TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
Bản án số: 61/2024/HNGĐ-ST Ngày 12-4-2024 V/v "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ÂN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Hồng Nam.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Quý Hòa;
- Bà Dương Thị Hương Giang.
Thư ký phiên tòa: Bà Võ Hồng Giang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Hằng - Kiểm sát Viên.
Ngày 12/4/2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 264/2023/TLST-HN ngày 27 tháng 12 năm 2023, về Việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2024/QĐXXST-HN ngày 15/3/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 13/2024/QĐST-HN ngày 28/3/2024, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Võ Thị Mỹ L, sinh năm 1999;
- Nơi cư trú: Khu phố Đ, phường H, TX. H, tỉnh Bình Định.
- - Bị đơn: Ông Bùi Xuân D, sinh năm 1998;
- Nơi cư trú: Thôn T, xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định.
Nguyên đơn bà Võ Thị Mỹ L có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Bị đơn ông Bùi Xuân D vắng mặt lần thứ hai không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1
Theo đơn khởi kiện ngày 27/12/2023 và biên bản lấy lời khai tại Tòa án, nguyên đơn bà Võ Thị Mỹ L trình bày:
Về hôn nhân: Bà Võ Thị Mỹ L và ông Bùi Xuân D trước khi đi đến hôn nhân đã có một năm quen biết và tìm hiểu nhau. Vợ chồng đăng ký kết hôn vào ngày 22/4/2019 tại Ủy ban nhân dân phường H, thị xã H, tỉnh Bình Định trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn, vợ chồng cùng sống ở nhà cha mẹ bà L ở khu phố Đ, phường H, thị xã H, tỉnh Bình Định. Cuộc sống vợ chồng hạnh phúc. Vợ chồng bà xảy ra mâu thuẫn từ khoảng năm 2020 cho đến nay. Nguyên nhân là do ông Bùi Xuân D không đi làm ăn, chăm lo cho cuộc sống gia đình và nuôi con cái mà chỉ lo ăn nhậu, chơi bời cùng bạn bè rồi gây nợ nần khắp nơi. Bà L và gia đình đã nhiều lần trả nợ thay cho ông D. Ông D còn thường xuyên đánh đập bà mỗi khi ông đi nhậu về. Nay bà Võ Thị Mỹ L nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng cũng không thể hàn gắn lại với nhau nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Bùi Xuân D.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Bùi Xuân K, sinh ngày 26/5/2018 hiện do bà L nuôi dưỡng. Bà L có nguyện vọng được nuôi con và không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà Võ Thị Mỹ L xác định vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngày 23/02/2024, bà Võ Thị Mỹ L có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt.
Bị đơn ông Bùi Xuân D đã được Tòa án làm thủ tục niêm yết thông báo về việc thụ lý, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và các văn bản tố tụng khác hợp lệ theo quy định của pháp luật, cũng như triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa sơ thẩm hai lần nhưng ông D đều không có mặt tại Tòa án để giải quyết vụ án. Ông D cũng không có văn bản gửi cho Tòa án thể hiện ý kiến của ông đối với yêu cầu ly hôn của bà L. Vì vậy, Tòa án căn cứ vào quy định của pháp luật để giải quyết vắng mặt ông D. Đại diện Viện kiểm sát huyện H, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Trong giai đoạn thụ lý hồ sơ, chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.
Đối với bị đơn Bùi Xuân D vắng mặt không có lý do dù Tòa án đã tống đạt và niêm yết hợp lệ giấy triệu tập, các văn bản tố tụng là vi phạm quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Vì vậy, cần áp dụng quy định của pháp luật về sự vắng mặt của đương sự để giải quyết vụ án.
Về hôn nhân: Xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng bà Võ Thị Mỹ L và ông Bùi Xuân D không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cho bà Võ Thị Mỹ L được ly hôn ông Bùi Xuân D.
2
Về con chung: Đề nghị giao 01 con chung tên Bùi Xuân K, sinh ngày 26/5/2018 cho bà L nuôi dưỡng; ông Bùi Xuân D không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn bà Võ Thị Mỹ L có đơn yêu cầu ly hôn ông Bùi Xuân D, đây là vụ án Hôn nhân và gia đình về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn ông Bùi Xuân D có hộ khẩu thường trú tại thôn T, xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hoài Ân.
[2] Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt và niêm yết hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, thông báo hòa giải cho các đương sự nhưng bị đơn Bùi Xuân D vẫn vắng mặt tại các buổi hòa giải. Nguyên đơn bà Võ Thị Mỹ L có đơn yêu cầu không tiến hành phiên hòa giải. Do đó, Tòa án không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 1, khoản 4 Điều 207 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Tại phiên xét xử lần thứ nhất, nguyên đơn Võ Thị Mỹ L đã có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt; bị đơn Bùi Xuân D vắng mặt không có lý do nên phiên tòa không thể tiến hành. Tại phiên xét xử lần thứ hai, bị đơn tiếp tục vắng mặt lần thứ hai. Đồng thời, Tòa án đã thực hiện thủ tục tống đạt, niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn nhưng bị đơn đã hai lần vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà L, ông D theo điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa bà Võ Thị Mỹ L và ông Bùi Xuân D là trên cơ sở tự nguyện, đã đăng ký kết hôn vào ngày 22/4/2019 tại Ủy ban nhân dân phường H, thị xã H, tỉnh Bình Định nên đây là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống, bà L cho rằng ông D không đi làm, chăm lo cho cuộc sống gia đình và nuôi con cái mà chỉ lo ăn nhậu, chơi bời cùng bạn bè rồi gây nợ nần khắp nơi. Bà L và gia đình đã nhiều lần trả nợ thay cho ông D. Ông D còn thường xuyên đánh đập bà mỗi khi ông đi nhậu về dẫn đến cuộc sống vợ chồng không còn hòa thuận và thường xuyên xảy ra cãi vã. Sau khi Tòa án thụ lý vụ án đã gửi giấy triệu tập hợp lệ và thực hiện thủ tục niêm yết để Tòa án hòa giải và giúp đỡ vợ chồng đoàn tụ nhưng ông D vẫn vắng mặt không có lý do. Như vậy có thể thấy, tình cảm giữa bà L và ông D đã không còn, cho dù có kéo dài thì mục đích hôn nhân cũng không đạt được nên yêu cầu ly hôn của nguyên đơn bà Võ Thị Mỹ L là phù hợp và có cơ sở được Hội đồng xét xử chấp nhận, phù hợp với quy định tại Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.
3
[4] Về con chung: Trong quá trình chung sống, bà Võ Thị Mỹ L và ông Bùi Xuân D có 01 con chung tên Bùi Xuân K, sinh ngày 26/5/2018. Hiện cháu K đang được bà L nuôi dưỡng. Bà L có nguyện vọng được nuôi con và không yêu cầu ông D phải cấp dưỡng nuôi con. Do vậy, để đảm bảo được các điều kiện chăm sóc tốt nhất cho con nên giao cho bà Võ Thị Mỹ L được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu K là phù hợp. Về cấp dưỡng nuôi con thì Hội đồng xét xử không xem xét do bà L không yêu cầu.
[5] Về tài sản chung, nợ chung: Bà Võ Thị Mỹ L xác định vợ chồng không có tài sản chung, nợ chung, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Ân là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[7] Về án phí: Bà Võ Thị Mỹ L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 238 và khoản 1 Điều 273 Bộ Luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Võ Thị Mỹ L;
Bà Võ Thị Mỹ L được ly hôn ông Bùi Xuân D.
- Về con chung: Giao 01 con chung tên Bùi Xuân K, sinh ngày 26/5/2018 cho bà Võ Thị Mỹ L trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Bùi Xuân D được quyền đi lại, thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được ngăn cản.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Vì lợi ích của con, các bên: Người thân thích của con; Cơ quan quản lý Nhà nước về gia đình; Cơ quan quản lý Nhà nước về trẻ em; Hội liên hiệp phụ nữ có quyền yêu cầu Tòa án ra quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.
4
- Về cấp dưỡng nuôi con: Không xem xét.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét.
- Về án phí: Án phí ly hôn sơ thẩm, bà Võ Thị Mỹ L nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0004559, ngày 27/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoài Ân.
- Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết theo quy định, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử phúc thẩm.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Hồng Nam |
5
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
6
7
8
Bản án số 61/2024/HNGĐ-ST ngày 12/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ÂN, TỈNH BÌNH ĐỊNH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 61/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ÂN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, nuôi con chung
