph cầm cố xe mô tô biển số 60B3 - 860.40, Đặng Văn Ph biết rõ tài sản trên là do Đ phạm tội mà có nhưng vẫn đồng ý và mang xe mô tô đến nhà của Nguyễn Bình Ph nhờ cầm cố. Mặc dù biết rõ tài sản trên là do phạm tội mà có nhưng vì là chỗ quen biết, thân thiết với Văn Ph nên Nguyễn Bình Ph nhờ em trai là Nguyễn Bình Ph1 cầm cố cho Đặng Văn Ph2 được số tiền 2.000.000 đồng.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger