|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU TỈNH TÂY NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 61/2024/HS-ST
Ngày 12-7-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Minh Tuấn.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Võ Văn Hoa Vinh;
- Ông Tống Đức Hưởng.
Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Quốc Việt - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Trần Kiên Cường - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở TAND huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 50/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 61/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn B, sinh năm 1991 tại tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú và chỗ ở hiện nay: ấp H, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn B1 và bà Lê Thị H (tại phiên tòa bị cáo trình bày bà Lê Thị H đã chết); có vợ tên Giang Thị Bích N; con có 01 người, sinh năm: 2019; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 04/01/2024 đến ngày 13/01/2024 chuyển tạm giam tại nhà Tạm giữ Công an huyện T cho đến hiện nay (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 9/2023, Nguyễn Văn B quen biết với người đàn ông Campuchia tên H1 (không rõ nhân thân, lai lịch), biết H1 có bán pháo nổ nên B đặt mua pháo hoa nổ của H1 để bán cho người khác kiếm lời. Vào ngày 03/01/2024, B liên lạc và đặt mua của Hun 05 hộp pháo hoa nổ loại 49 ống với số tiền 300.000 đồng/hộp, tổng số tiền 1.500.000 đồng và hẹn địa điểm giao nhận pháo tại khu vực “Bàu Đá” thuộc ấp T xã T, huyện T. Đến khoảng 04 giờ ngày 04/01/2024, B một mình điều khiển xe mô tô biển số 70K6-2253 đến điểm hẹn nhận số pháo nêu trên và trả tiền cho người tên H1. Cùng ngày, có người đàn ông tên T điện thoại cho B hỏi mua 05 hộp pháo hoa nổ loại 49 ống thì được B đồng ý bán với số tiền 700.000 đồng/hộp, tổng số tiền 3.500.000 đồng, B yêu cầu người tên T phải chuyển khoản trả tiền trước vào tài khoản của ngân hàng của B qua số [...], thuộc Ngân hàng S1 thì T đồng ý. Sau khi nhận đủ tiền, B đóng gói số pháo hoa nổ nêu trên bỏ vào thùng catton và ghi thông tin trên mặt thùng catton “Ngã ba Mít Một 0349028348 Tèo” để gửi xe buýt về ngã ba “Mít Một” thị xã H, bán cho người tên T. Khi B điều khiển xe mô tô biển số 70K6 - 2253 chở thùng pháo hoa nổ đến khu vực ấp Đ, xã T, huyện T để gửi xe buýt thì bị lực lượng Công an kiểm tra phát hiện và bắt quả tang.
* Kết luận giám định số: 607/KL-KTHS ngày 10/01/2024 của Phân viện kỹ thuật hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh, kết luận:
- - 05 khối hình hộp chữ nhật, kích thước 17 cm x 17 cm x 10 cm, bên ngoài bọc giấy nhiều màu sắc, có dòng chữ “CHONG KOL C0850", bên trong mỗi khối có 49 ống. Mẫu vật gửi giám định là pháo nổ (pháo hoa nổ). Khi đốt bay lên cao, nổ và phát ra ánh sáng màu. Tổng khối lượng là 8,6 kg.
Kết quả thu giữ và xử lý vật chứng: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Wave, màu đỏ, biển số: 70K6-2253, số khung: RLHHC09033Y296554, số máy: HC09E0296110 của Nguyễn Văn B; 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu đen, số seri: R5CR60D20ZP của Nguyễn Văn B đang được tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.
Kê biên tài sản: Qua xác minh tài sản của Nguyễn Văn B không có tài sản có giá trị nên Cơ quan Điều tra không tiến hành kê biên.
Bản cáo trạng số: 61/CT-VKSTC, ngày 17 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh truy tố bị cáo Nguyễn Văn B về tội “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Văn B về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng. Đồng thời Đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Căn cứ điểm c Khoản 1 Điều 190; điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự;
- - Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B từ 12 tháng đến 15 tháng tù về tội “Buôn bán hàng cấm”
- - Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Đề nghị Hội đồng xét xử xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn B đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
Phần tranh luận: Bị cáo không tranh luận.
Lời nói sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[ 1 ] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, tỉnh Tây Ninh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[ 2 ] Về hành vi của bị cáo thể hiện: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo B khai nhận bị cáo biết rõ pháo hoa khi đốt phát ra tiếng nổ là hàng hóa bị Nhà nước Việt Nam nghiêm cấm mua bán và sử dụng nhưng vì mục đích kiếm lời, nên vào ngày 03/01/2024, B liên lạc và đặt mua của người Campuchia tên H1 (không rõ nhân thân, lai lịch) 05 hộp pháo hoa nổ loại 49 ống với số tiền 1.500.000 đồng và hẹn địa điểm giao nhận pháo tại khu vực “Bàu Đá” thuộc ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh. Đến khoảng 04 giờ ngày 04/01/2024, bị cáo B đến điểm hẹn nhận số pháo và trả tiền cho người tên H1. Cùng ngày, bị cáo B bán cho người tên T toàn bộ số pháo này với giá 3.500.000 đồng, việc mua bán thông qua giao dịch bằng điện thoại, sau đó người tên T đã chuyển khoản trả tiền cho bị cáo xong. Bị cáo B cho số pháo vào thùng Carton đóng gói lại và chở đến khu vực ấp Đ, xã T, huyện T để gửi xe buýt vận chuyển về cho người tên T thì bị lực lượng Công an kiểm tra phát hiện và bắt quả tang. Lời khai nhận tội của bị cáo B là phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai người làm chứng cùng với vật chứng và các tài liệu khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
Tại Kết luận giám định số: 607/KL-KTHS ngày 10/01/2024 của Phân viện kỹ thuật hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh, kết luận: 05 khối hình hộp chữ nhật là pháo nổ (pháo hoa nổ). Khi đốt bay lên cao, nổ và phát ra ánh sáng màu. Tổng khối lượng là 8,6 kg.
Do đó, hành vi của bị cáo Nguyễn Văn B đã đủ các yếu tố cấu thành tội “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự như luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ.
[ 3 ] Hành vi của bị cáo B là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự quản lý nhà nước đối với hàng hóa cấm kinh doanh, nên phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình đã gây ra.
Khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét đến nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
- - Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, được quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- - Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.
[ 4 ] Xét thấy bị cáo B thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu, có nơi cư trú rõ ràng, số lượng pháo là 8,6 kg, không có tình tiết tăng nặng, bị cáo bị tạm giam từ ngày 04/01/2024 đến ngày 16/7/2024. Xét thấy thời gian tạm giam trên cũng đủ thời gian giáo dục, cải tạo bị cáo thành người có ích cho xã hội, nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo hình phạt tù cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách cũng đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội, đồng thời có tác dụng giáo dục răn đe và phòng ngừa chung.
[ 5 ] Xét thấy bị cáo B đang bị tạm giam nhưng Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo hình phạt tù cho hưởng án treo, nên căn cứ vào Khoản 4 Điều 328 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tuyên bố trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo Nguyễn Văn B, nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.
[ 6 ] Hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo B không có tài sản, nên Hội đồng xét xử không phạt bổ sung.
Đối với người tên T có hành vi mua pháo hoa nổ của Bền, qua điều tra xác định được là Kiều Thanh S, sinh năm 1996 ngụ ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh. Tuy nhiên hiện nay Sở đã bỏ đi khỏi địa phương, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã ra quyết định truy tìm, khi nào làm việc được xử lý sau.
[ 7 ] Về xử lý vật chứng:
- - 01 thùng giấy Carton, đã được niêm phong có chữ ký của Giám định viên ông Đỗ Minh Q, ông Lâm Sơn D (Công an huyện T) và có đóng dấu mọc tròn của Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh, bên trong thùng Carton có chứa: 04 hộp hình chữ nhật, bên ngoài bọc giấy nhiều màu sắc, có dòng chữ “CHONG KOL C0850" là vật chứng không có giá trị sử dụng, nên căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy.
- - 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Wave, màu đỏ, biển số: 70K6-2253, số khung: RLHHC09033Y296554, số máy: HC09E0296110 không dùng vào việc phạm tội, nên căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự trả lại cho bị cáo B nhưng được tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- - 01 điện thoại di động hiệu S2 màu đen, số seri: R5CR60D20ZP là phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội, nên căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
[ 8 ] Về tiền thu lợi bất chính: Bị cáo sau khi buôn bán hàng cấm đã thu lợi bất chính được số tiền 3.500.000 (ba triệu năm trăm nghìn) đồng, trong quá trình điều tra bị cáo chưa nộp lại số tiền này, nên Hội đồng xét xử buộc bị cáo nộp lại số tiền 3.500.000 (ba triệu năm trăm nghìn) đồng để nộp vào ngân sách Nhà nước.
[ 9 ] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn B phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1/ Căn cứ điểm c Khoản 1 Điều 190; điểm s Khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B 01 (một) năm tù cho hưởng án treo về tội “Buôn bán hàng cấm”, thời gian thử thách là 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Tuyên bố trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo Nguyễn Văn B, nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.
Giao bị cáo Nguyễn Văn B cho UBND xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo Nguyễn Văn B thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án Hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự năm 2015.
2/ Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 thùng giấy Carton, đã được niêm phong có chữ ký của Giám định viên ông Đỗ Minh Q, ông Lâm Sơn D (Công an huyện T) và có đóng dấu mọc tròn của Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh, bên trong thùng Carton có chứa: 04 (bốn) hộp hình chữ nhật, bên ngoài bọc giấy nhiều màu sắc, có dòng chữ “CHONG KOL C0850".
- - Trả cho bị cáo Nguyễn Văn B: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Wave màu đỏ, biển số: 70K6-2253, số khung: RLHHC09033Y296554, số máy: HC09E0296110 nhưng được tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- - Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu S2, số seri: R5CR60D20ZP.
- - Buộc bị cáo Nguyễn Văn B nộp lại số tiền 3.500.000 (ba triệu năm trăm nghìn) đồng để nộp vào ngân sách Nhà nước. (Vật chứng đang được tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh, theo biên bản giao nhận ngày 20/6/2024).
3/ Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
Bị cáo Nguyễn Văn B phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng, tiền án phí hình sự sơ thẩm.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
4/ Quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo Nguyễn Văn B biết được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Phạm Minh Tuấn |
Bản án số 61/2024/HS-ST ngày 12/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH về buôn bán hàng cấm
- Số bản án: 61/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Buôn bán hàng cấm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn B buôn bán hành cấm
