|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH CHƯƠNG TỈNH NGHỆ AN Bản án số: 61/2024/HSST Ngày 15/8/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH CHƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Ngọc Anh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đức Lam; Ông Nguyễn Tư Hải Phong.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Tráng là Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương T - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 14 và ngày 15 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 47/2024/TLST-HS ngày 21 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 76/2024/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Họ và tên: Nguyễn Đình H; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 20/7/1974 tại huyện T, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Xóm T, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 07/12; Họ tên cha: Nguyễn Đình T1 (Đã chết); Họ tên mẹ: Nguyễn Thị T2; Anh chị em ruột : Có 05 người, bị cáo là con thứ 02; Vợ: Trần Thị H1; Con: Có 02 con, lớn nhất sinh năm 1995, nhỏ nhất sinh năm 1999;Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 18/01/2024 đến ngày 27/01/2024. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn "Cấm đi khỏi nơi cư trú". Có mặt.
- Họ và tên: Đậu Thị H2; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 14/02/1974 tại huyện A, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Xóm T, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ học vấn: 07/12; Họ tên cha: Đậu Văn Đ (Đã chết); Họ tên mẹ: Hà Thị V (Đã chết); Anh chị em ruột : Có 05 người, bị cáo là con thứ 04; Chồng: Nguyễn Duy Q (Đã chết); Con: Có 03 con, lớn nhất sinh năm 1996, nhỏ nhất sinh năm 2009. Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Năm 2016, bị Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An xử phạt 5.000.000 đồng về tội “Đánh bạc”. Chấp hành xong Bản án ngày 27/4/2016.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 18/01/2024 đến ngày 27/01/2024. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn "Cấm đi khỏi nơi cư trú". Có mặt.
- Họ và tên: Nguyễn Văn Q1; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 12/6/1972 tại huyện T, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Xóm T, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 08/12; Họ tên cha: Nguyễn Văn S (Đã chết); Họ tên mẹ: Nguyễn Thị L (Đã chết); Anh chị em ruột: Có 08 người, bị cáo là con thứ 07; Vợ: Nguyễn Thị H3; Con: Có 02 con. Lớn nhất sinh năm 1999. Nhỏ nhất sinh năm 2000; Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Năm 1998, bị Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An xử phạt 06 tháng tù về tội “Huỷ hoại tài sản của công dân”. Chấp hành xong Bản án ngày 09/02/1999.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 18/01/2024 đến ngày 27/01/2024. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn "Cấm đi khỏi nơi cư trú". Có mặt.
- Họ và tên: Hoàng Văn T3; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 10/02/1989 tại huyện T, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Thôn M, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Họ tên cha: Hoàng Văn T4 (Đã chết); Họ tên mẹ: Phạm Thị K; Anh chị em ruột : Có 05 người, bị cáo là con thứ 04; Vợ: Dương Thị N; Con: Có 03 con, lớn nhất sinh năm 2011, nhỏ nhất sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 15/01/2021, bị chủ tịch UBND xã T, huyện T ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc” bằng hình thức phạt tiền 1.500.000 đồng. Chấp hành xong ngày 20/01/2021.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 18/01/2024 đến ngày 27/01/2024. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn "Cấm đi khỏi nơi cư trú". Có mặt.
- Họ và tên: Trần Đình H4; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 10/8/1976 tại huyện T, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Xóm T, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 07/12; Họ tên cha: Trần Văn K1 (Đã chết); Họ tên mẹ: Phan Thị H5; Anh chị em ruột: Có 07 người, bị cáo là con thứ 06; Vợ: Phan Thị H6; Con: Có 03 con. Lớn nhất sinh năm 1999. Nhỏ nhất sinh năm 2010; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 18/01/2024 đến ngày 27/01/2024. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn "Cấm đi khỏi nơi cư trú". Có mặt.
- Họ và tên: Nguyễn Văn P; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 10/5/1977 tại huyện A, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Xóm T, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Phó giám đốc Nông trường cao su Thanh niên xung phong B, xóm T, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An; Đoàn thể: Đảng viên Đ1, đã bị đình chỉ sinh hoạt Đảng theo Quyết định số 399 - QĐ/UBKTĐUK ngày 28/6/2024 của Uỷ ban kiểm tra Đảng uỷ khối doanh nghiệp N2; Trình độ học vấn: 12/12; Họ tên cha: Nguyễn Văn M; Họ tên mẹ: Phạm Thị K2; Anh chị em ruột : Có 04 người, bị cáo là con thứ nhất; Vợ: Lô Thị N1; Con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 18/01/2024 đến ngày 27/01/2024. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn "Cấm đi khỏi nơi cư trú". Có mặt.
- Họ và tên: Nguyễn Thị L1; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 10/10/1977 tại huyện N, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Xóm S, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Họ tên cha: Nguyễn Võ T5; Họ tên mẹ: Lê Thị C; Anh chị em ruột: Có 04 người, bị cáo là con thứ nhất; Chồng: Trương Xuân D; Con: Có 03 con. Lớn nhất sinh năm 1999. Nhỏ nhất sinh năm 2013; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 18/01/2024 đến ngày 27/01/2024. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn "Cấm đi khỏi nơi cư trú". Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 18/01/2024, Nguyễn Đình H, Đậu Thị H2, Trần Đình H4, Hoàng Văn T3 cùng rủ nhau về nhà H ở xóm T, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An để đánh bạc. Tại đây, khi chuẩn bị đánh bạc thì có Nguyễn Thị L1 đến để cùng tham gia đánh bạc. H lấy 01 (một) bộ bài tú lơ khơ ở quán tạp hoá của gia đình mình, lấy chiếc chiếu nhựa màu đỏ trải ra giữa sân rồi cùng Đậu Thị H2, Trần Đình H4, Hoàng Văn T3 và Nguyễn Thị L1 đánh bạc được thua bằng tiền bằng hình thức đánh “liêng”. Đánh đến khoảng 15 giờ cùng ngày thì có Nguyễn Văn P đến và cùng tham gia đánh bạc. Nguyễn Thị L1 đánh bạc đến 15 giờ 10 cùng ngày thì hết thua hết tiền nên nghỉ đánh bạc và ngồi xem. Những người còn lại vẫn tiếp tục đánh bạc đến khoảng 15 giờ 40 phút cùng ngày thì Nguyễn Văn Q1 đến ngồi vào vị trí của L1 trước đó và cùng đánh bạc với Nguyễn Đình H, Đậu Thị H2, Trần Đình H4, Hoàng Văn T3, Nguyễn Văn P. Một lúc sau có Nguyễn Chí G (sinh năm 1985, trú tại xóm S, xã T) đến xem và đứng sau lưng Hoàng Văn T3 xin T3 100.000 đồng (số tiền này T3 không sử dủng để đánh bạc), sau đó G lại nằm nghỉ trên chiếc phản gỗ để gần đó. Các đối tượng Nguyễn Văn Q1, Nguyễn Đình H, Đậu Thị H2, Trần Đình H4, Hoàng Văn T3, Nguyễn Văn P đánh bạc đến 16 giờ 00 phút cùng ngày 18/01/2024 thì bị tổ công tác Công an huyện T phát hiện bắt quả tang, thu giữ tại chiếu bạc số tiền 5.410.000 đồng (năm triệu bốn trăm mười nghìn đồng); 01 (một) bộ bài tú lơ khơ, màu đỏ, gồm 52 (năm mươi hai) quân bài và 01 (một) chiếc chiếu nhựa màu đỏ; thu giữ trong ví của Nguyễn Văn Q1 số tiền 1.300.000 đồng (một triệu ba trăm nghìn đồng); thu giữ trên tay phải của Nguyễn Đình H số tiền 2.300.000 đồng (hai triệu ba trăm nghìn đồng). Hoàng Văn T3 Lợi dụng lộn xộn trong quá trình bắt quả tang đã bỏ trốn, đến 20h30 phút cùng ngày, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên đã đến Cơ quan CSĐT Công an huyện T đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Trong quá trình điều tra đã chứng minh được số tiền các đối tượng sử dụng để đánh bạc như sau: Nguyễn Đình H mang theo và sử dụng số tiền 3.240.000 đồng (ba triệu hai trăm bốn mươi nghìn đồng) để đánh bạc, khi bắt quả tang đang thua 940.000 đồng (chín trăm bốn mươi nghìn đồng); Đậu Thị H2 mang theo và sử dụng số tiền 880.000 đồng (tám trăm tám mươi nghìn đồng) để đánh bạc, không xác định được thắng hay thua; Trần Đình H4 mang theo và sử dụng 920.000 đồng (chín trăm hai mươi nghìn đồng) để đánh bạc, không xác định được thắng hay thua; Nguyễn Văn P mang theo và sử dụng số tiền 1.440.000 đồng (một triệu bốn trăm bốn mươi nghìn đồng) để đánh bạc, thua 1.140.000 đồng (một triệu một trăm bốn mươi nghìn đồng); Nguyễn Văn Q1 mang theo và sử dụng số tiền 1.500.000 đồng (một triệu năm trăm nghìn đồng) để đánh bạc, không xác định được thắng hay thua; Nguyễn Thị L1 mang theo và sử dụng số tiền 140.000 đồng (một trăm bốn mươi nghìn đồng) để đánh bạc và thua hết; Hoàng Văn T3 mang theo số tiền 990.000 đồng (chín trăm chín mươi nghìn đồng) sử dụng số tiền 890.000 đồng (tám trăm chín mươi nghìn đồng) để đánh bạc, không xác định được thắng hay thua.
Như vậy, tổng số tiền mà Nguyễn Đình H, Đậu Thị H2, Trần Đình H4, Nguyễn Văn P, Nguyễn Văn Q1 và Hoàng Văn T3 sử dụng để đánh bạc là 8.870.000. Đối với Nguyễn Thị L1 phải chịu trách nhiệm hình sự với tổng số tiền để đánh bạc với Nguyễn Đình H, Đậu Thị H2, Trần Đình H4, Nguyễn Văn P, Nguyễn Văn Q1 là 7.510.000 đồng.
Cách thức đánh bạc bằng hình thức đánh "Liêng" được quy định như sau: Mỗi ván bài người cầm cái dùng 52 quân bài T6 lơ khơ chia đều cho mỗi người 03 quân bài, mỗi người bỏ "tẩy" số tiền thấp nhất là 20.000 đồng (Hai mươi nghìn đồng). Người phát bài kiểm tra bài rồi quyết định có "phạt" hay không, số tiền phạt tối đa không quá 100.000 đồng (một trăn nghìn đồng). Cách tính điểm để xác định thắng thua như sau: Nếu có 03 quân bài cùng bộ (gọi là "Sáp") thì cao nhất có 03 quân bài A rồi tiếp đến là 03 quân bài K cho đến 03 quân bài 2; Đến "Liêng" nếu có 03 quân bài theo thứ tự thì 03 quân bài QKA là cao nhất tiếp đến là 03 quân bài JQK cho đến 234; Đến "Ảnh" nếu có 03 quân bài KKQ là cao nhất, thấp nhất nếu có 03 quân bài JJQ; Nếu các quân bài là số thì cách tính điểm cao nhất là 9 điểm và thấp nhất là 0 điểm.
Bản cáo trạng số 49/CT-VKS-TC ngày 20 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An truy tố các bị cáo Nguyễn Đình H, Đậu Thị H2, Trần Đình H4, Nguyễn Văn P, Nguyễn Văn Q1, Nguyễn Thị L1 và Hoàng Văn T3 về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Nguyễn Đình H, Đậu Thị H2, Trần Đình H4, Nguyễn Văn P, Nguyễn Văn Q1, Nguyễn Thị L1 và Hoàng Văn T3 phạm tội “Đánh bạc”
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật hình sự xử phạt Nguyễn Đình H mức phạt tiền từ 25 triệu đồng đến 30 triệu đồng.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điểm i, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật hình sự xử phạt Nguyễn Văn P mức phạt tiền từ 20 triệu đồng đến 25 triệu đồng.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật hình sự xử phạt Nguyễn Thị L1 mức phạt tiền từ 25 triệu đồng đến 30 triệu đồng.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 Bộ luật hình sự xử phạt Trần Đình H4 mức phạt tiền từ 25 triệu đồng đến 30 triệu đồng.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt Hoàng Văn T3 mức án từ 06 tháng tù đến 08 tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 12 tháng đến 16 tháng.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt Đậu Thị H2 mức án từ 06 tháng tù đến 08 tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 12 tháng đến 16 tháng.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt Nguyễn Văn Q1 mức án từ 06 tháng tù đến 08 tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 12 tháng đến 16 tháng.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tú lơ khơ màu đỏ, 52 quân bài và 01 chiếc chiếu nhựa màu đỏ; tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 9.010.000 đồng.
Về án phí: Buộc các bị Nguyễn Đình H, Đậu Thị H2, Trần Đình H4, Nguyễn Văn P, Nguyễn Văn Q1, Nguyễn Thị L1 và Hoàng Văn T3 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Đình H, Đậu Thị H2, Trần Đình H4, Nguyễn Văn P, Nguyễn Văn Q1, Nguyễn Thị L1 và Hoàng Văn T3 đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố và không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát, xin hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:Trong quá trình giải quyết vụ án từ khi khởi tố, điều tra, truy tố thì Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Các bị cáo không có khiếu nại về các hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra và Viện kiểm sát, do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng của Viện kiểm sát. Xét thấy lời khai nhận tội của các bị cáo là phù hợp với nhau; phù hợp với vật chứng thu được; phù hợp với bản kết luận giám định và các chứng cứ tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa.
Có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 14 giờ 00 phút đến 16 giờ 00 phút ngày 18/01/2024, tại nhà của Nguyễn Đình H ở xóm T, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An, các đối tượng Nguyễn Đình H, Đậu Thị H2, Trần Đình H4, Nguyễn Văn P, Nguyễn Văn Q1, Nguyễn Thị L1 và Hoàng Văn T3 cùng nhau đánh bạc trái phép được thua bằng tiền bằng hình thức đánh “liêng” thì bị tổ công tác Công an huyện T phát hiện bắt quả tang. Tổng số tiền mà các đối tượng mà Nguyễn Đình H, Đậu Thị H2, Trần Đình H4, Nguyễn Văn P, Nguyễn Văn Q1 và Hoàng Văn T3 sử dụng để đánh bạc là 8.870.000 đồng. Tổng số tiền mà các đối tượng Nguyễn Thị L1, Nguyễn Đình H, Đậu Thị H2, Trần Đình H4, Nguyễn Văn P, Nguyễn Văn Q1 sử dụng để đánh bạc là 7.510.000 đồng.
Hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm vào tội “Đánh bạc” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015. Như bản cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố là đúng.
Xét về hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Đánh bạc là một tệ nạn xã hội không những đã trực tiêp xâm phạm đến trật tự công cộng mà còn là nguyên nhân phát sinh nhiều tệ nạn xã hội khác. Bản thân các bị cáo nhận thức rõ hành vi vi phạm pháp luật của mình nhưng vẫn phạm tội làm mất trật tự trị an, an toàn xã hội.
[3] Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, vai trò của từng bị cáo:
- Bị cáo Đậu Thị H2 là người tham gia tích cực việc đánh bạc từ đầu cho đến khi bị bắt quả tang, bị cáo có nhân thân xấu năm 2016 bị TAND huyện Thanh Chương xử phạt 5.000.000 đồng về hành vi đánh bạc, bị cáo không lấy đó làm bài học mà lại tiếp tục phạm tội. Do đó cần lên cho bị cáo một mức án nghiêm tương xứng với hành vi của bị cáo. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo được Tổng đội trưởng Tổng đội TNXP II tặng giấy khen, chồng bị cáo là Nguyễn Duy Q được Chủ tịch UBND tỉnh N tặng Bằng khen. Đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.
- Bị cáo Nguyễn Văn Q1 là người tham gia tích cực việc đánh bạc từ đầu cho đến khi bị bắt quả tang, bị cáo có nhân thân xấu năm 1998 bị TAND huyện Thanh Chương xử phạt 06 tháng tù về hành vi huỷ hoại tài sản của công dân, bị cáo không lấy đó làm bài học mà lại tiếp tục phạm tội. Vì vậy cần lên một mức án nghiêm tương xứng với hành vi bị cáo đã gây ra. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự người phạm tội thành khẩn khai, ăn năn hối cải, gia đình bị cáo là người có công với nước. Đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.
- Bị cáo Hoàng Văn T3 là người tham gia tích cực việc đánh bạc từ đầu cho đến khi bị bắt quả tang, bị cáo có nhân thân xấu năm 2021 bị chủ tịch UBND xã T, huyện T ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc, bị cáo không lấy đó làm bài học mà lại tiếp tục phạm tội. Vì vậy cần lên một mức án nghiêm tương xứng với hành vi bị cáo đã gây ra. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự người phạm tội thành khẩn khai, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, gia đình bị cáo là người có công với nước. Đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.
Xét thấy, các bị cáo Đậu Thị H2, Nguyễn Văn Q1, Hoàng Văn T3 có nơi cư trú rõ ràng, thật thà khai báo, ăn năn hối cải. Do đó không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội, mà chỉ cần áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho các bị cáo được hưởng án treo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa cũng đủ nghiêm.
- Bị cáo Nguyễn Đình H là chủ nhà, tham gia đánh bạc từ đầu cho đến khi bị phát hiện. Do đó cần lên cho bị cáo một mức án nghiêm tương xứng với hành vi của bị cáo. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, gia đình bị cáo là người có công với nước đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.
- Bị cáo Trần Đình H4 là người tham gia tích cực việc đánh bạc từ đầu cho đến khi bị bắt quả tang. Vì vậy cần lên một mức án nghiêm tương xứng với hành vi bị cáo đã gây ra. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.
- Bị cáo Nguyễn Văn P là người tham gia tích cực việc đánh bạc từ đầu cho đến khi bị bắt quả tang. Vì vậy cần lên một mức án nghiêm tương xứng với hành vi bị cáo đã gây ra. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự người phạm tội thành khẩn khai, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, gia đình bị cáo là người có công với nước và hiện tại đang thờ cúng liệt sỹ, bản thân bị cáo trong quá trình lao động và sản xuất đạt nhiều thành tích cao, nhận được nhiều danh hiệu và giấy khen. Đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại các điểm i, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.
- Bị cáo Nguyễn Thị L1 là người tham gia đánh bạc sau, thời gian đánh bạc ít hơn các bị cáo khác nhưng cũng cần lên một mức án nghiêm tương xứng với hành vi bị cáo đã gây ra. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự người phạm tội thành khẩn khai, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, gia đình bị cáo hiện tại đang thờ cúng liệt sỹ. Đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.
Xét thấy, các bị cáo Nguyễn Đình H, Trần Đình H4, Nguyễn Văn P, Nguyễn Thị L1 là những bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thật thà khai báo, ăn năn hối cải, gia đình các bị cáo Nguyễn Đình H, Nguyễn Văn P, Nguyễn Thị L1 đều có người có công với nước. Do đó, không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội, mà chỉ cần áp dụng hình phạt tiền đối với các bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa cũng đủ nghiêm.
Về xử lý vật chứng: 01 bộ bài tú lơ khơ và 01 chiếc chiếu nhựa là công cụ, phương tiện các bị cáo dùng để phạm tội nên tịch thu tiêu hủy; Số tiền 9.010.000 đồng là tiền các bị cáo dùng để đánh bạc do đó tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
Về án phí: Buộc các bị cáo Nguyễn Đình H, Đậu Thị H2, Trần Đình H4, Nguyễn Văn P, Nguyễn Văn Q1, Nguyễn Thị L1, Hoàng Văn T3 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự; Điều 106, Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án đối với các bị cáo Đậu Thị H2, Hoàng Văn T3.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự; Điều 106, Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án đối với bị cáo Nguyễn Văn Q1.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 35 của Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án đối với các bị cáo Nguyễn Đình H, Nguyễn Thị L1.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 321, điểm i, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 35 của Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án đối với các bị cáo Nguyễn Văn P.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 35 của Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án đối với bị cáo Trần Đình H4.
1. Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Đình H, Đậu Thị H2, Nguyễn Văn Q1, Hoàng Văn T3, Trần Đình H4, Nguyễn Văn P, Nguyễn Thị L1 phạm tội “Đánh bạc":
- Xử phạt bị cáo Đậu Thị H2 07 (Bảy) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 14 (Mười bốn) tháng. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Đậu Thị H2 cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người đó.
- Xử phạt bị cáo Hoàng Văn T3 07 (Bảy) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 14 (Mười bốn) tháng. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Hoàng Văn T3 cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người đó.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q1 06 (Sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 (Mười hai) tháng. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Nguyễn Văn Q1 cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người đó.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Xử phạt: Nguyễn Đình H 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng).
- Xử phạt: Nguyễn Thị L1 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng).
- Xử phạt: Trần Đình H4 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng).
- Xử phạt: Nguyễn Văn P 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng).
2. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài Tu lơ khơ gồm 52 quân bài, 01 chiếc chiếu nhựa màu đỏ (Chi tiết vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/7/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Nghệ An và Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An).
Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền 9.010.000 (Chín triệu không trăm mười ngàn đồng). (Chi tiết vật chứng theo Biên bản giao nhận tài sản ngày 01/02/2024; Phiếu nhập kho ngày 01/02/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Nghệ An và Kho bạc Nhà nước huyện T, tỉnh Nghệ An).
3. Về án phí: Buộc các bị cáo Nguyễn Đình H, Đậu Thị H2, Nguyễn Văn Q1, Hoàng Văn T3, Trần Đình H4, Nguyễn Văn P, Nguyễn Thị L1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo Nguyễn Đình H, Đậu Thị H2, Nguyễn Văn Q1, Hoàng Văn T3, Trần Đình H4, Nguyễn Văn P, Nguyễn Thị L1 có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
|
Nơi nhận:
|
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Ngọc Anh |
Bản án số 61/2024/HSST ngày 15/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH CHƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN về hình sự sơ thẩm - tội đánh bạc
- Số bản án: 61/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm - Tội Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH CHƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Đình H
