Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 61/2023/HS-PT

Ngày: 15/11/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Huy Đức.

- Các Thẩm phán: Ông Võ Nguyên Tùngông Nguyễn Việt Hùng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Quang – Thư ký viên Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Minh Tâm – Kiểm sát viên Trung cấp.

Ngày 15 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 57/2023/TLPT-HS ngày 04 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo Huỳnh Thị Mỹ N do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án Hình sự sơ thẩm số: 39/2023/HS-ST ngày 31/8/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên.

- Bị cáo có kháng cáo: Huỳnh Thị Mỹ N, sinh năm 1978 tại tỉnh Phú Yên, nơi cư trú: Thôn V, xã X, Tx. S, tỉnh Phú Yên; Nghề nghiệp: Nội trợ. Trình độ văn hóa (học vấn): (Không biết chữ). Giới tính: Nữ. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Phật giáo. Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Huỳnh H, sinh năm 1943 và bà Trịnh Thị M, sinh năm 1948. Có chồng tên Đỗ Văn B, sinh năm 1975 và 03 con, con lớn nhất sinh năm 2000, con nhỏ sinh năm 2010. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.

Ngoài ra, trong vụ án còn có bị cáo Đỗ Văn B (là chồng của bị cáo N) không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào năm 1999, vợ chồng ông Huỳnh Văn H1 và bà Ngô Thị T cho vợ chồng Đỗ Văn BHuỳnh Thị Mỹ N (N là em ruột của ông H1) sinh sống, ở tạm trên diện tích đất 683,8m² thuộc thửa 292, 293, tờ bản đồ số 25-ĐC tọa lạc tại thôn V, xã X, thị xã S (chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất), trên diện tích đất nêu trên có 01 ngôi nhà cấp 4 và các công trình gồm nhà vệ sinh, giếng nước, chái trước. Quá trình sinh sống, vợ chồng B, N đã tự ý sửa chữa ngôi nhà cấp 4 để làm thêm phòng ở, bếp và trồng thêm một số cây xanh. Đến năm 2017, giữa hai bên phát sinh tranh chấp diện tích đất và ngôi nhà nêu trên. Ngày 03/7/2017, vợ chồng ông H1, bà T khởi kiện tại Tòa án nhân dân thị xã Sông Cầu về việc yêu cầu đòi lại tài sản. Trong khi Tòa án nhân dân thị xã Sông Cầu đang thụ lý giải quyết vụ án thì ngày 14/9/2017 vợ chồng B, N chuyển nhượng quyền sử dụng đất có diện tích 88m² thuộc thửa đất số 57, tờ bản đồ số 26-ĐC tại thôn V, xã X, thị xã S (đây là diện tích đất khác của vợ chồng B, N) cho vợ chồng ông Nguyễn Văn V và bà Nguyễn Thị L với số tiền 60.000.000 đồng.

Vụ án được Tòa án nhân dân thị xã Sông Cầu xét xử sơ thẩm theo Bản án dân sự sơ thẩm số 08/2018/DS-ST ngày 23/10/2018. Sau đó, Tòa án nhân tỉnh Phú Yên xét xử vụ án theo thủ tục phúc thẩm. Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 27/2019/DS-PT ngày 28/6/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên quyết định: Buộc vợ chồng Đỗ Văn B, Huỳnh Thị Mỹ N phải trả lại cho vợ chồng ông Huỳnh Văn H1, bà Ngô Thị T ngôi nhà và vật kiến trúc gắn liền quyền sử dụng đất 683,8m² gồm 02 thửa: Thửa 293 diện tích 277m² và thửa 292 diện tích 406,8m² thuộc tờ bản đồ 25-ĐC, tọa lạc tại thôn V, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên. Sau đó, vợ chồng B, N có đơn đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm và được Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng có Thông báo số 64/TB-TA ngày 05/3/2020 trả lời không có căn cứ để kháng nghị giám đốc thẩm đối với Bản án dân sự phúc thẩm số 27/2019/DS-PT ngày 28/6/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.

Ngày 04/10/2019, Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Sông Cầu ra Quyết định thi hành án số 17/QĐ-CCTHADS về việc thi hành án theo yêu cầu của người được thi hành án là vợ chồng ông Huỳnh Văn H1 và bà Ngô Thị T đối với Bản án Dân sự phúc thẩm số 27/2019/DS-PT ngày 28/6/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên. Tuy nhiên, sau đó vợ chồng Đỗ Văn BHuỳnh Thị Mỹ N vẫn không chấp hành bản án đã có hiệu lực pháp luật. Đến ngày 18/10/2021, Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Sông Cầu ra Quyết định số 02/QĐ-CCTHADS về việc cưỡng chế trả nhà, giao nhà, giao đất.

Sau khi ra Quyết định cưỡng chế số 02/QĐ-CCTHADS ngày 18/10/2021, Hội đồng cưỡng chế đã nhiều lần vận động, thuyết phục vợ chồng B, N tự nguyện chấp hành án. Đồng thời, Ủy ban nhân dân xã X cũng thống nhất tạo điều kiện, bố trí nơi ở tạm cho vợ chồng B, N trong thời gian từ 03 tháng đến 06 tháng để tìm nơi ở mới nhưng vợ chồng B, N vẫn không chấp hành. Ngày 21/3/2022, Hội đồng cưỡng chế tiến hành cưỡng chế thi hành án theo đúng quy định pháp luật. Tuy nhiên, ngay sau khi cưỡng chế, vợ chồng B, N tiếp tục đem các vật dụng sinh hoạt quay trở lại diện tích đất nêu trên để tiếp tục dựng lán trại sinh sống.

Ngày 13/02/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã S ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Đỗ Văn BHuỳnh Thị Mỹ N về tội Không chấp hành án theo quy định tại khoản 1 Điều 380 Bộ luật hình sự. Sau đó, Tổ công tác của Ủy ban nhân dân xã X nhiều lần tổ chức vận động nhưng vợ chồng B, N vẫn không chấp hành. Tuy nhiên, đến ngày 15/6/2023 thì Đỗ Văn BHuỳnh Thị Mỹ N tự nguyện rời khỏi diện tích đất nêu trên để tìm nơi ở mới, đồng ý giao trả đất cho vợ chồng ông Huỳnh Văn H1, bà Ngô Thị T.

Tại Bản án Hình sự sơ thẩm số: 39/2023/HS-ST ngày 31/8/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Sông Cầu đã tuyên bị cáo Huỳnh Thị Mỹ N phạm tội “Không chấp hành án”. Áp dụng Khoản 1 Điều 380; Điểm i, s Khoản 1, Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Thị Mỹ N 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn áp dụng Khoản 1 Điều 380; Điểm i, s Khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Xử phạt: Bị cáo Đỗ Văn B 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, tuyên về chế định án treo, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 11/9/2023, bị cáo Huỳnh Thị Mỹ N có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.

Tại phiên tòa, bị cáo Huỳnh Thị Mỹ N vẫn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ đã tuyên và giữ nguyên kháng cáo.

Kiểm sát viên phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo – Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Lời khai nhận tội của bị cáo Huỳnh Thị Mỹ N tại Cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm đều phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị cáo không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị Đỗ Văn B, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Huỳnh Văn H1, Ngô Thị T và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 27/2019/DS-PT ngày 28/6/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên đã có hiệu lực pháp luật, Quyết định thi hành án số 17/QĐ-CCTHADS ngày 04/10/2019, Quyết định cưỡng chế số 02/QĐ-CCTHADS ngày 18/10/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Sông Cầu buộc vợ chồng Đỗ Văn BHuỳnh Thị Mỹ N phải trả lại diện tích đất 683,8m² thuộc thửa 292, 293 tờ bản đồ số 25-ĐC, tọa lạc tại thôn V, xã X, thị xã S cho vợ chồng ông Huỳnh Văn H1 và bà Ngô Thị T. Các bị cáo Đỗ Văn BHuỳnh Thị Mỹ N là người có nghĩa vụ phải thi hành theo các Bản án, Quyết định có hiệu lực của cơ quan có thẩm quyền, nhưng bị cáo B, bị cáo N không thực hiện nghĩa vụ thi hành án. Sau khi ban hành quyết định cưỡng chế, Hội đồng cưỡng chế, cũng như chính quyền địa phương đã nhiều lần vận động thuyết phục bị cáo B và bị cáo N tự nguyện chấp hành án nhưng các bị cáo vẫn không chấp hành án. Ngày 21/03/2022, Hội đồng cưỡng chế tiến hành cưỡng chế theo đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên sau khi cưỡng chế, bị cáo B và bị cáo N tiếp tục đem các vật dụng sinh hoạt quay trở lại diện tích đất nêu trên để tiếp tục dựng lán trại sinh sống. Do đó, cấp sơ thẩm đã truy tố và xét xử các bị cáo Huỳnh Thị Mỹ N, Đỗ Văn B về tội “Không chấp hành án” theo quy định tại Khoản 1 Điều 380 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng tội.

[2] Xét kháng cáo của bị cáo Huỳnh Thị Mỹ N, Hội đồng xét xử thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến tính nghiêm minh của bản án của Tòa án, xâm phạm đến hoạt động bình thường của cơ quan hoạt động tư pháp trong việc quản lý Nhà nước và thi hành pháp luật. Nhất là trong giai đoạn hiện nay, việc thi hành các bản án, quyết định của Toà án đang gặp rất nhiều khó khăn, do có sự chống đối và thái độ xem thường pháp luật của những người có nghĩa vụ phải thi hành các bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật, gây ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi hợp pháp của người khác (người được thi hành án) được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội ở địa phương nên cân xử phạt nghiêm, mới đảm bảo tác dụng răn đe, giáo dục cải tạo bị cáo và phòng ngừa tội phạm. Khi lượng hình, bản án sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ, vai trò phạm tội của bị cáo, xem xét nhân thân cũng như nguyên nhân, điều kiện phạm tội và áp dụng đúng, đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng để xử phạt bị cáo Huỳnh Thị Mỹ N 09 (chín) tháng tù và không cho bị cáo được hưởng án treo là phù hợp, đáp ứng được yêu cầu đấu tranh, phòng chống tội phạm tại địa phương trong tình hình hiện nay. Đồng thởi, bản án sơ thẩm xử phạt bị cáo Đỗ Văn B (là chồng của bị cáo N bị xét xử trong cùng vụ án) mức hình phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo là có sự xem xét, phân hóa hình phạt phù hợp, cũng như thể hiện được chính sách khoan hồng của pháp luật. Do đó, không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị cáo mà chấp nhận ý kiến của Kiểm sát viên – Giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt để có đủ thời gian cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.

[3] Bị cáo kháng cáo không được chấp nhận nên phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo hoặc kháng nghị nên cấp phúc thẩm không xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điểm a, Khoản 1, Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Huỳnh Thị Mỹ N – Giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt.

Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Thị Mỹ N phạm tội “Không chấp hành án”.

  1. Về hình phạt: Áp dụng Khoản 1 Điều 380; Điểm i, s Khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự;

    Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Thị Mỹ N 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

  2. Về án phí: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

    Bị cáo Huỳnh Thị Mỹ N phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN

– CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Nguyên Tùn

Trần Huy Đức

Nguyễn Việt Hùng

Nơi nhận:

  • - TAND Cấp cao tại Đà Nẵng;
  • - VKSND Cấp cao tại Đà Nẵng;
  • - VKSND tỉnh Phú Yên (2);
  • - Sở Tư pháp tỉnh Phú Yên;
  • - TAND Tx Sông Cầu (2);
  • - CQ CSĐT Tx Sông Cầu;
  • - VKSND Tx Sông Cầu;
  • - Chi cục THADS Tx Sông Cầu;
  • - P. KTNV- THAHS; Bị cáo, NTGTT, Lưu THS, AV.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Huy Đức

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 61/2023/HS-PT ngày 15/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN về hình sự phúc thẩm (tội không chấp hành án)

  • Số bản án: 61/2023/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Tội Không chấp hành án)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 15/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Huỳnh Thị Mỹ N phạm tội Không chấp hành án
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger