TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 61/2024/HS-ST Ngày 12-7-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Chí Công
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hồ Thị Hoa
Bà Phạm Thanh Tuyền
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thùy Trang - Thư ký Toà án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang
- Đại diện Viện kiểm sát nhân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đông Hải - Kiểm sát viên
Ngày 12 tháng 7 năm 2024 tại Toà án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 66/2024/TLST-HS ngày 21 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 64/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
Võ Văn V, sinh ngày 12 tháng 9 năm 1997 tại A, Kiên Giang; CCCD số [...]; Nơi cư trú: ấp T, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Nông dân; trình độ văn hóa: 01/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; con ông Võ Văn N (T) và bà Huỳnh Thị T; chưa có vợ con; Tiền án: không; Tiền sự: ngày 13/9/2020, bị Công an xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản theo Quyết định số 90/QĐ-XPHC (chưa nộp phạt); Bị cáo bị tạm giữ ngày 28/01/2024, chuyển sang tạm giam ngày 01/02/2024 cho đến nay; có mặt tại phiên tòa.
Bị hại
- Chị Nguyễn Thị R, sinh năm 1996. Địa chỉ: ấp T, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang (vắng mặt).
- Chị Phan Thị D, sinh năm 1987. Địa chỉ: ấp T, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang (vắng mặt).
- Ông Nguyễn Văn N1, sinh năm 1962. Địa chỉ: ấp H, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang (vắng mặt).
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Phạm Văn N2, sinh năm 1975. Địa chỉ: ấp T, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 13 giờ ngày 23/01/2024, bị can Võ Văn V đi từ huyện C, tỉnh Kiên Giang về đến địa bàn xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang, tìm nhà dân sơ hở trong việc quản lý tài sản để trộm cắp. Đến khoảng hơn 00 giờ ngày 24/01/2024, bị can V đi bộ vào đường K hướng từ xã A, huyện U về hướng xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang, khi đi ngang nhà ông Phạm Văn N2 thì nhìn thấy cửa nhà bên hông không đóng, nên bị can V đi vào bên trong nhà, đi đến phòng ngủ của chị Nguyễn Thị R là con dâu của ông N2, bị can mở cửa phòng nhìn vào bên trong thì thấy chị R để 01 điện thoại di động hiệu VIVO V20, màu xanh đang sạc pin gần giường ngủ, bị can đi vào phòng lấy trộm chiếc điện thoại trên và cục sạc pin. Sau khi lấy trộm được điện thoại của chị R, bị can V đi ra ngoài gỡ bỏ sim điện thoại, rồi tiếp tục đi bộ về hướng xã Đ, khi đi đến cầu K bị can tiếp tục đi về hướng xã Đ, huyện A, đi được khoảng hơn 01km thì đến nhà chị Phan Thị D ở ngang sông, thuộc ấp T, xã Đ, huyện A, bị can xuống chiếc bè làm bằng thùng xốp để sang nhà chị D, nhìn thấy có người đang ngủ trên giường phía trước hàng ba nhà, bên trong mùng có để 01 điện thoại di động hiệu Samsung A21S màu xanh, bị can dở mùng lấy trộm chiếc điện thoại trên, sau khi trộm được điện thoại của chị D bị can V xuống bè kéo sang bên đường lộ và gỡ bỏ sim điện thoại. Sau đó, bị can V tiếp tục di chuyển trên đường K, khi đến nhà ông Nguyễn Văn N1 thuộc ấp H, xã Đ, huyện A, nhìn thấy cửa nhà ông N1 không đóng, cửa hàng rào chỉ buộc bằng dây không có khóa, bị can mở cửa rào đi vào, nhìn thấy ông N1 đang nằm ngủ trên giường, bên cạnh có dựng 01 chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA, số loại WAVE, màu xanh, biển kiểm soát 68M1 - 349.45, dưới chân chỗ ông N1 ngủ có để chìa khóa xe, bị can đi đến lấy chìa khóa xe rồi dẫn chiếc xe máy ra ngoài đường đi về hướng xã Đ khoảng 100 mét thì khởi động máy điều khiển xe tẩu thoát khỏi hiện trường.
Đến tối ngày 27/01/2024, bị can Võ Văn V điều khiển xe máy lấy trộm được của ông N1 đến cất giấu trong đường K, rồi đi bộ từ hướng xã A, huyện U về xã Đ, huyện A, khi đến kênh Xáng 2 bị can tiếp tục đi về xã Đ, khi đến nhà ông Trần Duy T1, thuộc ấp T, xã Đ, huyện A, nhìn thấy cửa nhà sau mở, bị can đi vào bên trong nhà để tìm tài sản để lấy trộm, nhưng chưa kịp lấy được tài sản thì bị ông T1 phát hiện bắt giữ giao cho Công an xã Đ. Tại Cơ quan Công an, bị can Võ Văn V đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản, đồng thời giao nộp lại những tài sản đã trộm cắp được gồm: 01 xe máy nhãn hiệu HONDA, số loại WAVE, biển kiểm soát 68M1 - 349.45 lấy trộm của ông Nguyễn Văn N1 và 02 điện thoại di động lấy trộm của chị Nguyễn Thị R và chị Phan Thị D.
Tại Kết luận định giá tài sản số: 09/KL-HĐĐGTS ngày 20/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện A, kết luận:
- - 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu: HONDA; số loại: WAVE, màu sơn: Xanh - Đen - Bạc, biển kiểm soát 68M1 - 349.45, số máy: JA39E1155763, số khung: 39141Y293808, có giá trị 9.000.000 đồng (Chín triệu đồng).
- - 01 (một) điện thoại VIVO V20, màu xanh mua năm 2022, có giá trị 1.000.000 đồng (Một triệu đồng).
- - 01 (một) điện thoại SAMSUNG A21S, màu xanh mua năm 2022, có giá trị 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng).
Tổng giá trị tài sản cần định giá là 11.500.000 đồng (Mười một triệu năm trăm nghìn đồng).
Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện A đã tạm giữ số vật chứng sau: 01(một) chiếc xe máy nhãn hiệu: HONDA; số loại: WAVE, màu sơn: Xanh-Đen-Bạc, biển kiểm soát 68M1-349-45, số máy: JA39E1155763, số khung: 39141Y293808; 01 (một) điện thoại VIVO V20, màu xanh; 01(một) điện thoại SAMSUNG A21S, màu xanh, sau khi phục vụ công tác điều tra và định giá tài sản đã trả lại cho những người bị hại.
Về trách nhiệm dân sự, Những người bị hại là ông Nguyễn Văn N1, chị Nguyễn Thị R và chị Phan Thị D đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường gì thêm.
Riêng ông Phạm Văn N2 cho rằng, sau khi phát hiện chị Nguyễn Thị R mất trộm tài sản, gia đình kiểm tra thì phát hiện mất trộm số tiền 10.000.000 đồng để trong phòng ngủ, nên yêu cầu bị can Võ Văn V phải bồi thường, bị can Võ Văn V không thừa nhận trộm cắp số tiền 10.000.000 đồng của ông Phạm Văn N2, quá trình điều tra Cơ quan điều tra không thu thập được tài liệu, chứng cứ gì để chứng minh nên yêu cầu của ông N2 chưa có căn cứ.
Tại Cáo trạng số 51/CT-VKS-AM ngày 13-5-2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang truy tố Võ Văn V vui về tội Trộm cắp tài sản quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa,
- - Kiểm sát viên kết luận bị cáo Võ Văn V phạm tội trộm cắp tài sản và đề nghị: Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Võ Văn V từ 06 đến 09 tháng tù; về vật chứng đã giao trả lại cho bị hại; về trách nhiệm dân sự, bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, không yêu cầu gì nên đề nghị không xem xét; đối với yêu cầu của ông N2 chưa đủ cơ sở buộc bị cáo bồi thường.
- - Bị cáo Võ Văn V thừa nhận đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản đúng như nội dung Cáo trạng và luận tội đã nêu. Trong lời nói sau cùng bị cáo trình bày đã biết lỗi, rất hối hận về hành vi của bản thân gây ra, xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
- - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông V, đề nghị xem xét việc bị cáo đã lấy số tiền của ông.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện A, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện A, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Các bị hại đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt, thấy việc vắng mặt không ảnh hưởng đến việc xét xử nên HĐXX xét xử vắng mặt đối với họ.
[2] Về hành vi phạm tội, tội danh:
[2.1] Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại và những tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, từ đó có đủ căn cứ để kết luận: Trong ngày 24/01/2024 Võ Văn V đã 03 lần thực hiện hành vi lén lút lấy trộm tài sản của người khác cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất: Vào khoảng 00 giờ ngày 24/01/2024 tại ấp T, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang, Võ Văn V lấy trộm 01 chiếc điện thoại di động hiệu Vivo 20 màu xanh của chị Nguyễn Thị R, được định giá có giá trị là 1.000.000 đồng.
Vụ thứ hai: Sau khi lấy trộm chiếc điện thoại di động của chị R thì Võ Văn V đi đến nhà chị Phan Thị D cùng ấp T, xã Đ, huyện A, Kiên Giang và lấy trộm 01 chiếc điện thoại di động hiệu Samsung A21S của chị D, được định giá có giá trị là 1.500.000 đồng.
Vụ thứ ba: Trong ngày 24/01/2024, sau khi lấy trộm điện thoại di động của chị D thì Võ Văn V đi đến nhà ông Nguyễn Văn N1 thuộc ấp H, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang lấy trộm 01 xe máy nhãn hiệu Honda, số loại Wave, màu xanh-đen-bạc, biển kiểm soát 68M1-349.45 của ông Nguyễn Văn N1 được định giá có giá trị là 9.000.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt của chị R, chị D và ông N1 theo kết luận định giá có giá trị là 11.500.000 đồng.
[2.2] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến tài sản hợp pháp của bị hại; khi thực hiện hành vi, bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự; có khả năng nhận thức được việc chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn thực hiện nên thuộc trường hợp phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp; bị cáo thực hiện hành vi lén lút để chiếm đoạt tài sản và tài sản bị cáo chiếm đoạt có tổng giá trị là 11.500.000 đồng. Do đó, Viện kiểm sát truy tố và kết luận bị cáo Võ Văn V phạm tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.
[3] Về hình phạt:
[3.1] Về tình tiết tăng nặng, tính chất của vụ án: Bị cáo 03 lần thực hiện hành vi phạm tội nhưng có 02 lần không đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự, do đó bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội 02 lần trở lên. Hành vi của bị cáo gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội ở địa phương, gây tâm lý lo lắng, bất an trong nhân dân. Do đó, HĐXX cần xử phạt bị cáo hình phạt nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội bị cáo đã gây ra, nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.
[3.2] Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện thái độ ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. HĐXX xác định đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
[3.3] Về quyết định hình phạt, HĐXX thấy bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng nhưng gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản lại tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của nhiều người nên cần áp dụng Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo bằng hình phạt tù có thời hạn nhằm cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, buộc chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn nhất định. Khi quyết định mức hình phạt thấy bị cáo thực hiện hành vi chiếm đoạt của nhiều người, gây bất an và lo lắng trong nhân dân nên cần xử phạt nghiêm khắc là phù hợp với hành vi, tính chất, mức độ phạm tội và nhân thân của bị cáo.
[4] Về trách nhiệm dân sự, tài sản bị cáo chiếm đoạt cơ quan Công an đã thu hồi và giao trả cho bị hại, bị hại không yêu cầu bồi thường gì nên không không xem xét.
Đối với việc ông N2 trình bày bị mất trộm số tiền 10.000.000 đồng và yêu cầu bị cáo phải bồi thường. Thấy rằng, bị cáo không thừa nhận, ông N2 không có tài liệu, chứng cứ gì chứng minh bị cáo có lấy trộm số tiền của ông; quá trình điều tra cũng không thu thập được tài liệu, chứng cứ chứng minh bị cáo có lấy trộm tiền của ông N2, do đó Viện kiểm sát không truy tố là phù hợp, yêu cầu của ông N2 là không có căn cứ để chấp nhận.
[5] Về vật chứng, đã xử lý xong.
[6] Về án phí, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố: Bị cáo Võ Văn V phạm tội Trộm cắp tài sản.
- Về trách nhiệm dân sự, bị hại không ai yêu cầu gì nên không xét.
- Về vật chứng, đã xử lý xong.
- Về án phí, căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, Bị cáo Võ Văn V phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
- Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 12-7-2024). Bị hại vắng mặt nên có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ./.
Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Võ Văn V 01 (một) năm tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính kể từ ngày bị cáo bị tạm giữ (ngày 28/01/2024).
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA Lê Chí Công |
Bản án số 61/2024/HS-ST ngày 12/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 61/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Võ Văn V trộm cắp tài sản
